Trang nhà > Vui sống > Du lịch > Lam Kinh (Thanh Hóa)

Lam Kinh (Thanh Hóa)

Thứ Tư 21, Tháng Chín 2011

Lam Kinh là nơi lớn lên, khởi nghĩa và an táng của anh hùng dân tộc Lê Lợi. Năm nay Thanh Hóa tổ chức Lễ hội Lam Kinh trong các ngày 18 và 19/9 (tức ngày 21 và 22/8 âm lịch).

Lam Kinh xưa thuộc các làng Cham, làng Dào, làng Choán, nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Lam Kinh được xây dựng từ năm 1433, với cung điện vàng son uy nghi tráng lệ giữa núi rừng hiểm trở, nơi đã diễn ra cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn năm 1418. Lễ hội Lam Kinh bắt đầu hình thành và được tổ chức từ sau khi vua Lê Thái Tổ băng hà vào ngày 22 tháng 8 năm Quý Sửu (năm 1433) và thi hài được đưa về an táng tại quê hương Lam Sơn. Ðể thuận lợi cho việc cáo yết tại lăng miếu, các triều vua đã cho dựng điện và các tòa Thái miếu để thờ cúng.

Mặc dù rất nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng cho tới tận ngày nay, nhưng trên thực tế lễ hội Lam Kinh chỉ phồn thịnh được khoảng hơn 100 năm, dưới sự trị vì của các thời vua Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông và Lê Thánh Tông. Bắt đầu từ thời Lê Hiến Tông đến thời Lê Chiêu Thống, lễ hội Lam Kinh chuyển dần từ lễ hội cung đình sang lễ hội dân gian. Đến cuối thế kỷ XVIII, vì nhiều lý do khác nhau, lễ hội Lam Kinh không còn được tổ chức nữa.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, thời gian các vua Lê về Lam Kinh là thời gian diễn ra lễ hội Lam Kinh. Các kỳ xa giá về Lam Kinh, các vua Lê đều “làm lễ yết lăng miếu”, “tế tổ”, “bái yết sơn lăng”, “làm lễ tấu cáo”, “bái yết Lam Kinh” và “bái yết lăng miếu”.

Phần lễ ở Lam Kinh do vua Lê chủ trì, theo Lịch triều Hiến chương loại chí (Phan Huy Chú) có thể tóm tắt lại như sau:

  • Phần bái yết sơn lăng: Lễ bái yết được tiến hành trước lăng mộ của các vị tiên tổ theo thứ bậc. Nội dung bái yết là thắp hương hành lễ (dâng lễ vật và cúng tế). Trong hành lễ có đọc văn bia ở các mộ có bia.
  • Phần tế tổ: Tổ chức Đại lễ theo nghi lễ Triều Lê. Đây là phần quan trọng nhất trong nội dung lễ hội Lam Kinh cho nên trừ vua, ai sai phạm, dù là lỗi nhỏ, đều bị phạt tiền hay biếm truất.
  • Phần ban thưởng: Đây là phần cuối của lễ hội Lam Kinh được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư, lệ ban thưởng do vua chủ trì gồm 2 phần:

+ Ban thưởng cho quan chức theo hầu; ban thưởng cho người trong gia tộc; ban thưởng cho dân chúng theo sự tấu trình của các quan địa phương; tri ân tưởng lệ người có công đức với sự nghiệp vua Lê.

+ Ban bố các điều bổ sung vào viêc tu sửa, tôn tạo hay đặt ra các điều cấm kỵ về khu vực Lam Kinh, cất nhắc những người coi sóc Lam Kinh…

Lễ hội Lam Kinh thể hiện triều nghi của nhà nước phong kiến tập quyền đang trên đường phát triển, hoàn toàn khác với lễ hội dân gian.

Tuy là lễ hội cung đình, song nó cũng tác động và ảnh hưởng đến đời sống dân gian. Trong không gian nông nghiệp của xứ Thanh ngày ấy, vốn tĩnh lặng, thanh bình, thuần phác, việc xa giá vua quan nườm nượp rộn ràng làm cho cuộc sống sôi động hẳn lên, những hoạt động giải trí, trò chơi dân gian, lời ca tiếng hát được vang lên khắp xóm làng.

Tất cả những hoạt động tưng bừng náo nhiệt đó, mặc nhiên thúc đẩy không khí hội hè ở các làng quê xứ Thanh bổ sung cho phần tế lễ ở Lam Kinh làm thành Lễ hội Lam Kinh độc đáo, nhiều màu sắc…

Thời đại có thể thay đổi, nhưng truyền thống tôn vinh anh hùng dân tộc, uống nước nhớ nguồn trong dòng chảy truyền thống là cơ sở để lễ hội truyền thống Lam Kinh duy trì và tồn tại. Từ năm 1995 đến nay, lễ hội Lam Kinh đã được tổ chức thường xuyên hàng năm với quy mô lớn và ngày càng có sức cuốn hút, lan tỏa tới nhiều vùng, miền, thu hút du khách ở trong nước và ngoài nước.

Lễ hội tái hiện nhiều nghi thức tế lễ thời Lê như: Màn trống hội có biểu diễn đánh trống đồng và trống da các loại, trình diễn cờ hội, rước kiệu cũng các nghi thức tế lễ từ thời vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông truyền lại. Phần hội là các chương trình nghệ thuật thể hiện các sự kiện lịch sử trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn: Hội thề Lũng Nhai, Lê Lai cứu chúa, giải phóng thành Đông Quan, vua Lê Thái Tổ đăng quang, phát huy hào khí Lam Sơn… Trong thời gian lễ hội còn có những trò chơi, trò diễn truyền thống của xứ Thanh như: trò Xuân Phả, trò Chiêng, trò Sanh Ngô, dân ca Đông Anh, dân ca Sông Mã, thi đấu vật, đấu võ dân tộc…

Source: blog Huy Minh