Trang nhà > Nhân văn > Hồi tưởng > Kỳ 2: CÁC THIẾT KẾ MỚI

MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

Kỳ 2: CÁC THIẾT KẾ MỚI

Hồi ức của Nguyễn Chí Công

Thứ Tư 28, Tháng Ba 2007

Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết : "...Bằng việc thành lập CCSTV, Henri và các đồng sự của mình đã mở một cánh cửa lúc đó gần như duy nhất để VN có thể liên thông với thế giới KHKT đương đại thông qua nước Pháp..."

JPEG - 24.6 kb
Đại tướng Võ Nguyên Giáp khoác tay Henri Van Regemorter (Photo: CCSTV, 1981)

Đầu năm 1978, tôi cùng một số ứng viên khác được gọi đi kiểm tra trình độ hiểu và diễn đạt tiếng Pháp. Sứ quán Pháp nằm trong một khu vườn tuyệt đẹp, có cả sân tennis, cạnh cổng là một bảng đồng ghi lại sự kiện năm 1972 bom Mỹ đã làm chết tới 6 người kể cả ông Tổng đại diện Pierre Susini. Mới tự học được vài tháng nên tôi lo lắm và thực tế đã ngúc ngắc không ít, thế mà đỗ mới lạ kỳ, có lẽ chỉ vì biết gì nói nấy.

Khi anh Vụ trưởng Hợp tác Quốc tế dặn dò các điều kiện xuất ngoại và an ninh, rồi trao hộ chiếu công vụ và tấm vé Air France có ghi giá cao hơn Aeroflot gấp mấy lần, thì tôi bắt đầu hiểu “đi Tây” khó như thế nào. Chia tay gia đình và bè bạn, tôi một mình lên đường. Lộ trình hàng không lúc đó dài hơn 4 ngày, phải đi vòng qua Trung Quốc và đổi máy bay nhiều lần. Ngay từ cửa khẩu Nam Ninh, thái độ của các nhân viên biên phòng và kiểm dịch đã cho thấy quan hệ giữa hai nước khác xa những gì báo, đài phản ánh. Bắc Kinh xám xịt trong sương giá, một cán bộ ngoại giao Việt Nam cùng lái xe ra đón tôi. Đường từ sân bay về thành phố nom rộng rãi, sạch sẽ mà sao vắng lặng lạ lùng, dường như tất cả mọi người trốn đi đâu hết. Phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình vừa quay lại nắm quyền, thông tin trong sứ quán ta trái ngược nhau, tôi nằm chờ ở đây mấy ngày nhưng không một ai cho tôi biết tới khả năng chiến tranh.

JPEG - 18.7 kb
Hoàng Thành Đào (đầu bên trái) và các thực tập sinh VN (Photo CCSTV, 1978)

Đến Paris, tôi rơi vào một thế giới khác hẳn, kinh thành này thật xứng danh "thủ đô ánh sáng" về nhiều nghĩa, song không "hoa lệ" như sách viết. Dân lành ăn mặc giản dị và gọn ghẽ, may mà tôi chưa diện cái bộ "mốt" Hà Nội vừa mới mua. Lại vẫn có một cán bộ ra đón. Anh ấy tự giới thiệu là phụ trách thực tập sinh, dọc đường vui chuyện chỉ sân bay và các khách sạn bảo: "Sợ chưa?". Tôi thật thà nói: "Roissy hiện đại và mênh mông, nhưng nông dân mất ruộng sống thế nào ở nơi phi cơ ầm ầm suốt ngày đêm?" Anh ngớ ra, rồi về đến trú quán lại ngạc nhiên lần nữa khi tôi cám ơn và trả tiền chuyên chở. Đơn giản, tôi nghĩ mình đi đâu thì da vẫn vàng, 5 năm giờ mới lại được ăn no, vậy nên cố học cái hay của họ. Suốt kỳ thực tập, tôi đã thường xuyên nộp báo cáo công tác và trích học bổng ít ỏi "đóng góp cho quê hương"... qua anh. Mấy năm sau nghe đồn anh đổi quốc tịch, lần này đến lượt tôi sững sờ vì nếu không nhầm thì đó là con một gia đình rất nghiêm túc với người cha trước kia cực kỳ quyền thế.

Video trình diễn hoạt động của Altair 8800 - chiếc máy vi tính đầu tiên của Mỹ

Thoạt tiên, kế hoạch cũ gặp trục trặc: Viện Quốc gia Nghiên cứu Tin học và Tự động học (INRIA) nay hết chỗ thực tập cho tôi, dường như họ đang ưu tiên hợp tác với người Mỹ về lĩnh vực mạng và ngôn ngữ ADA rất mới mẻ. Nhờ Alain chạy ngược xuôi thu xếp, cuối cùng tôi được Trung tâm Nghiên cứu Triển khai của Công ty Điện lực Pháp (EDF: Electricité de France) thu nhận. Ngỡ rủi hoá ra may, thậm chí đại phúc: nơi đây sẽ là cái nôi thực tiễn giúp tôi và nhiều anh chị đi sau rời bỏ tháp ngà hàn lâm để học một số quy trình công nghiệp: từ thí nghiệm, chế tạo mẫu... đến việc đưa sản phẩm vào ứng dụng hàng loạt. Xin nói thêm, lúc đó cả nước Pháp chỉ có một cỗ máy siêu tính Cray-1 duy nhất mà Quốc hội Mỹ duyệt cho EDF và ĐH Bách khoa Paris mua để dùng chung.

Độc lập nghiên cứu, tôi lao vào đọc các tài liệu quý giá của EDF và cố gắng hoà mình với tập thể mới, mặc dù tiếng Pháp còn chưa sõi. Rồi tôi nhanh chóng được chọn tham gia một dự án tự động hóa các thiết bị điều khiển lưới điện cao áp bằng vi tính. Nguyên do là trong thời gian thử việc, dựa trên kinh nghiệm từng có với VT80, tôi đã tự mình tìm hiểu bộ vi xử lý Intel 8085 có khả năng mạnh về ngắt rồi xây dựng thành công một hệ phát triển cho chip mới này. Thấy vậy, ông Rata, vị giám đốc vừa giỏi quản trị vừa mê kỹ thuật cao, đã đề nghị tôi dùng luôn hệ đó để thực hiện phần trung tâm của các thiết bị dự án và thiết kế mạch in cho các bảng mạch điện tử đó, bên cạnh 4 kỹ sư EDF thực hiện các tủ điều khiển lưới điện và cùng một số đối tác khác lập trình ứng dụng bằng ngôn ngữ bậc cao được dịch chéo (cross compiling) trên máy tính lớn. Đề nghị trên đi kèm với phụ cấp cao hơn 3 lần học bổng của tôi nên thật bất ngờ và hấp dẫn. Thấy mình có thể làm xong nhiệm vụ này trước thời hạn về nước và các mạch in sẽ cho phép sản xuất máy tính tin cậy hơn với cấu hình thay đổi dễ dàng, tôi vội bàn bạc với Alain rồi nhận lời ông Rata. Mặt khác, tôi nghĩ có lẽ không cần báo cho anh phụ trách biết việc này và tự dành một phần lớn phụ cấp để sẽ mua vật tư đem về, như thế mới có thể trực tiếp đóng góp cho quê hương đang bị cấm vận, đói nghèo và tăm tối.

JPEG - 39.8 kb
Mạch in cho VT8X do tác giả thiết kế (Photo: Nguyễn Chí Công 1978)

Trong khi gấp rút thực hiện nhiệm vụ trên, nhận thức của tôi về xã hội bên ngoài EDF còn được mở rộng, bắt đầu bằng việc có 2 vị giáo sư khoảng 50 tuổi nộp đơn xin thực tập vi xử lý sau khi từ xa đến dự một chuyên đề của dự án chúng tôi. Bên cạnh giao tiếp với giới cùng nghề, tôi cũng tìm dịp gặp gỡ những người thuộc các lĩnh vực khác trong đó có một số trí thức rất đáng kính như Alfred Kastler, Henri Carpentier, Laurent Schwartz,... mà tư tưởng nhân đạo và hành động thực tiễn của họ đã được nghe nói từ trước. Phần lớn họ đều quan tâm không vụ lợi đến Việt Nam và chỉ hỏi tôi làm cái gì, vì mục đích nào, chứ không hỏi tôi có bằng cấp đến đâu. Nhờ những nguồn thông tin khác, tôi lờ mờ hiểu ra thế nào là các mạng lưới tri thức, biết rõ hơn về lịch sử và tự đặt câu hỏi: "70 năm trước, dưới ách thực dân và phong kiến mà nước ta đã từng có các ông nghè, ông cống lập ra Đông kinh Nghĩa thục, nơi thanh niên cùng phụ lão vừa dạy vừa học, giương cao ngọn cờ "thực học, thực nghiệp, chấn hưng dân khí, hậu dân sinh...", tại sao bây giờ số đông trí thức lại ham chức sắc và lý luận suông đến thế?".

Tôi nhớ nhất kỷ niệm lần đầu tiên đi xe hoả đến nhà riêng của Henri Van Regemorter, Chủ tịch CCSTV (Uỷ ban vì sự hợp tác KH và KT với VN), và thăm Đài thiên văn giữa rừng Meudon, nơi ông làm việc đến tận khi ngã bệnh rồi ra đi vĩnh viễn ngày 24-11-2002. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết về vị GS công huân ấy như sau: "... Những năm các lực lượng thù địch cấm vận Việt Nam, bạn bè quốc tế đã giúp chúng tôi vượt qua ngăn trở này và Henri là một trong số đó. Bằng việc thành lập CCSTV, Henri và các đồng sự của mình đã mở một cánh cửa lúc đó gần như duy nhất để VN có thể liên thông với thế giới KHKT đương đại thông qua nước Pháp..." [1].

Vài tháng sau, tuyết bắt đầu rơi lạnh lẽo nhưng công việc cơ bản đã hoàn thành; ông Rata và cả những người không trực tiếp tham gia dự án đều thực sự vui mừng. Ban lãnh đạo thưởng công, cho phép tôi được quyền sử dụng các thiết kế của mình vào những mục đích phi lợi nhuận. Tôi bắt đầu tìm mua những vật tư còn thiếu và nhân bản các mạch in để đem về nước (lúc đó ở Việt Nam chưa có xưởng làm mạch in nhiều lớp với lỗ thông và tiếp điểm mạ vàng) cùng hệ phát triển.

Trước đó, ngay sau cơn lụt lớn ở Bắc Bộ, đợt thực tập sinh tiếp theo của Viện KH Tính toán và Điều khiển đã sang tới Pháp. Anh Tiễu đi Viện Toán học Ứng dụng Grenoble (IMAG), anh Vũ Duy Mẫn đến làm việc ở Viện Lập trình; còn 2 anh Thái và Đức đến chỗ tôi, được phân công thực hiện các bìa I/O và nghiên cứu hệ điều hành CP/M của công ty DRI (Digital Research Inc.), đang chạy trên các máy vi tính Mỹ. Tuy nhiên ngày ấy còn rất hiếm thông tin sâu về công nghệ mới, thí dụ sau này tôi mới biết chính năm 1978, Rivest, Shamir và Adleman đã tìm ra giải thuật mật hoá RSA. Hãng R2E lúc đó cũng đang nổi tiếng nhất nhì thế giới nhờ dòng máy tính Micral do anh André Trương (người gốc Việt) cùng các kỹ sư Pháp làm ra từ rất sớm, thế mà chúng tôi cũng không tìm được đầy đủ tài liệu của họ để học tập.

Tôi còn cùng anh Mẫn (vốn học ở CHDC Đức) sang thăm Đông Berlin, nhân tiện ghé tìm tài liệu của Viện Hàn lâm Khoa học nhưng chỉ photocopy được vài trang thư mục về lý thuyết lập trình của Mỹ. Mục kích sự kiểm tra biên phòng vô cùng ngặt nghèo, rồi vụ bắt bớ các thực tập sinh Đông Đức ở Pháp, tôi rất sợ cho việc mình đang làm, nhưng cũng không thể nào ngờ bức tường bê tông Berlin sẽ có ngày sụp đổ. Tuy nhiên, tôi vẫn cứ tiếp tục săn tìm các vật tư còn thiếu cho kế hoạch sản xuất loạt máy vi tính VT8X dự kiến cho khi trở về Tỏ quốc.

Nguyễn Chí Công (Tạp chí Tin học & Đời sống Xuân Đinh Hợi)

Xem tiếp Kỳ 3: SẢN XUẤT VÀ ỨNG DỤNG


Xem online : Kỳ 1: Chiếc máy vi tính đầu tiên của Việt Nam


[1N.C.Công trích dịch từ "Viet Nam, une coopération exemplaire..." (nhà xuất bản L’ Harmattan, Paris, 2004). Xem thêm: http://www.ccstvn.org/index.php?option=com_content&task=view&id=91&Itemid=226