Trang nhà > Văn chương > Cổ học > Lưu hương ký

Tập thơ chữ Hán

Lưu hương ký

Thứ Sáu 18, Tháng Năm 2007

Xem thêm: Đồ Sơn bát vịnh

Tặng Tốn Phong Tử (1)

(Hoạ vận tại hậu)

Dịch vần:

Bướm ong mừng đã mấy phen nay,
Hồng nhạn xin đưa ba chữ lại;
Dám đâu mưa gió trở bàn tay,
Những sự ba đào xeo tấc lưỡi,
Nam Bắc xa xa mấy dặm đây,
Hải sơn ước để ngàn năm mãi,
Bức tranh khôn vẽ tấm lòng ngay.
Tơ nguyệt rày xe ba mối lại,
Hỏi khách đa tình nhỏ có hay.
Năm canh hồn bướm thêm bơ bải (2)

(1) Tặng Tốn Phong thị. Dưới đầu đề có ghi rõ "Hoạ vận tại hậu" (hoạ vần ở phía sau), nhưng không thấy bài hoạ.
(2) Bài thơ còn như dang dở. Thể thơ ít gặp. Hay là một điệu ca trù nào đó? Hai chữ bơ bãi là phiên âm tạm. Chưa rõ nên đọc thế nào cho phải.

Hoạ Tốn Phong nguyên vận (1)

Dịch vần:

Kiếp này chẳng gặp nữa thì liều,
Những chắc trăm năm há bấy nhiêu.
Nghĩ lại huống đau cho phận bạc,
Nói ra thêm nhẹ với thân bèo.
Chén thề thủa nọ tay còn dính,
Món tóc thời xưa cánh vẫn đeo.
Ðược lứa tài tình cho xứng đáng,
Nghìn non muôn nước cũng tìm theo.

(1) Hoạ nguyên vần thơ ông Tốn Phong.

Tốn Phong đắc mộng chí dữ ngã khan nhân thuật ngâm, tịnh ký(1)

Nhớ ai mà biết nói cùng ai
Rằng chữ đồng ta quyết một hai.
Hoa liễu vui đâu mình dễ khéo,
Non sông dành trả nợ còn dài.
Chén tình dầu nhẫn lâu mà nhạt
Giải ước nguyền âu thắm chẳng phai.
Ðầy đoạ duyên trần thôi đã định,
Xương giang duềnh(2) để ngắm tương lai.

(1) Tốn Phong thị nằm mộng, ghi lại mang cho xem, nhân đó làm bài thơ thuật chuyện và ghi lại.
(2) Có phiên âm là dành.

Ngụ ý Tốn Phong, ký nhị thủ (1)

Dịch vần:

I
Dồn bước may đâu khéo hẹn hò
Duyên chi hay bởi nợ chi ru?
Sương treo(2) áo lục nhồi hơi xạ,
Gió lọt cành lê lướt mặt hồ.
Muốn chắp chỉ đào thêu trướng gấm,
Mà đem lá thắm thả sông Tô.(3)
Trong trần mấy kẻ tinh con mắt,
Biết ngọc mà trao mới kể cho.
II
Ðường hoa dìu dặt bước đông phong
Nghĩ kẻ tìm thơm cũng có công,
Lạ mặt dám quen cùng gió nước,
Nặng lòng nên nhẹ đến non sông.
Da trời nắng nhuộm tươi màu biếc,
Phòng gấm trăng in dãi thức hồng.
Ai nhớ lấy cho lòng ấy nhỉ,
Trước trăm năm hẳn nợ chi không?
(1) Hai bài ngụ ý gửi Tốn Phong thị.
Chưa rõ Tốn Phong thị là ai? Chỉ biết ông họ Phan, vì trong Bài tựa có câu: "Phan Mĩ Anh người trong họ tôi" và đó là họ nội. Còn tên, theo giáo sư Hoàng Xuân Hãn, có lẽ là Huân nghĩa là "Nam Phong" (gió Nam) cùng gọi là Tốn Phong. Nham Giác là tên hiệu Nham Giác phu là "anh chàng ẩn ở núi nhưng hiểu sự đời".
(2) Có bản phiên âm là xoa.
(3) Sông Tô = Sông Tô Lịch ở Thăng Long - Hà nội.

Bạch Ðằng giang tặng biệt (1)

Dịch vần:

Khấp khểnh đường mây bước lại dừng,
Là duyên là nợ phải hay chăng.
Vịn hoa khéo kẻo lay cành gấm,
Vục nước xem mà động bóng trăng.
Lòng nọ chớ rằng mây nhạt nhạt
Lời kia này đã núi giăng giăng.
Với nhau(2) tình nghĩa sao là trọn,
Chớ thói lưng voi cỡ nước Ðằng(3).

(1) Tặng bạn khi chia biệt ở sông Bạch Ðằng.
(2) Có lẽ là chữ Nhau. Văn bản chép Sao.
(3) Lưng voi cỡ nước Ðằng: Nước Ðằng là một nước nhỏ ở thời Xuân Thu Chiến Quốc, bị ép giữa hai nước lớn là Tề, Sở nên luôn phải giữ gìn. Trong bài thơ tương truyền là của Hồ Xuân Hương cũng dùng điển này để tả nỗi khổ của người đa thê: "Ngoảnh mặt sang Tề, e Sở giận; Quay đầu về Sở, sợ Tề ghen".

Lưu biệt thời tại An Quảng, An Hưng ngụ thứ (1)

Dịch vần:

Người về người ở khéo buồn sao,
Tức tối mình thay biết lẽ nào.
Tơ tóc lời kia còn nữa hết,
Ðá vàng lòng nọ xiết là bao.
Nổi cơn riêng giận ngày trời ngắn,
Mỏi mắt chờ xem bóng nguyệt cao.
Sớm biết lẽ trời ly có hợp,
Thì mười năm trước bận chi nao.

(1) Ghi lại lúc chia tay tại An Quảng, An Hưng.

Hoạ Sơn Phủ chi tác (1)

Dịch vần:

Này đoạn chung tình biết mấy nhau,
Tiễn đưa ba bước cũng nên câu.
Trên tay khép mở tanh chiều nhạn,(2)
Trước mặt đi về gấp bóng câu.(3)
Nước mắt trên hoa là lỗi cũ.
Mùi hương trong nệm cả đêm thâu.
Vắng nhau mới biết tình nhau lắm,
Này đoạn chung tình biết mấy nhau.

(1) Hoạ lại thơ Mai Sơn Phủ. Mai Sơn Phủ chưa rõ là ai.
(2) Tanh chiều nhạn: Vắng tanh không thấy bóng chim nhạn. Nghĩa là hoàn toàn không có tin tức. Sách Hán Thư chép chuyện Tô Vũ đời Hán sang sứ Hung Nô hoà thân với Hán. Nhà Hán đòi trả Tô Vũ, nhưng Hung Nô không trả. Sứ Hán bịa chuyện vua Hán bắt được ở vườn Thượng Lâm một con chim nhạn, chân có buộc bức thư bằng lụa của Tô Vũ. Chúa Hung Nô tưởng chuyện có thật, nên thả Tô Vũ. Do vậy, chim nhạn được tượng trưng cho tin tức.
(3) Gấp bóng câu: câu là con ngựa non sung sức. Sách Trang Tử có câu "Nhân sinh Thiên địa gian, nhược bạch câu chi quá khích" (con người sống giữa trời và đất giống như bóng ngựa bạch câu lướt qua khe cửa). Chỉ thời gian đi nhanh, đời người chỉ là hình bóng.

Thu nguyệt hữu ức Mai Sơn Phủ ký (1)

Dịch vần:

Lá ngọc chiều thu giận hẳn du
Tuần trăng sẽ nhớ bữa đêm thu.
Bên am Nhất Trụ trông còn đấy,
Ngọn nước Tam Kỳ chảy lại đâu (2)
Son phấn trộm mừng duyên để lại,
Bèo mây thêm tủi phận về sau.
Trăm năm biết có duyên thừa nữa,
Cũng đỏ tay tơ cũng trắng đầu.

(1) Ðêm thu, nhớ Mai Sơn Phủ, gởi bài này.
(2) Nguyên chú: "Ðã giải kết đưa tình". Giải kết, theo Ðào Duy Anh, là: "Cởi mối tình kết buộc với nhau". Còn giải kết đưa tình là gì? Chưa rõ lắm.

Cảm cựu kiêm trình Cần Chánh học sĩ Nguyễn Hầu (1)

(Hầu Nghi Xuân Tiên Ðiền nhân)

Dịch vần:

Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung,
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,
Phấn son càng tủi phận long đong.
Biết còn mảy chút sương siu mấy (2)
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.

(1) Nhớ người cũ viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu. Sau đầu đề trên, tác giả có chú: "Hầu, Nghi Xuân, Tiên Ðiền nhân" - "Hầu người làng Tiên Ðiền, huyện Nghi Xuân" - Như vậy, ở đây Nguyễn Hầu đúng là Nguyễn Du tiên sinh - Gia phả họ Nguyễn Tiên Ðiền ghi rõ mùa hè năm Kỷ Tỵ (1809), Nguyễn Du được bổ làm cai bạ Quảng Bình. Tháng 2 năm Quý Dậu (1813) ông được phong Cần chánh điện học sĩ, rồi được cử làm chánh sứ đi Trung Quốc tuế cống.
(2) Sương siu mấy: Từ xưa phiên âm là sương đeo mái. Nay phiên âm theo giáo sư Hoàng Xuân Hãn.

Phiên âm chữ Hán:

Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ

Hoa phiêu phiêu,
Mộc tiêu tiêu,
Ngã mộng hương tình các tịch tiêu,
Khả cảm thị xuân tiêu.
Lộc ao ao,
Nhạn ngao ngao,
Hoan hảo tương kỳ tại nhất triêu,
Bất tận ngã tâm miêu.
Giang bát bát,
Thuỷ hoạt hoạt,
Ngã tư quân hoài tương khế khoát,
Lệ ngân chiêm hạ cát.
Thi tiết tiết,
Tâm thiết thiết,
Nồng dạm thốn tình tư lưỡng đạt,
Dạ bằng quân bút phát.
Phong ngang ngang,
Nguyệt mang mang,
Phong nguyệt không linh khách đoạn tràng,
Hà xứ thị Ðằng Vương.
Vân thương thương,
Thuỷ ương ương,
Vân thuỷ na kham vọng nhất trường,
Nhất trường dao vọng xúc hoài mang.
Nhật kỳ kỳ,
Dạ trì trì,
Nhật dạ thiên hoài lữ tứ bi,
Tứ bi ưng mạc ngộ giai kỳ.
Phong phi phi,
Vũ phi phi,
Phong vũ tần thôi thái bút huy,
Bút huy đô thì phó tình nhi.
Quân hữu tâm,
Ngã hữu tâm,
Mộng hồn tương luyến liễu hoa âm,
Thi đồng ngâm,
Nguyệt đồng châm,
Nhất tự sầu phân nhuệ,
Hà nhân noãn bán khâm,
Mạc đàn li khúc oan tri âm,
Trực tu khí trí thử dao cầm,
Cao sơn lưu thuỷ vãn tương tầm,
Ưng bất hận ngâm thán cổ câm.
Quân hà kỳ,
Ngã hà kỳ,
Lữ đình lai đắc lưỡng thê trì,
Dánh tần phi,
Bút tần huy,
Nhất trường đô bút thiệt,
Hà xứ thị tình nhi,
Hảo bằng tâm thượng các tương tri,
Dã ưng giao thác thử duyên đề,
Phương tâm thệ bất phụ gia kỳ.
(Hựu Giang Nam điệu)

Dịch vần:

Kể ý mình và trình bạn là Mai Sơn Phủ

Hoa xiêu xiêu
Cây xiêu xiêu
Giấc mộng tình quê (1) thảy tịch liêu
Ðêm xuân cảm khái nhiều.
Hươu ao ao
Nhạn ngao ngao
Vui sướng hẹn nhau một sớm nào
Tả hết được tình sao!
Sông bát ngát
Nước ào ạt
Ý thiếp lòng chàng cũng vu khoát
Lệ rơi thêm mặn chát.
Thơ da diết
Lòng tha thiết
Ðậm nhạt tấc lòng ai thấu hết
Liệu bút chàng tả xiết?
Mây lang thang
Trăng mênh mang
Trăng gió xui ai luống đoạn tràng
Ðâu là gác Ðằng Vương
Mây tơ vương
Nước như sương
Mây nước trôi đâu chỉ một đường
Một đường xa khuất rộn lòng thương
Ngày chậm rì
Ðêm chậm rì
Sáng tối chạnh buồn lữ khách si
Nhớ thương đừng lỡ hẹn, sai kỳ.
Mưa trôi đi
Gió trôi đi
Mưa gió giục hoài cất bút thi (thơ)
Viết thi gửi tới khách "tình si"
Chàng có tâm
Thiếp có tâm
Mồng hồn lưu luyến bóng hoa râm
Thơ cùng ngâm
Rượu cùng trăng
Tự lúc buồn chia biệt
Ai người ấm nửa chăng?
Chớ đàn ly khúc oán tri âm,
Ðành xem như hết tiếng dao cầm (2)
Hẹn nhau nơi non nước muộn mằn!
Chớ buồn mà than thở cổ câm (kim).
Chàng hẹn gì
Ta hẹn gì
Hai ta đều muộn, nói mà chi
Trà mà chi
Bút mà chi
Cũng là thiên lý cả (3)
Ai là kẻ tình nhi
Hiểu nhau trong dạ khó khăn gì
Hãy nên trao gửi mối duyên đi
Lòng son ai nỡ phụ giai kỳ
(theo điệu Giang Nam)
Ð.T.T dịch

(1) Lòng quê là lòng nhớ quê mình. Vậy hình như Sơn Phủ đã đi về quê Xuân Hương. Hoặc là người cùng làng, hay cùng huyện chăng? (Hoàng Xuân Hãn).
(2) Dao cầm: Ðàn quý.
(3) Thiên lý: Dịch từ chữ "bút thiệt" - bút viết và lời nói. Dương Tử nói: "Cuốn sách do bút mà thành. Lời nói do lưỡi mà có. Ta xem "Ngũ thường" là bút và lưỡi của đế vương". Ngũ thường ở đây là các quan hệ: quân thần, phục tử, phu-phụ, huynh đệ, bằng-hữu. Vì thế dịch là thiên lý.

Tự thán (1)

Dịch vần:

I
Con bóng đi về chốc bấy nay,
Chữ duyên nào đã chắc trong tay.
Nghĩ cùng thế sự lòng như đốt,
Trông suốt nhân tình dạ muốn say.
Muôn kiếp biết là duyên trọn vẹn,
Một đời riêng mấy kiếp chua cay.
Nỗi mình nỗi bạn dường bao nả,
Dám hỏi han đâu những cớ này.
II
Lẩn thẩn đi về mấy độ nay
Vì đâu đeo đẳng với nơi vầy
Ấm trà tiêu khát còn nghe giọng
Chén rượu mừng xuân dạ thấy say
Ðiểm lữ trông chừng mây đạm nhạt
Dòng thu xem cỡ nước vơi đầy.
Thương ai hẳn lại thương lòng lắc
Này nợ này duyên những thế này.
(1) Tự than thân.

Thệ viết hữu cảm (1)

Dịch vần:

Mười mấy năm trời một chữ tình
Duyên tơ này đã sẵn đâu đành
Mái mây cắt nửa nguyền phu phát
Giọt máu đầy hai chén tử sinh
Một kiếp đã thề cùng dạ thắm
Trăm năm đừng phụ với đầu xanh
Mai sau lòng chẳng như lời nữa
Dao búa nguyền xin luỵ đến mình.

(1) Nghĩa là: "Có cảm xúc thì viết lời thề".

Xuân đình lan điệu

Phiên âm:
Nguyệt tà nhân tỉnh thú lâu trung
Ngoạ thính đồng long,
Khởi thính đồng long
Dạ bán ai giang hưởng bán không.
Thanh dã tương đồng
Khí dã tương đồng
Tương tư vô tận ngũ canh cùng.
Tâm tại Vu Phong
Hồn tại Vu Phong
Ân ái thử tao phùng
Nhàn ỷ đông phong
Quyện ỷ đông phong
Nhất viên hồng hạnh bích thanh song
Phồn hoa tích dĩ không.
Kim triêu hữu kiến sổ chi hồng
Oanh nhi nhạc đới xuân phong khứ
Chỉ khủng đào yêu vô lực tiếu đông phong
Phong thanh nguyệt bạch, bả kỳ hương nhập khách ngâm trung.

Dịch vần:

Bài ca theo điệu xuân đình lan

Trăng tà người lặng tựa lầu không (1)
Nằm lắng chuông đồng,
Dậy lắng chuông đồng,
Ðêm lắng tiếng buồn vang mé sông
Thanh đã tương đồng,
Khí đã tương đồng
Thanh khí năm canh rộn rã lòng
Tâm ở Vu Phong
Hồn ở Vu Phong
Ân ái cuộc tao phùng.
Nhàn tựa gió đông
Mỏi tựa gió đông
Một vườn hồng hạnh biếc xanh song
Phồn hoa tưởng đã không
Sớm nay bỗng nở mấy nhành hồng
Chim oanh chớ quyến xuân đi nhé
Ta sợ "Ðào hoa vô lực tiếu đông phong"
Trăng thanh gió mát đem hương vào với các thi nhân.
(Ð.Ð.T dịch)

Nguyên văn: Thú lâu trung - trong chòi canh. Thú lâu là cái chòi canh ở chốn đồn binh. Thư Ðường Huyền Tông có câu: "Nguyệt lạc thú lâu không" - Trăng lặn chòi canh vắng.

Kí Sơn Nam Thượng trấn Hiệp trấn Trần hầu

Dịch vần:

I
Vác cắm đàn tao một ngọn cờ,
Ấy người thân đấy phải hay chưa,
Lắc đầy phong nguyệt lưng hồ rượu,
Dắt lỏng giang hồ nửa túi thơ (2)
Ðình Nguyệt (3) góp người chung đỉnh lại,
Trời Hoan (4) mở mặt nước non xưa.
Bấy nay tài tử bao nhiêu tá,
Thèo đảnh (5) khen ai kẻ đặt cho.

(1) Gửi ông Trần Hầu, làm Hiệp trấn Sơn Nam Thượng. Ông này chưa rõ là ai.
(2) Hai câu 3 và 4 này là câu thơ đảo trang: Lắc đầy lưng hồ "rượu phong Nguyệt" - Dắt lỏng nửa túi "thơ giang hồ".
(3) Ðình Nguyệt: Ông Trần Thanh Mại cho là Cổ Nguyệt đường, ngôi nhà của Hồ Xuân Hương.
(4) Trời Hoan: Trời Hoan Châu, tức Nghệ An, quê của Hồ Xuân Hương.
(5) Thèo đảnh: lẳng lơ, khinh bạc.

II
Trận bút xông pha quyết giật cờ,
Tài tình ai đã biết cho chưa.
Giấc Vu man mác năm canh nguyệt,
Duềnh Ngự lênh đênh một lá thơ.
Tơ liễu đã khoe tài lạ trước,
Nguồn đào học hỏi lối quen xưa,
Giai nhân tài tử dường nào đấy
Hay nợ bình sinh chửa giả cho (1)

(1) Dưới đầu đề trên, Lưu hương ký chép liền hai bài này, không đề ai xướng, ai hoạ. Ngờ rằng bài II là bài hoạ lại của Trần Hầu.

Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần hầu xướng hoạ (1)

Phiên âm:

I. Xuân Hương xướng:

Bình thuỷ tương phùng (2) nguyệt hạ tôn
Cương trường phiến phiến thuộc nan ngôn
Khiêu cầm hữu ý minh hoàng xướng
Nhiễu thụ vô đoan ngữ thước huyên.
Thuỳ tục già thanh quy Hán khuyết
Tự tu liên bộ xuất Hồ môn
Bán diên biệt hậu (3) tình đa thiểu
Mạch mạch không ly Sảnh Nữ hồn (4)

(1) Xướng hoạ cùng ông Trần Hầu - quan Hiệp trấn Sơn Nam Thượng. Trấn Sơn Nam Thượng gồm đất của hai tỉnh Hà Nội và Hưng Yên sau này. Trị sở đặt ở Châu Cầu (Phủ Lý). Bài này cũng được chép trong sách Tục Hoàng Việt thi tuyển, nhưng lại được coi là bài thơ Hồ Xuân Hương hoạ thơ ông Hiệp trấn. Còn Lưu hương ký thì cho rằng đây là bài xướng của Xuân Hương. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn căn cứ theo Tục Hoàng Việt thi tuyển.
(2) Bình thuỷ tương phùng (bèo nước gặp nhau): chỉ việc ngẫu nhiên gặp gỡ. Vương Bội có câu: "Bình thuỷ tương phùng, tận thị tha hương chỉ khách" (bèo nước gặp nhau thảy đều là khách tha hương). Trong văn chương, bèo nước, ngọn bèo, phận bèo... còn để chỉ người phụ nữ: "Phận bèo bao quản nước sa - Lênh đênh đâu cũng là lênh đênh" "Ngọn bèo chân sóng lạc loài - Nghĩ mình vinh hiển thương người lưu li" (Kiều).
(3) Lưu hương ký chép là hận.
(4) Xem bài hoạ Trần Hầu.

Dịch nghĩa:

Thân bèo nước gặp nhau, nâng chén rượu dưới trăng,
Tấc lòng son sắt thực là khó nói
Gọi đàn, vì có ý mà gảy khúc Cầu hoàng
Quanh cây, không cơn cớ gì mà chim thước réo vang
Ai chuộc tiếng kèn Hồ trở về cung Hán
Tự thẹn về việc gót sen ra khỏi cửa rợ Hồ
Sau phút ly biệt, còn lưu luyến biết bao tình,
Lớp lớp khôn rời hồn Sảnh Nữ.

Dịch thơ:

Gặp gỡ dưới trăng rượu chuốc mời
Lòng son đòi đoạn chẳng nên lời.
Khúc đàn ai gảy đà đưa ý,
Ngoài ngõ khách kêu chẳng thấy người.
Ai chuộc tiếng kèn về Hán đó?
Tủi lê gót ngọc đất Hồ rồi!
Biệt ly dở tiệc tình lưu luyến,
Hồn Sảnh sầu đau mạch mạch khơi.
(Trần Thanh Mại dịch)

Thuỷ vân hương

Phiên âm:
Vân căn thạch đậu tự phong phòng
Mãn mục sơn quang tiếp thuỷ quang
Thiệp hải tạc hà (a) si Lý Bột
Phụ chu tàng hác bái Nguyên Chương
Loa ngân tịch tễ lân tuần xuất
Vụ ảnh triêu mê thứ đệ tàng
Mạn thuyết ngư nhân chu nhất diệp
Sổ trùng môn hộ Thuỷ Vân hương.
(Chú: Xuất Trang tử Nam hoa kinh)

Dịch nghĩa:

Dưới chân mây, bày hang đá như tổ ong;
Ðầy mặt thấy ánh sáng trên núi tiếp với ánh sáng dưới nước.
Vượt bể để đi đục núi như Lý Bột thật là ngây,(1)
Ðội thuyền lên cạn giấu trong hang như Nguyên Chương thì đáng phục (2)
Buổi chiều trời lạnh, sóng gợn lăn tăn (3) hiện ra,
Ban sáng màn sương che núi lần lượt rút lui.
Vui chuyện bảo rằng người chài dong chiếc thuyền kia,
Ðang len lỏi qua nhiều từng cửa tìm vào làng Tiên.(4)

(1) Vượt bể đục núi: trỏ sự làm khó nhọc mà vô ích. Sách Nam hoa kinh (thiên Ưng đế vương) có "Thiệp hải tạc hà" nghĩa là vượt bể đào sông, đào sông dưới bể là một chuyện vô lý. Ðây tác giả chỉ mượn một phần chữ của sách Nam hoa kinh để ám chỉ những hang động, lối thông đục thiên nhiên trên nhiều đảo. Còn tích Lý Bột thì tôi không biết.
(2) Ðội thuyền giấu trong hang núi: Nguyên trong Nam hoa kinh có câu ấy (thiên 6, Ðại tông sư) với ý rằng làm như vậy tưởng là chắc chắn nhưng khi ngủ có kẻ trộm mất mà không biết. Trong thi văn xưa, ý giấu thuyền trong hang núi lại ngụ ý khác: kẻ đi ẩn không muốn để dấu vết, có lẽ tác giả dùng ý này. Tích Nguyên Chương lấy từ đâu, tôi cũng không biết.
(3) Loa ngân: dấu ốc, hoặc trỏ tăm của các loài thuỷ tộc nổi lên thành sóng nhỏ, hoặc trỏ sóng nhỏ hình tròn trên nước lặng.
(4) Thuỷ Vân hương: Nghĩa đen là làn nước mây, xứ ở trên nước, giữa mây. Cũng là văn từ trỏ chốn Tiên.

Dịch thơ:

Về chốn nước mây

Chân mây lỗ đá tựa phòng ong
Chốn chốn lèn chong ánh nước lồng.
Vượt bể đục non cười Lý Bột,
Ðội thuyền giấu động phục Nguyên Ông.
Chiều êm sóng gợn lăn tăn nổi,
Sáng toả mù tan lớp lớp trong.
Vui chuyện kìa ai thuyền một lá,
Cửa lèn len lỏi kiếm non bồng.

Cảm cựu tống tân xuân chi tác (1)

Dịch vần:

I
Xuân này nào phải cái xuân xưa,
Có sớm ư? thời lại có trưa.
Cửa động hoa còn thưa thớt bóng,
Buồng thoa oanh khéo dập dìu tơ
Phong lưu trước mắt bình hương nguội,
Quang cảnh trong đời chiếc gối mơ.
Cân vàng nửa khắc xuân lơ lửng,
Phố liễu trăm đường khách ngẩn ngơ.
II
Mới biết vị đời chua lẫn ngọt
Mà xem phép tạo nắng thì mưa.
Tri âm đắp nửa chăn còn ngắn,
Bức vách nghe xa tiếng đã thừa.
Nếm mía vụ này ngon những ngọn (2)
Trông gương ngày nọ bẵng như tờ
Xưa nay còn có đâu hơn nữa,
Hay những từ đây, phải thế chưa?
(1) Ðề bài thơ hơi lạ. Người ta thường nói "Tống cựu nghênh tân" (tiễn năm cũ, đón mừng năm mới), ở đây lại Tống tân xuân. Vì thế ông Nguyễn Lộc đã dịch: Bài thơ làm cảm năm cũ, tiễn đưa năm mới. (Nxb Văn học Hà Nội 1982).
(2) Mía chính vụ vào dịp heo may, trước Tết. Sau Tết người ta "bồng gốc" làm tơi đất, bón tưới, thúc mầm cho mía lên. Tục ngữ có câu: "Mía tháng ba ngọt ra đầu ngọn". Tháng ba, mía còn non; hoạ chăng còn sót lại chút mía măng, ăn chẳng ra gì. "Nếm mía vụ này ngon những ngọn" là nếm mía vào tháng mía trái vụ. "Nếm mía vụ này ngon những ngọn" là nếm mía vào tháng mía trái vụ. Tác giả dùng hình ảnh này để tả nỗi quá lứa lỡ thì của người con gái.

Xuân Hương tặng Hiệp quận (1)

Dịch vần:

Hẹn thu hẹn nguyệt luống ăn năn,
Cái kiếp phù sinh những nợ nần.
Cửa viện xuân về hoa mát mẻ,
Ðài trang mây náu nguyệt băn khoăn.
Duềnh xanh nước chảy tin lai láng,
Lá thắm thơ gieo bút ngại ngần.
Son phấn dám đâu so ngọn bút,
Mượn tay thi tướng nhắc đồng cân.

(1) Bài này không có trong Lưu hương ký, nhưng tình điệu thuộc loại trong tập này. Ðược phát hiện tại Thanh Hoá (Tạp chí Văn học số 3-1974). Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã hiệu đính 3 chữ mát mẻ và náu ở câu 3-4 từ các chữ mỉm mỉm, tỏ ở văn bản cũ.

Phiên âm:
Ðộ hoa phong (1)

Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong,
Tiễu bích đan nhai xuất thuỷ trung.
Thuỷ thế mỗi tuỳ sơn diện chuyển,
Sơn hình tà kháo thuỷ môn thông.
Ngư long tạp xử thu yên bạc,
Âu lộ tề phi nhật chiếu hồng.
Ngọc động vân phòng tam bách cục
Bất tri thuỳ thị Thuỷ Tinh cung.

Dịch nghĩa:

Qua vũng Hoa Phong

Lá buồm không vội vượt qua vũng Hoa Phong,
Vách đá đứng, sườn núi đỏ, giữa nước chỏi dựng lên.
Thế nước tuỳ chỗ theo mặt núi mà biến chuyển.
Hình núi nghiêng mình, nép tựa cửa lạch để nước thông qua.
Cá rồng (2) lẫn lộn, tăm khuất dưới từng hơi nước mỏng mùa thu.
Âu (3) cò cùng bay trong ánh đỏ mặt trời chiều.
Cõi Tiên có ba trăm linh sáu động ngọc và phòng mây (4),
Ðây không biết chốn nào là cung Thuỷ Tinh (5)

(1) Trong Phượng Sơn từ chí lược cũng như Ðại Nam dư địa chí ước biên, sau đề: "Chu thứ Hoa Phong tức cảnh bát thủ", sách đều chỉ chép 6 bài thơ, từng bài không có đề riêng. Tháng 2 năm 1962, ông Trần Văn Giáp đã giới thiệu 5 bài trên báo Văn Nghệ. Năm 1983, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã đặt tên cho từng bài thơ, phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ... Bản dịch năm bài thơ này được ông công bố trong Hồ Xuân Hương với vịnh Hạ Long (Tập san KHXH. Paris. 1984). Toàn bộ năm bài thơ sau đây, là bản công bố của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn từ Tập san này.
Vũng Hoa Phong: Vịnh Hạ Long; lấy tên huyện xưa, sau đổi làm Nghiêu Phong. Huyện này gồm nhiều đảo.
(2) Cá rồng: Trỏ chung các loài sống dưới nước. Riêng đây thì tục truyền xưa có rồng xuống, cho nên được đặt tên Hạ Long. Trong thời cận đại, các thuỷ thủ, kể cả các thuỷ quân Pháp, mách rằng đã từng thấy con "rắn bể" nổi lên uốn khúc lòi lên trên mặt nước, dài trên ba mươi mét.
(3) Âu: là thứ chim nước đầu giống bồ câu, chân giống vịt, sống chung quanh vũng nước lớn, thường nằm im nổi trên mặt nước.
(4) Xưa tin rằng người ta có thể tu luyện trở thành bất tử, gọi là Tiên, ở những nơi hẻo lánh trên núi, bể xa, trong hang động, thường mây phủ. Văn bản chép là số "306", nhưng trong các văn thơ thường chỉ nói "ba mươi sáu động Tiên". Hoặc tác giả cố ý muốn trỏ số rất nhiều.
(5) Thuỷ Tinh cung: trỏ cung điện mà người xưa tưởng là nơi cư trú của Tiên ở ngoài bể.

Dịch thơ:

Qua vũng Hoa Phong

Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong.
Ðá dựng bờ son mọc giữa dòng.
Dòng nước lần theo chân núi chuyển,
Mình lèn nghiêng để lối duềnh thông.
Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt,
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng.
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc,
Nào đâu là cái Thuỷ Tinh cung?

Phiên âm:

Trạo ca thanh

Linh lung tứ bích liệt vân bình
Ngọc duẩn sâm si thuỷ diện bình
Tiệm giác Ðào Nguyên sơn tác hộ
Chỉ tùng Ngư Phố thạch dồn binh
Tận giao Tạ khách du nan biến
Già mạc Vân Lâm hoạ bất thành
Dao vọng thuỷ cùng sơn tận xứ
Hốt nhiên xung xuất trạo ca thanh

Dịch nghĩa:

Trỗi tiếng ca chèo

Long lanh bốn vách giăng những bức bình phong vẽ cảnh mây.
Ðá hình cây măng ngọc (1) lô nhô mọc trên mặt nước phẳng.
Thầy rõ ràng rằng lỗi vào Ðào Nguyên (2) có cửa bằng núi đá,
Lạ thay! Sao mà bên bến cá lại có thành xây bằng đá để đóng đồn binh(3)
Mặc lòng chàng Tạ Linh Liên đến chơi đây, đi xem đâu hết,
Dẫu là hoạ sĩ Ngọc Vân Lâm vẽ cảnh cũng không thật đúng,
Ngóng trông đến chỗ cuối nước hết núi,
Thình lình nghe tiếng chèo và tiếng ca trỗi lên.

(1) Măng ngọc: nguyên trỏ cây măng tre non trắng. Trong thi văn dùng để ví vật gì quý hay đẹp hình cao và nhọn đầu.
(2) Ðào nguyên: văn từ trỏ cõi Tiên, nghĩa là thế giới của sinh vật bất tử, nơi tưởng tượng rất an nhàn sung sướng. Ðiển trong Trung văn có rất xưa. Ðời Tấn, Ðào Tiềm (376-427) viết truyện Ðào hoa nguyên ký kể chuyện người đánh cá (Ngư Phủ) chèo thuyền ngược dòng nước trong rừng Ðào hoa ở đất Vũ Lăng, qua một cửa động, đến một vùng có dân cư, sinh đời Tần (hơn 600 năm trước) đã vào đấy tị loạn. Sau Ngư Phủ muốn trở lại đó, nhưng không tìm thấy lối nữa.
(3) Ðồn binh: đây có lẽ chỉ muốn tả đá tự nhiên xếp hình đồn binh.

Dịch thơ:

Trỗi tiếng ca chèo

Long lanh bốn phía rủ màn mây,
Nước phẳng lô nhô măng mọc dày.
Mới biết Nguồn Ðào ngăn cửa đá,
Nào ngờ Bến cá có đồn xây
Mặc cho họ Tạ xem đâu hết,
Dẫu có chàng Lâm vẽ chẳng tầy.
Xa ngóng chân trời non lẫn nước,
Bỗng nghe chèo hát trỗi đâu đây.

Phiên âm:

Nhãn phóng thanh

Vi mang loa đại tháp thương minh
Ðáo thử tu giao nhãn phóng than
Bạch thủy ma thành thiên nhẫn kiếm
Hàn đàm phi lạc nhất thiên tinh
Quái hình vị dĩ tiêu tam giáp
Thần lực hề dung tạc Ngũ Ðinh
Phảng phất vân đồi đầu ám điểm
Cao tăng ưng hữu toạ đàm kinh.

Dịch nghĩa:

Mắt toả sắc xanh

Mầu lam nhạt (1) mờ mờ nối trời xa với bể xa.
Ðến đây, tưởng như trong mắt toả sắc xanh ra (2)
Nước bạc (3) mài đá thành nghìn mũi gươm nhọn
Giữa đầm vắng, hình như có một sao trời sa (4) xuống.
Vách đá hình kỳ quái không dễ dùng làm bảng đề danh kẻ đỗ đại khoa,(5)
Nếu không sức thần thì sao tạc nổi tượng lực sĩ hùng dũng như vậy.(6)
Phảng phất mây xuống thấp, phía trên đã xẩm tối,
Chắc đã có vị cao tăng ngồi yên lặng tụng kinh.

Dịch thơ:

Mắt toả màu xanh

Bể xanh lấp loáng tận trời xa,
Ðây ngỡ màu xanh mắt tỏa ra.
Nước bạc mài nên nghìn mũi kiếm,
Ðầm im rơi xuống một sao sa.
Quái hình chưa dễ đề khoa bảng,
Thần lực đâu đà tạc tượng ma.
Phảng phất mây rà đầu xẩm tối,
Cao tăngđang tụng chốn chiền già.

(1) Loa đại: là một thứ bột màu lam xưa dùng để chế thử mực xanh vẽ lông mày. Tác giả cố ý dùng chữ loa ở đây vì nghĩa nó là ốc.
(2) Ý câu này là: đến đây, nhìn đâu cũng thấy màu, mình có cảm tưởng chính mắt mình phát màu xanh ra, chứ không phải vật ngoài có màu ấy.
(3) Nước bạc: trỏ nước bể thường có sóng bạc, chứ không phải trỏ riêng sóng. Sóng vỗ vào chân lèn làm hỏm chân, chứ không mài nhọn đá.
(4) Sao sa: nếu vế này tả cảnh ban ngày thì phải hiểu rằng mặt nước long lanh phản xạ tia sáng tung toé lên như có sao sa xuống, nếu nghĩ rằng nó tả cảnh ban đêm thì có lẽ muốn nói sắc lân tinh lậploè trên mặt nước.
(5) Tam giáp: trỏ ba bậc đậu thi đinh thời xưa (Nhất giáp có ba nấc: Trạng nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa; Nhị giáp tức là Hoàng giáp; Tam giáp tức là Tiến sĩ).
(6) Ngũ Ðinh: tên một lực sĩ trong thần thoại. Tương truyền đời xưa vua Tần hiến cho vua Thục một gái đẹp. Vua Thục sai lực sĩ Ngũ Ðinh đi đón. Trên đường thấy một con rắn lớn, bò vào hang đá. Ngũ Ðinh đuổi theo, bị đá sập đè chết. Sau bị hoá ra tượng đá khổng lồ.
Tác giả mượn hai việc liên quan đến tảng đá và tượng đá để ngụ ý đến những hình thù vĩ đại, kỳ dị, hùng tráng của các đảo lèn, nhất là khi trời gần tối.

Phiên âm:

Hải ốc trù

Lan nhiêu tuỳ ý dạng trung lưu
Cảnh tỉ sơn dương cánh giác u
Sinh diện độc khai vân lộ cốt
Ðoạn ngao tranh kị khách hồi đầu
Bằng Di diệp tác kình thiên trụ
Long Nữ thiêm vi hải ốc trù
Ðại để Thuỷ Hoàng tiên vị cập
Cố lưu Nam điện củng kim âu.

Dịch nghĩa:

Phe phẩy mái chèo, tuỳ thích cỡi thuyền dong chơi giữa duềnh,(1)
Qua gần chân núi lại thấy cảnh càng vắng.
Mây thoảng qua, núi lộ mặt, thấy đá chơ vơ,
Những khối lèn dựng cao vút(2) khi qua dưới, khách phải nghếch trông.
Hoặc là hải thần Bằng Di(3) đã dựng cột để chống trời nghiêng,
Hoặc là hải thần Long Nữ(4) đã nối thêm cây nêu trỏ cung điện dưới bể.
Ý chừng vua Tần Thuỷ Hoàng(5) chưa từng đi kinh lý đến chỗ này,
Vì trời vốn dành nó lại ở xứ Nam này để làm vững chắc cơ đồ nước ta(6)

(1) Lan nhiêu: chèo lan là chèo nhẹ. Văn tử quen dùng.
(2) Ðoạn ngao: Nghĩa đen là đẵn con rùa lớn để lấy chân làm cột chống trời. Thần thoại Trung Quốc kể chuyện rằng ban đầu vòm trời bị sụp, bà Nữ Oa đẵn chân con rùa rất lớn để làm cột chống trời. Ðây trò các hòn đảo tròn và cao như cột đá; ví dụ hòn Chiếc Ðũa.
(3) Bằng Di: tên một thuỷ thần đề xuất trong Nam hoa kinh. Trong thơ Tào Thực, được đặt ngang với Nữ Oa. Cũng là tên một thiên thần.
(4) Long Nữ: tên chung thần đàn bà quản trị thuỷ tộc ở bể hoặc vực sâu, sở cư ở đáy bể.
(5) Thuỷ Hoàng: Vua Tần sau khi thống nhất Trung Quốc, đã đi quan sát nhiều nơi. Về phương Nam, mới đi đến vùng Cối Kê (Chiết Giang ngày nay) thì mất.
(6) Câu thơ này cùng ý với câu kết của thơ Núi Chiếc Ðũa của Lê Thánh Tông.

Dịch thơ:

Ngóng đỉnh Toan Ngoan

Giữ duềnh thủng thẳng phẩy chèo lan,
Sát núi càng hay cảnh lặng nhàn.
Mây cuốn bày ra lèn cứng cỏi,
Núi cao những ngóng đỉnh Toan Ngoan
Bằng Di chống cột e trời đổ,
Long Nữ thêm nêu sợ bể tràn.
Dấu ngựa Thuỷ Hoàng chưa đến đó,
Trời dành để giữ đất người Nam.