Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Thi ca > Marcos Ana (1920)

Văn học Tây Ban Nha:

Marcos Ana (1920)

Nhà thơ Tây Ban Nha

Thứ Bảy 15, Tháng Sáu 2013

Tiếu sử

Marcos Ana (tên thật là Fernando Macarro Castillo) sinh năm 1920 tại San Vicente. Thời thơ ấu sống ở Ventosa del Río Almar (Salamanca). Xuất thân trong một gia đình nông dân. Năm 18 tuổi (1939) khi cuộc nội chiến kết thúc, bị chính quyền của Francisco Franco bắt giam và kết án tử hình vì tội "liên kết với bọn phản kháng". Sau đó ít lâu lại bị kết án tử hình một lần nữa, theo đạo luật "An ninh quốc gia". Về sau bản án này được chuyển thành án 60 năm tù. Năm 1961, nhờ cuộc vận động quốc tế, Marcos Ana được trả lại tự do sau 22 năm bị cầm tù.

Tác phẩm

  • Những bài thơ viết nơi ngục thất (Poemas desde la cárcel, 1960 - xuất bản ở Brasil), thơ;
  • Sự cô đơn của tường (Las soledades del muro, 1977), thơ.

Quả tim tôi là một cái sân
(Tặng María Teresa León)

"Cuộc đời tôi,
tôi có thể kể cho anh trong mấy chữ
Một cái sân
và một mảnh trời
nơi đôi lúc
một đám mây bay lạc
một con chim nào
bay vút trời xanh"

Trái đất chẳng tròn đâu
Một cái sân vuông thôi
Nơi con người quay mãi
Dưới khung trời âm u

Tôi vẫn thường mơ thấy cuộc đời
Chỉ là một sân khấu tròn thôi
Một sân khấu có trời xanh bao kín
Có thành phố, có ruộng đồng yên tĩnh
Có lúa mì, có những cái hôn
Có núi, có hoa, và có biển mênh mông
Nơi tàu thủy với tim người cày lên sóng bạc
Nhưng cuộc sống chỉ là sân nhỏ
(Nơi con người quay mãi
thiếu không gian)
Có đôi khi tôi cũng leo càn
Lên cửa sổ
Mắt chạm phải
cuộc đời rực rỡ
Một cuộc đời tôi vẫn ước mơ
Tôi nghĩ thầm: "Cuộc sống ngoài kia
Không phải chỉ như là sân nọ
Nhưng những phiến đá kia ghê sợ
Đã làm tôi héo hắt, xanh xao"
Tôi đã nghe được những ngọn đồi
Nghe tiếng nói tự do
Giữa hàng cây cao lớn
Tiếng chuyện trò xanh biếc của dòng sông
Thắt một vòng chung quanh máy chém
tiếng lau lách, tiếng hát còn đỏ thắm
Của những đàn chim sẻ, chim ri
Tiếng nhạc du dương trong ánh sáng ban ngày
Và giòn giã một tiếng cười em bé
Tất cả nói: "Cuộc đời là như thế!"

Nhưng rõ ràng tôi đang thức mà mê
(Song sắt kia là bộ mặt nặng nề
Của giấc mộng hướng về đồng nội)
Thật buồn bã - đến khi tỉnh lại
Ngoài mộng ra - tất cả vẫn như xưa
Vẫn là cái sân cũ tự bao giờ
Với những kẻ thiếu không gian vũ trụ
Và có lẽ đã ngót già thế kỷ
Tôi sinh ra trong bốn bức tường này
Tôi đã quên tiếng hát của hàng cây
Đã quên mất nỗi niềm say đắm
Của tình yêu trên đôi môi cháy bỏng
Có còn chăng những cánh cửa tự do
Những bàn tay không đinh đóng bao giờ
Ngoài giấc mộng - chỉ còn sân nhỏ
Là tất cả - tôi tin như vậy đó
(Cái sân nhỏ dưới trời như ngôi mộ
Bị xé tan tành, rách nát tả tơi
Bị những tường và những cọc thu lôi
Hoặc đâm thủng, hoặc bao vây bốn mặt)

Và giờ đây cả giấc mơ kia nữa
Cũng chẳng đưa về những năm tháng tự do
Và giờ đây, đến cả giấc mơ kia
Tất, tất cả chỉ là sân nhỏ
Cái sân nhỏ đang quay
Trái tim tôi gào thét
Trái tim bị bóc trần
Bị đóng đinh dính chặt
Một trái tim
Mang hình xám của sân

(Một cái sân trong đó
Những con người quay mãi không thôi)

Đào Xuân Quý dịch

Nguyên tác:

Mi corazón es patio
(A María Teresa León)

"Mi vida,
os la puedo contar en dos palabras:
Un patio
y un trocito de cielo por donde a veces pasan
una nube perdida
y algún pájaro huyendo de sus alas."

La tierra no es redonda:
es un patio cuadrado
donde los hombres giran
bajo un cielo de estaño.

Soñé que el mundo era
un redondo espectáculo
envuelto por el cielo,
con ciudades y campos
en paz, con trigo y besos,
con ríos, montes y anchos
mares donde navegan
corazones y barcos.
Pero el mundo es un patio
Un patio donde giran
los hombres sin espacio.

A veces, cuando subo
a mi ventana, palpo
con mis ojos la vida
de luz que voy soñando.
y entonces, digo: “El mundo
es algo más que el patio
y estas losas terribles
donde me voy gastando”.
Y oigo colinas libres,
voces entre los álamos,
la charla azul del río
que ciñe mi cadalso.

“Es la vida”, me dicen
los aromas, el canto
rojo de los jilgueros,
la música en el vaso
blanco y azul del día,
la risa de un muchacho...

Pero es soñar despierto.
Mi reja es el costado
de un sueño que da al campo.
Amanezco, y ya todo
- fuera del sueño- es patio:
un patio donde giran
los hombres sin espacio.

¡Hace ya tantos siglos
que nací emparedado,
que me olvidé del mundo,
de cómo canta el árbol,
de la pasión que enciende
el amor en los labios,
de si hay puertas sin llaves
y otras manos sin clavos!
Yo ya creo que todo
- fuera del sueño- es patio
Un patio bajo un cielo
de fosa, desgarrado,
que acuchillan y acotan
muros y pararrayos.

Ya ni el sueño me lleva
hacia mis libres años.

Ya todo, todo, todo,
- hasta en el sueño- es patio.

Un patio donde gira
mi corazón, clavado;
mi corazón, desnudo;
mi corazón, clamando;
mi corazón que tiene
la forma gris de un patio.

Un patio donde giran
los hombres sin descanso.

Gửi Luciano Parrondo
(Chết ở nhà tù Burgos sau hai mươi năm bị giam giữ)

Hỡi Parrondo người bạn của tôi:
Hai mươi năm dài chúng ta ở gần nhau
Tôi đã thấy và giờ đây lại thấy
Trên lưỡi hái của Tử thần xưa bỏ chạy
Anh vẫn đang cao cất lời ca
Ta là suối với tâm hồn trần trụi
Mà nước đã dâng lên thành đường phố
Nước dâng cao
Những bức tường không đè nổi ta đâu
Lòng tôi với lòng anh đã tiến về biển cả
Đã mở rộng đôi bờ
Với bình minh trong mắt
Trên đường ta, để lại những lá cờ
trên đường ta, để lại những niềm vui

Đẹp vô cùng tuổi trẻ của anh
Tuổi trẻ của tôi lạc loài, mất mát
đang soi vào thân anh đã lạnh vì sự chết
Tuổi trẻ của tôi đã lấy lại vẹn toàn
Cuộc đời kia như mất cả linh hồn
Không nghe thấy cái lưỡi dao lạnh lẽo
Cứ ngày đêm sau lưng ta đục, đẽo
Phập lưỡi vào cho đến chết mới thôi
Trái tim tôi đã lạc mất hướng rồi
Nhưng vẫn còn cưỡng lại:
Trước cửa tim có con chim treo cổ
Con chim của anh bị treo cổ đây rồi
Nó để rơi một dòng lệ đỏ tươi
Nơi ánh sáng của anh vừa tắt lạnh

Ôi, vì sao cuộc đời không chặn
Cái đồng hồ đẫm máu kia đi?
Có nghe chăng những đòn đánh chết tươi
Nhằm vào chỗ bao người kêu khóc?
Tiếng nói của tôi không thể nào cất được:
Nó không tìm ra dáng mạo của anh
Cái chết của ta vô tận, vô cùng
Người thi sĩ không sao ca tụng được

Có nhát búa thật là gay gắt
Đến cắt phăng lời lẽ của ta đi
Trên đất ta, họ giết tất không chừa
Trong ngọn lửa của vết thương anh đẫm máu
Tiếng của tôi đã cháy bỏng đôi tay
Khi trèo lên trên những đỉnh cao này
Nhưng giọng nói của tôi không thể đến
Không có ngôn ngữ nào bị đau thương xuyên thủng
Có thể dùng trả giá cuộc đời anh

Cái chết của anh, không có tiếng nào để nói
Không thể có khăn tay nào cạn nổi
Cái biển mênh mông hấp hối của anh
(Mẹ già anh, có thể thế chăng
Sẽ khóc bài thơ bản tình ca này nói đến)

Thế nhưng khuôn mặt anh bất khuất
Sẽ đời đời ở với chúng tôi
Nó sẽ gào lên trong trái tim người
Trên đỉnh lớn của tư duy bất khuất
Nó sẽ là cô gái trẻ xanh tươi
Như nguyệt quế hoa vĩnh viễn của nụ cười

Tên tuổi anh không thể nào chôn được
Sẽ cháy bùng trong những chữ của tôi
Tôi sẽ đưa nó lên đến những làn môi
Của nỗi buồn phiền gay gắt nhất
Tôi sẽ bới, sẽ đào trong nước mắt
Dù cho nó vùi sâu trong gốc rễ của anh
Tiếng nói tôi rồi sẽ cõng anh lên
Trên vai rộng, đi tới ngày mới mẻ.

Đào Xuân Quý dịch

Nguyên tác:

Elegía a Luciano Parrondo
(Que murió en la prisión de Burgos a los veinte años de cautiverio)

Parrondo, amigo mío:
hace ya 20 años que te vi y te recuerdo
cantando sobre el lo de la muerte que huía.
Éramos arroyuelos, con el alma desnuda,
creciendo, en avenida.

No pesaban los muros:
hacia la mar seguían tu corazón y el mío,
ensanchando riberas,
con un alba en los ojos,
dejando a nuestro paso banderas y alegrías.

¡Qué juventud la tuya!
En tu cuerpo aterido por la muerte se mira
mi juventud perdida,granada frente a todo
...Ay, Amigo:
mi corazón resiste; tu bandera ya es mía;
empaparé mis manos con tu sangre callada
y marcaré los astros con tu muerte y mi vida.

A veces creo que el mundo
tiene perdida el alma.
¿No escucha este cuchillo
que indiferente mina

nuestra espalda y nos hunde su filo hasta la muerte?
Mi corazón se obceca,
resiste todavía:
mas cuelga de su puerta tu ruiseñor callado
y vierte un llanto rojo donde tu luz se enfría.

¿Por qué no para el mundo este reloj sangriento?
¿No oye sus campanadas donde los hombres gritan?

Mi voz no puede alzarse,
le falta tu estatura.
No hay poeta que cante nuestra muerte infinita.
Hay hachazos tan duros que cortan la palabra.
En esta tierra nuestra ya todo se asesina.
Por el fuego sangrante de tu herida implacable
mi voz quema sus brazos
trepando hasta tus cimas.
Más no llega mi acento.

No hay lengua traspasada por el dolor que pueda
recompensar tu vida.
No hay voz para tu muerte
(quizá tu madre, acaso, llorando sea el poema, que pide esta elegía).

Mas tu rostro insumiso
seguirá con nosotros.
Clamará en las campanas del corazón y un día
será tea en las cumbres del pensamiento indómito
muchacho azul, eterno laurel de la sonrisa.

No enterrarán tu nombre...
Arderá en mi palabra,
lo subiré a mis labios de la pena más viva,
escarbaré en el llanto
y hundido en sus raíces te subirá en sus hombros
mi voz al nuevo día

Tự trào

Tội của tôi ghê gớm lắm
Tôi muốn trái tim người
Sẽ ngập đầy sao sáng
Chính vì thế mà tôi bị hãm
Mười chín đông trong song sắt nhà tù
Bị bắt giam từ tuổi ấu thơ
Tôi mất cả một thời tươi trẻ
Án tử hình đã đến với tôi
Ánh sáng long lanh trên mặt lá chói ngời
Sẽ khô héo khi chạm vào khối đá
Nhưng tôi không hề thấy trong mạch máu
Bóng của "thiên thần" báo oán nào đâu
Trong cơn mê của nỗi thương đau
Tôi chỉ có một tiếng kêu: Tổ quốc

Đào Xuân Quý dịch

Nguyên tác:

Autobiografía

Mi pecado es terrible;
quise llenar de estrellas
el corazón del hombre.
Por eso aquí entre rejas,
en diecinueve inviernos
perdí mis primaveras.
Preso desde mi infancia
ya muerte mi condena,
mis ojos van secando
su luz contra las piedras.
Mas no hay sombra de arcángel
vengador en mis venas:
España es sólo el grito
de mi dolor que sueña.

Nguồn: Thơ Tây Ban Nha chiến đấu, NXB Văn học, 1973