Xem lẹ

Trang nhà > Bạn đọc > Kẻ trong cuộc > Léopold Cadière và hội nhập văn hoá: một kinh nghiệm loan báo Tin (...)

Léopold Cadière và hội nhập văn hoá: một kinh nghiệm loan báo Tin Mừng

Thứ Ba 21, Tháng Chín 2010

ĐÔNG TÁC: xin giới thiệu phần cơ bản của bài tham luận do GM Nguyễn Thái Hợp trình bày tại Hội thảo Thân thế và Sự nghiệp Linh mục Léopold-Michel Cadière, Huế 7-9/9/2010.}

JPEG - 155.2 kb
Léopold-Michel Cadière

Trong suốt 350 năm rao giảng Tin Mừng tại Việt Nam, có bao nhiêu thừa sai hội đủ những điều kiện đó? Phải thành thật công nhận rằng kinh nghiệm loan báo Tin Mừng trong lãnh vực văn hoá của Cadière là một trường hợp độc đáo và khá hiếm hoi tại Việt Nam.

3- Trở nên người Việt với người Việt

Linh mục Léopold Cadière đặt chân đến Việt Nam năm 1892, lúc mới 23 tuổi đời và được bổ nhiệm phục vụ tại giáo phận Huế. Vào giai đoạn đó, “đại đa số các thừa sai cao niên rất thông thạo tiếng Pháp. Nhưng nhiều vị chỉ biết qua loa tiếng Việt và chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện nghiên cứu cấu trúc của nó”. Có những thừa sai chỉ hiểu sơ sơ những câu nói thông thường và hầu như không thể nói tiếng Việt, nên luôn luôn phải có thông dịch viên [1].

Thể theo đường hướng nhập thể của Đức Giêsu và nguyên tắc hội nhập của vị đại Tông đồ Phaolô “Do Thái với người Do Thái, Hy Lạp với người Hy Lạp”, L. Cadière quyết định “trở nên người Việt với người Việt”. Cha quyết tâm chọn Việt Nam làm quê hương và cống hiến cả hồn lẫn xác cho miền đất rất thân thương, nhưng quá nhiều khốn khổ này. Đến giai đoạn cuối đời, khi bị quản chế tại Vinh cùng với sáu thừa sai khác (1947-1953) và khi Chính quyền Cách mạng đề nghị các vị trở về Pháp, cha nhất định xin ở lại để được cùng sống chết với anh chị em Việt Nam: “Cả đời tôi, tôi đã dâng cho xứ sở này. Cho tôi được ở lại và chết ở đây”.

Đâu là lý do của sự chọn lựa khác thường này? Năm 1942, nhân dịp kỷ niệm năm mươi năm thụ phong linh mục, Cadière hé mở cho chúng ta thấy động lực thâm sâu dẫn cha đến quyết định học tiếng, nghiên cứu tôn giáo, văn hoá và lịch sử Việt Nam để rồi gắn bó, yêu thương và nhất quyết sống chết với những người dân hiền lành, cần cù, dễ thương… nhưng lại quá lao đao, khốn khổ. Nhìn lại tất cả quãng đường hội nhập cam go, Cadière chân thành thổ lộ nỗi niềm tâm sự đối với tiếng Việt và người Việt:

“Tôi hiểu người Việt, bởi vì tôi đã nghiên cứu những gì liên quan đến họ. Tôi đã học tiếng Việt ngay từ khi mới đặt chân đến nơi đây và hiện nay tôi vẫn tiếp tục học, và tôi nhận thức rằng tiếng Việt rất tế nhị về phương diện cấu trúc, rất phong phú về phương diện ngữ vựng, mà đến nay nhiều người vẫn lầm tưởng coi thường… Tôi đã nghiên cứu lịch sử Việt Nam và tôi thấy rằng, suốt những thế kỷ dài, đặc biệt từ khi thành lập triều Nguyễn, nước Việt được chống đỡ bởi lý tưởng cao cả về phát triển và tiến bộ […].

Tôi yêu người Việt vì họ thông minh và lanh lợi […]. Tôi yêu người Việt vì những đức hạnh của họ [...]. Tôi yêu người Việt vì tính tình của họ […]. Cuối cùng, tôi yêu người Việt vì những bất hạnh của họ. Biết bao khổ đau: biết bao cực nhọc, biết bao khốn khổ của người dân Việt, những nỗi cực nhọc đôi khi chính đáng, nhưng thông thường là do số phận hay một định mệnh nghiệt ngã nào đó!” [2].

Ngay từ khi mới đặt chân đến Việt Nam, Cadière đã ao ước “trở thành đồng hương” của những người dân hiền lành và chất phác ở Bình-Trị-Thiên, những con người mà cha có sứ vụ loan báo Tin Mừng và hết lòng yêu thương [3]. Cha ước mong không những làm sao nói sõi tiếng Việt, mà còn có thể suy tư bằng tiếng Việt và thấu hiểu “cái hồn” của nó. Chính vì vậy, cha quyết định học tiếng Việt một cách nghiêm túc, nghiên cứu kỹ lưỡng cách phát âm, cấu trúc, ngữ pháp, ngữ nghĩa và tinh thần của tiếng Việt [4].

Trên thực tế, Cadière đã cống hiến tất cả cuộc đời cho ngôn ngữ học nói riêng và cho dân tộc Việt Nam nói chung. Cha say mê “quan sát cặn kẽ những sự kiện quan trọng trong từng lời ăn tiếng nói của người Việt mà không vướng bận bất cứ một định kiến sai trái nào của người châu Âu, kể cả những điều mà họ tin là “hợp lý”“văn minh” nhất” [5].

Khi đọc các quyển sách của người Pháp viết về tiếng Việt, Cadière nhận thấy “một sai lầm chủ quan” chung của các tác giả này là nhìn tiếng Việt theo lăng kính của người châu Âu, vì thế thường xử lý các vấn đề ngữ pháp tiếng Việt đứng trên quan điểm ngữ học của người Pháp: “Những quyển sách ấy vốn được viết ra để giúp người Pháp học tiếng Việt, cho nên đều xử lý các vấn đề ngữ pháp theo quan điểm của người Pháp, căn cứ vào cách nói của họ, cách sắp xếp ngôn từ của họ, cách tư duy của họ. Họ trình bày như thể tiếng Việt Nam cũng có một cấu trúc y hệt như tiếng Pháp. Và lạ hơn nữa là ngay những quyển sách ngữ pháp do chính người Việt soạn cho học sinh người Việt học cũng được viết y hệt như thế. Cho đến nay vẫn chưa có một ai nghĩ đến việc soạn ra một quyển sách ngữ pháp tiếng Việt dựa trên cơ cấu của chính tiếng Việt để dẫn dắt người học đến chỗ tư duy thực sự bằng tiếng Việt” [6]. Và Cadière nhắc lại với các đồng hương đang nghiên cứu tiếng Việt: “Đừng quên rằng lối diễn tả và cấu trúc của tiếng Việt hoàn toàn khác với tiếng Pháp, tinh thần người Việt đi theo một lộ trình khác với người Pháp” [7]

Léopold Cadière đã chọn lựa một phương pháp khác: Nghiên cứu tiếng Việt từ lời ăn tiếng nói của người Việt, cố gắng tư duy bằng chính tiếng Việt và lấy cái quan điểm chủ quan của người Việt làm thước đo. Theo cha, mỗi ngôn ngữ có những đặc trưng riêng và các thứ tiếng trên thế giới có thể khác nhau một cách bất ngờ không sao tưởng tượng được. Không bao giờ có thể lấy ngôn ngữ châu Âu làm thước đo cho ngôn ngữ Á Đông. Mỗi ngôn ngữ hình thành và phát triển như một gia tài văn hoá độc đáo, một sản phẩm chung của nhân dân. Do đó, qua tiếng nói hàng ngày người ta khám phá cái hồn và những quy tắc ngữ pháp riêng của mỗi ngôn ngữ.

Với định hướng đó, Cadière hết sức trân trọng kho tàng văn học dân gian (ca dao, tục ngữ, hò vè, chuyện dân gian…), đồng thời hăng say đi vào lòng đại chúng, cẩn thận ghi chép từng lời ăn tiếng nói của họ, không bỏ qua một sắc thái nào của ngôn ngữ đời thường, bởi vì ngôn ngữ là cái gương phản chiếu tâm thức của một dân tộc.

Trong lời tựa cuốn “Syntaxe”, Cadière giải thích lập trường và phương pháp nghiên cứu của cha như sau: “Trong chừng mực có thể được, tôi cố sao đứng trên quan điểm của tiếng Việt: nghĩa là không trình bày cho người học biết rằng muốn diễn đạt ý của một câu, lối nói của người Pháp bằng tiếng Việt thì phải nói hay viết như thế nào, mà chỉ lấy những câu, những kiểu nói của chính người Việt nói ra để vạch rõ cái giá trị của câu nói đó được dùng làm phương tiện để diễn đạt ý nghĩ gì: đó chính là cách dạy cho người ta biết được một thứ tiếng. Còn cách kia chỉ là một cái mẹo để dẫn dắt lừa kéo xe, có thể rất có ích lúc ban đầu, nhưng không bao giờ có thể làm cho người ta ý thức được cái thần của một ngôn ngữ” [8].

Vào giai đoạn đó, quan niệm văn hoá này đề cao “cái có” và “dĩ Âu vi trung” đang ngự trị. Nói đến “văn hoá“ không những người ta thường nghĩ lớp người có học, có kiến thức, thuộc tầng lớp ưu tú và được ưu đãi trong xã hội, đối lập với đám lê dân, phàm phu tục tử, mà còn so sánh giữa các dân tộc nữa. Người La Mã vẫn coi những người sống bên ngoài đế quốc của họ là bọn “man di, mọi rợ”. Người Trung Hoa cũng nghĩ như vậy khi tự cho mình là “tinh hoa của nhân loại”, còn các dân tộc khác là chỉ bọn “bán khai” hay “man di, mọi rợ”. Và người châu Âu tự nhận là những dân tộc văn minh cao có sứ mạng khai hoá các dân tộc khác.

Cadière là một trong số các tác giả tiến bộ lúc đó đã cho rằng văn hoá phản ảnh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như các cộng đồng. Nó bao gồm nhiều yếu tố độc đáo, phức tạp, phong phú và cấu tạo nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ cũng lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình. Chính vì vậy, có rất nhiều văn hoá khác nhau, do đó cũng có nhiều khái niệm và định nghĩa về văn hoá [9].

4- Tôn trọng nét độc đáo của mỗi niềm tin

Một đóng góp quan trọng khác của Cadière cho công tác nghiên cứu dân tộc học và tôn giáo học tại Việt Nam đó là gắn liền niềm tin tôn giáo với truyền thống văn hoá dân tộc. Văn hoá mang ý nghĩa tổng quát và bao trùm trên cuộc sống con người. Văn hoá chính là cách thế riêng biệt để hiện hữu, để làm người cũng như để biểu lộ những mối tương quan với Trời, Đất và Người. Do đó, văn hoá là chìa khoá giúp chúng ta hiểu được nếp sống tôn giáo của người Việt Nam.

Chính từ quan điểm đó, khi nghiên cứu tôn giáo ở Việt Nam, Cadière đã nhận ra ngay tính đặc thù, đa dạng, phong phú, phức tạp, trộn lẫn hài hoà, chằng chịt các mối tương quan… khiến người ta có cảm tương như bị lạc vào núi rừng Trường Sơn: “Tôn giáo người Việt, với giả thiết người ta có thể dùng ở
số ít, cho ta cái cảm giác tương tự như khi ta lạc vào núi rừng Trường Sơn: đó đây, những thân cây khổng lồ mà rễ của chúng đâm tới đâu nào ai biết được và chúng đỡ nâng cả một vòm lá phủ tràn bóng mát; những cành cây sà xuống mặt đất và đâm rễ chằng chịt; dây leo bò từ cây này sang cây khác, mà người ta chẳng biết chúng khởi đầu từ đâu và dường như cũng chẳng biết chúng đi về đâu […]; những chồi non thanh tao hiếm thấy; những bông hoa đại đoá, những bông hoa lạ lùng phủ đầy mặt đất, điểm rộ những chóp cây cao bát ngát như cả một tàn lửa hoặc nép mình giữa hai nạng cây; những vỏ cây sần sùi, đen đủi, nhầy nhụa gây khiếp đảm…”
.

“Cũng thế, đối với người Việt Nam, thuộc tất cả các tầng lớp xã hội, tâm tình tôn giáo biểu lộ một cách mãnh liệt và chế ngự toàn diện cuộc sống: nó thấm nhập các hành vi thường nhật, từ những cái lớn nhất cho đến những cái tầm thường nhất, nơi những mạng lưới sít sao trong thực hành. Khi thì nó bộc lộ giữa thanh thiên bạch nhật, trong vẻ tráng lễ của các nghi lễ chính thức, nơi các đình chùa được nhà nước công nhận, khi thì âm thầm, lén lút, nơi gốc cây, hòn đá. Cũng có lúc người ta khấn vái kêu cầu, bằng ngôn ngữ trang trọng, kèm theo âm nhạc và vũ khúc, nhưng cũng có lúc người ta chỉ lâm râm khấn vái khi đi ngang qua ngôi miếu đáng sợ, hoặc chỉ đơn thuần phát lời nguyện ước thâm sâu tự đáy lòng. Người ta bái lạy, một cách chậm rãi, trang nghiêm, tôn kính, cúi đầu cung kính với áo thụng bằng lụa, khăn mão uy nghi; hoặc tìm đến thầy bói mù loà, cô đồng ngây ngất bí ẩn, hay tìm đến thầy bùa, thầy pháp, bói quẻ chân gà, xin xăm xin thẻ ở sãi nhà chùa […]. Và cái đa dạng khách quan ấy phức tạp thêm bởi một chuỗi thực hành ở các địa phương mà người ta khó lòng nghiên cứu tường tận. Tất cả giống như một cánh rừng lớn ẩn chứa nhiều loại thảo mộc mà chẳng ai biết được” [10].

Mặc dù là một người châu Âu và hơn nữa một thừa sai Công giáo, L. Cadière không gay gắt chỉ trích, phê phán, kết án hay chế nhạo các hình thức thờ bái mang dáng vẻ ma thuật hay các tập tục có vẻ “ấu trĩ” của tôn giáo bình dân. Trái lại, cha cố gắng tìm hiểu ý nghĩa của chúng và coi chúng như một cách thế văn hoá riêng biệt để diễn tả niềm tin nơi Đấng Toàn Năng. Trong “Chỉ dẫn thực hành cho các thừa sai” cha đề cập đến thái độ tôn trọng đối với các biểu hiện tình cảm tôn giáo của dân Việt: “Nhà thừa sai dấn thân vào lãnh vực nghiên cứu tôn giáo cần phải hiểu biểu hiện lịch sử kỳ lạ nhất, những giải thích kỳ quặc nhất, những niềm tin đáng ngạc nhiên nhất. Ông nên lắng nghe tất cả với sự tò mò thích thú. Ông cần bắt chước các bác sĩ, khi đi khám bệnh luôn hỏi han bệnh nhân, kích thích lời giải thích, không bao giờ ngắt lời họ, không nói ngược lại họ, ngay cả khi họ kể lể những nỗi đau đớn tưởng tượng, hoặc sai lầm trong những chi tiết và những kết luận về tình trạng sức khoẻ của mình. Nhà thừa sai không bao giờ được quên rằng những niềm tin mà người ta trình bày với ông là chân thành. Chúng biểu lộ một trong những tình cảm cao đẹp nhất của nhân loại, tình cảm tôn giáo, và dưới danh hiệu này, chúng có quyền được tôn trọng. Do đó không bao giờ được chỉ trích, chế giễu một cách ác ý” [11].

Cadière cần mẫn đi điền dã, tỉ mỉ ghi chép, kiên nhẫn quan sát và nhận ra nhiều sắc thái, nhiều cấp độ biểu lộ niềm tin tôn giáo ở Việt Nam. Cha trân trọng tất cả những hình thức biểu lộ niềm tin tôn giáo rất đa dạng ấy. Tuy nhiên, trong “cánh rừng tôn giáo” vừa bao la, vừa bí ẩn đó, cha sáng suốt nhận ra nhiều cấp độ và phận vị khác nhau. Việc tế Trời, cầu Trời với việc cúng tế quỷ thần là một thí dụ điển hình. Vì vậy, cha viết: “Khi người ta cầu khấn Trời, đơn giản họ chỉ cầu xin. Nhưng khi họ cầu khấn quỷ thần hoặc vong linh người chết thì việc cầu xin lại đi đôi với lễ vật dâng cúng như để tạ ơn hoặc nguôi lòng họ. Quả thật cung cách ấy hàm ý một sự khác biệt đối với quỷ thần và vong linh của người quá cố […]. Cả hai cách xử thế có lẽ phản ánh tín ngưỡng nguyên thủy của người Việt, như đặt trời vào vị thế cao hơn nhiều so với các thần linh và vong linh. Chúng ta có thể khẳng định rằng chỉ ngần ấy đủ để đặt Trời ở một địa vị bên trên thần linh và vong linh, một hữu thể hoàn toàn siêu việt” [12].

Với cái nhìn rộng mở và sự trân trọng tính cá biệt nơi mỗi văn hoá, cũng như mỗi tôn giáo, Léopold Cadière đã khám phá những nét rất độc đáo của tâm hồn người dân Việt. Dưới con mắt của cha, người Việt là một con người tâm linh, một hữu thể tôn giáo. Trong “Triết lý dân gian Việt Nam”, cha nhận định sâu sắc: “Trong cuộc sống của người Việt Nam, chẳng một điều gì thoát khỏi ảnh hưởng của tôn giáo. Tôn giáo chiếm hữu họ ngay từ khi mở mắt chào đời, dẫn dắt họ đi suốt đường đời cho đến lúc nhắm mắt. Thậm chí, cả ngay sau khi đã ly trần, tôn giáo vẫn còn phủ bóng trên họ. Khi nhận ra nguồn cội sâu xa mà các thần linh thuộc thế giới siêu nhiên đã gieo vãi trong tâm hồn người Việt Nam, người ta không thể phủ nhận rằng dân tộc này là một dân tộc hết sức sùng đạo”.

Dựa trên những phân tích khách quan tình cảm tôn giáo của người Việt Nam, Cadière đi đến một kết luận đầy cảm xúc: “Trước tiên cần phải công nhận rằng người Việt sống trong thế giới siêu nhiên. Nói chung, người Âu châu khó mà hiểu được tâm trạng này, bởi vì bên trời Âu, ngay cả khi còn sót lại một số thực hành hay thậm chí một vài niềm tin, thì cũng thường tự giới hạn trong một số giới hạn về thời gian hay không gian và họ chỉ dành cho nó một vài phút trong ngày, một phần không đáng kể trong hoạt động của mình. Người châu Âu, cho dù sùng đạo, vẫn không sống toàn bộ thời gian với Thượng Đế của mình. Người Việt, ngược lại, bất cứ thuộc tầng lớp xã hội nào, đều cảm thấy mình thường xuyên tiếp cận với các thần thánh trong thiên nhiên” [13].

5- Vị thừa sai và nhà nghiên cứu

Cũng như tất cả các thừa sai khác, ước nguyện thâm sâu của cha Cadière vẫn là trở thành thánh nhân. Cha quan tâm đến việc thánh hoá bản thân và từng khắc khoải đặt vấn đề: “Tại sao tôi không phải là một vị thánh?” Nhớ lại câu chuyện thánh Phanxicô đã ném cả gia tài vào lửa để thanh thản bước theo Đức Kitô, cha cũng băn khoăn tự vấn lương tâm về những gắn bó bản thân đối với các tác phẩm của mình: “Liệu tôi có dám sẵn sàng đốt cháy công trình nghiên cứu của tôi về “Phương ngữ Bắc Trung Bộ” hay “Lịch sử tỉnh Quảng Bình” không?”

Trong thực tại cuộc sống, không phải lúc nào cũng dễ dàng dung hoà sứ vụ của nhà thừa sai với vai trò của nhà nghiên cứu, đặc biệt là trong giai đoạn cha phải đảm nhiệm chức vụ quản hạt ở Di Loan. Cha quyết tâm không để công tác nghiên cứu làm phương hại đến trách nhiệm mục tử. Nhưng vẫn còn lại đó những nuối tiếc, dằn vặt về việc phải mất quá thời giờ vào “những chuyện đẩu đâu”! Trong “Phác thảo về nhà Truyền giáo và công tác nghiên cứu”, cố Cả Cadière đã chân thành bộc lộ nỗi niềm tâm sự:

“Có những lúc – Chúa ôi, rất hiếm – những đám đông kia tự mình chuyển động. Với tác động của ơn sủng, người ta chẳng hiểu như thế nào và tại sao mà có nhiều người chạy đến với nhà truyền giáo để xin được ảo ban dạy dỗ và xin được phép rửa tội. Thế là, công việc ở đâu bỗng dưng ngập lên đầu nhà truyền giáo. Dễ hiểu thôi, bởi vì hễ nói tới tân tòng là phải nói đến hàng loạt những công việc bề bộn khác. Chẳng hạn, dạy dỗ, kiểm tra, lui tới những giáo đoàn mới để vực dậy sự dũng cảm của người yếu đuối và bảo vệ họ chống lại những điều phiền nhiễu, làm cho ra lẽ những vụ kiện cáo và những bách hại mà họ thường là mục tiêu; quan hệ xã hội với các viên chức để họ tôn trọng các quyền lợi chính đáng; viết thư khuyên răn, cổ vũ việc siêng năng kinh hạt cầu nguyện và ra tay giúp đỡ cả những người khốn khổ nữa. Đây thật là một đời sống nhiệt thành, một nhiệt thành thánh thiện, bởi vì làm theo ý Chúa. Phải thành thật nhìn nhận rằng cách sống như vậy chỉ dành dụm được rất ít thời gian cho việc nghiên cứu. Làm sao có thể rảnh trí để nghiên cứu trong khi cứ phải chạy tới chạy lui như con thoi, trong khi vẫn có nhiều người muốn đến gặp gỡ? Thật khó mà có thể duy trì tâm trí trong sự bình an được…” [14].

Bất chấp mọi khó khăn và nghịch cảnh, Cố Cả Cadière đã hoàn thành tốt đẹp cả hai sứ vụ: nhà thừa sai gương mẫu và nhà nghiên cứu nghiêm túc. Chính tình yêu chân thành và sâu đậm của cha đối với con người Việt Nam đã biến cha thành một vị thừa sai gương mẫu, cũng như một nhà dân tộc học can đảm đi tiên phong và khai mở nhiều lãnh vực. Nhất là, đã cống hiến trọn cuộc đời cho dân Việt Nam và nhất quyết chọn vùng đất khốn khổ này làm quê hương.

Một điều mang ý nghĩa và có quan trọng hơn cho công tác loan báo Tin Mừng đó là thực hiện sự kết hợp hài hoà giữa trách nhiệm thừa sai và công tác nghiên cứu văn hoá – tôn giáo. Cha Cadière đã cố gắng thực hiện công tác này và cho thấy cả hai liên kết và hỗ trợ đắc lực cho nhau, bởi vì muốn rao giảng Tin Mừng cho một dân tộc thì trước tiên phải hiểu con người và văn hoá của một dân tộc đó, mà muốn hiểu văn hoá của dân tộc nào thì điều kiện tiên quyết là phải am tường ngôn ngữ của họ, hơn nữa cần phải cảm nhận được “cái hồn” của ngôn ngữ đó. L. Cadière nêu ví dụ dí dỏm về tiếng “dạ”. Người bình dân Bình Trị Thiên thường trả lời các câu hỏi bằng tiếng “dạ” lễ độ và rất dễ thương. Nhưng tiếng “dạ” này rất hàm hồ và dị nghĩa: đôi khi mang ý xác định, nhưng thông thường là câu trả lới lễ độ của người bề dưới đối với bề trên. Do
đó, tiếng “dạ” có nghĩa là “phải, đúng vậy”, nhưng cũng có nghĩa là “tôi không hiểu” hoặc “tôi không biết điều ông hỏi tôi”. Vì vậy, Cadière nghi ngờ giá trị khoa học của một số nhà trí thức mới đặt chân đến Đông Dương, một chữ tiếng Việt bẻ đôi cũng chưa biết, thế mà đã cho ra đời những ấn phẩm về văn hoá và tôn giáo Việt Nam!

Đối với lãnh vực tâm linh thì vấn đề càng tế nhị và khó khăn hơn. “Để có thể cảm nhận những sắc thái tinh tế và thâm sâu của tình cảm tôn giáo thì phải biết những sắc thái của ngôn ngữ. Để hiểu đúng đối tượng của một niềm tin, cần phải hiểu thấu đáo ý nghĩa của những từ diễn tả niềm tin này. Để đi sâu vào những uẩn khúc của tâm thức tôn giáo, cần phải đặt rất nhiều câu hỏi một cách rõ ràng, nhưng với tất cả sự tinh tế, mà một người chỉ bập bẹ tiếng Việt không thể làm được” [15].

Trong viễn cảnh đó, cha Cadière nêu rõ mối tương quan giữa nghiên cứu văn hoá- tôn giáo với công cuộc loan báo Tin Mừng. Trả lời cho những người lo ngại rằng việc nghiên cứu này đã đi lệch hướng, làm biến chất ơn gọi thừa sai và không thực hiện công tác loan báo Tin Mừng theo nghĩa chặt, cha Cadière quả quyết rằng “nhà thừa sai chuyên tâm nghiên cứu tôn giáo thực hiện đúng đắn công tác truyền giáo theo nghĩa là ông sẽ gia tăng những phương tiện hoạt động và giúp các đồng nghiệp dễ dàng chu toàn sứ vụ. Ông sẽ thực hiện công tác truyền giáo trong sứ vụ nghiên cứu của mình” [16].

......

GM Nguyễn Thái Hợp, O.P.


Xem online : TỪ LÉOPOLD CADIÈRE, NGHĨ VỀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA CÁC GIÁO SĨ THỪA SAI VỚI NGHIÊN CỨU VIỆT NAM


[1L. Cadière, Souvenirs d’un vieil annamitisant, Tạp chí Indochine, Ha Noi, 12-2-1943, số 129, tr. 3.

[2Cadière, Croyances et pratiques religieuses des Vietnamiens, Q. I, Préface VII, VII, IX.

[3L. Cadière, Souvenirs d’un vieil annamitisant.

[4L. Cadière, Souvenirs d’un vieil annamitisant, Tạp chí Indochine, Ha Noi, 149, 8-7-1943, tr. 7-9.

[5Cao Xuân Hạo, Những công lao bị quên lãng, Nghiên Cứu Huế, NXB Thuận Hoá, Tập Bảy 2010, tr. 392.

[6L. Cadière, Souvenirs d’un vieil annamitisant, sđd., tr. 7-8.

[7Ibidem, tr. 9.

[8L. Cadière, Syntaxe de la langue vietnamienne, École Française d’Extrême Orient, Paris, 1958, tr. XXIV.

[9Xem Phạm Cao Dương, Nhập môn Lịch sử các nền Văn minh Thế giới, Sàigòn, 1972; Nguyễn Văn Huyên, Văn minh Việt Nam, NXB Hội Nhà Văn, 2005; Đào Duy Anh, Việt Nam văn hoá sử cương, Nxb Hội Nhà văn, 2000 ; Trần Ngọc Thêm, Tìm về Bản sắc Văn hoá Việt Nam, Nxb Tp HCM, 1997; Đỗ Trọng Huề, “Văn hoá và văn chương”, Đặc san Gió Việt 1998, Calgary, Canada; Mặc Giao, Một cách nhìn về Văn hoá Việt Nam, Tin Vui, Hoa Kỳ, 2004; Trần Văn Toàn, Đạo trung tùy bút, NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2008.

[10L. Cadière, “La réligion des Annamites”, trong Croyances et pratiques religieuses des Vietnamiens, T.I, Saigon 1958, tr. 1-2.

[11L. Cadière, “Instructions pratiques pour les missionnaires… “, trong Croyances et pratiques religieuses des Vietnamiens, T.III, tr. 246.

[12Cadière, Về văn hoá và tín ngưỡng truyền thống người Việt, NXB VHTT-H, 1977, tr. 237.

[13Cadière, “La famille et la réligion en pays annamite”, sđd., tr. 75.

[14Trích dẫn theo Lm G. Lefas, “Cha Léopold Michel Cadière”, bản tiếng Việt của Lê Đình Bảng, Văn học Công giáo Việt Nam, những chặng đường, NXB Từ Điển Bách Khoa, 2010, tr. 467-468.

[15Cadière, “Instruccions pratiques pour les missionnaires…, sđd., tr.243.

[16Ibidem, 272.