Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Thi ca > Miguel Hernández (1910-1942)

Văn học Tây Ban Nha

Miguel Hernández (1910-1942)

Nhà thơ, nhà viết kịch Tây Ban Nha

Thứ Sáu 14, Tháng Sáu 2013

Tiểu sử

Miguel Hernández (30/10/1910 - 28/3/1942) tên đầy đủ là Miguel Hernández Gilabert. Ông là thi sĩ, kịch sĩ quan trọng của Tây Ban Nha thế kỷ hai mươi. Ông sinh ở Orihuela và mất ở Alicante. Thuở bé đi chăn dê, về sau đến ở hẳn thủ đô Madrid. Ông là người lính cộng hòa trực tiếp chiến đấu ở chiến hào, làm Ủy viên văn hóa trong binh đoàn thứ nhất. Khi nước cộng hòa trẻ tuổi Tây Ban Nha bị thất bại, chính thể phản động đã cầm tù ông, vừa được thả ra, lại bị bắt ngay và bị tuyên án tử hình, sau đó được đổi ra ba mươi năm tù. Chế độ nhà tù quá tàn khốc đã khiến ông mắc bệnh lao và chết trong tù, khi đó ông mới 32 tuổi. Tác phẩm: Ngọn gió của nhân dân (Vientos del pueblo me llevan, 1937)

Tác phẩm

Ngọn gió của nhân dân

Những ngọn gió của nhân dân anh dũng
Đã kéo tôi và đã chở tôi lên
Đem tim tôi đi rải khắp trăm miền
Và thổi mạnh vào trong cổ họng

Anh có thấy những con bò ngu độn
Lúc bị đòn, chỉ biết đứng ì ra
Giơ bộ trán hiền lành, bất lực
Loài sư tử dương cao vuốt sắc
Ngẩng đầu lên trừng phạt, không tha

Bọn chúng ta đâu phải loại dân bò
Ta là giống của nhân dân cao cả
Chỉ thích ngắm những cái hầm sư tử
Thích nhìn say từng loạt phượng hoàng
Thích những con bò tót chạy từng đàn
Như dãy núi, sừng vươn lên ngạo nghễ
Giống bò kia chẳng bao giờ có thể
Cất mình lên trên mảnh đất quê ta

Ai dám bảo: đặt ách vào trong cổ
Giống dân này, hãy nói thử ta nghe?
Từ nghìn xưa, nào đã thấy bao giờ
Ai tròng nổi ách vào cơn bão táp
Đã bao giờ có ai đem sấm sét
Nhốt vào trong một chiếc lồng con?

Người Axtuyari dũng cảm, anh hùng
Người dân Bát như đá này bọc sắt
Valixiên, con người thanh thoát
Dân Catxti như thép, như đồng
Như đất kia dày đến trăm lần
Như cánh nọ, giữa trời cao lồng lộng
Người Ăngđalu như một tia chớp loáng
đã sinh ra bên những chiếc đàn trong
được rèn trên những đe chắc, làm bằng
những dòng lệ ào ào như thác chảy
Người Extrêma như hạt kê chín mẩy
Người Aragông, một dòng dõi tinh trong
Người Muycxi, thuốc nổ mạnh vô cùng
Vừa lan rộng, lại không ngừng sinh nở
Người Nava, người Lêông đói khổ
Những bậc thầy của lao động, siêng năng
Những ông vua của nghề mỏ khó khăn
Những chúa tể của nghề cày nặng nhọc
Những con người, như rễ cây đầy sinh lực
Sống trọn đời xen với những rễ cây
Họ đã đi từ hư vô nọ đến hư vô này
Từ cõi sống họ đi vào cõi chết:
Chúng nó muốn đặt anh vào ách
Các anh, những con người cỏ dại đồng hoang
Nhưng ách kia các anh sẽ đập tan
Thành hai mảnh và ném vào vai chúng
Buổi hoàng hôn của lũ bò ngu độn
Làm nổ ra ánh sáng của bình minh
Bò chết đi, sẽ phủ khắp thân mình
Sự hèn hạ với mùi chuồng hôi thối
Giống bò tót và những loài sư tử
Cùng phượng hoàng ngạo nghễ, tự hào
Có trời xanh làm hậu thuẫn đàng sau
Không nao núng, cũng không hề tiêu diệt
Lũ bò kia trong giờ giẫy chết
Chỉ cúi đầu bé bỏng mà thôi
Những loài ta, dũng cảm, anh hào
Lúc hấp hối là giờ ta sáng tạo
Tôi sẽ chết, đầu ngẩng lên cao ngạo
Nếu ngày kia tôi phải chết trong tù
Dẫu chết nhiều, đến lần thứ hai mươi
Miệng tôi sẽ dính vào cây cỏ sắc
Và răng tôi sẽ luôn luôn cắn chặt
Và râu tôi sẽ dựng đứng cả lên

Có những loài chim, ngay giữa trận tiền
Trên mũi súng vẫn bình tâm, lảnh lót
Ta cũng thế, ta sẽ vừa ca hát
Vừa đợi ngươi hỡi thần chết kia ơi!

Đào Xuân Quý dịch

Nguyên tác

Vientos del pueblo me llevan

Vientos del pueblo me llevan,
vientos del pueblo me arrastran,
me esparcen el corazón
y me aventan la garganta.

Los bueyes doblan la frente,
impotentemente mansa,
delante de los castigos:
los leones la levantan
y al mismo tiempo castigan
con su clamorosa zarpa.

No soy un de pueblo de bueyes,
que soy de un pueblo que embargan
yacimientos de leones,
desfiladeros de águilas
y cordilleras de toros
con el orgullo en el asta.
Nunca medraron los bueyes
en los páramos de España.

¿Quién habló de echar un yugo
sobre el cuello de esta raza?
¿Quién ha puesto al huracán
jamás ni yugos ni trabas,
ni quién al rayo detuvo
prisionero en una jaula?

Asturianos de braveza,
vascos de piedra blindada,
valencianos de alegría
y castellanos de alma,
labrados como la tierra
y airosos como las alas;
andaluces de relámpagos,
nacidos entre guitarras
y forjados en los yunques
torrenciales de las lágrimas;
extremeños de centeno,
gallegos de lluvia y calma,
catalanes de firmeza,
aragoneses de casta,
murcianos de dinamita
frutalmente propagada,
leoneses, navarros, dueños
del hambre, el sudor y el hacha,
reyes de la minería,
señores de la labranza,
hombres que entre las raíces,
como raíces gallardas,
vais de la vida a la muerte,
vais de la nada a la nada:
yugos os quieren poner
gentes de la hierba mala,
yugos que habéis de dejar
rotos sobre sus espaldas.

Crepúsculo de los bueyes
está despuntando el alba.

Los bueyes mueren vestidos
de humildad y olor de cuadra;
las águilas, los leones
y los toros de arrogancia,
y detrás de ellos, el cielo
ni se enturbia ni se acaba.
La agonía de los bueyes
tiene pequeña la cara,
la del animal varón
toda la creación agranda.

Si me muero, que me muera
con la cabeza muy alta.
Muerto y veinte veces muerto,
la boca contra la grama,
tendré apretados los dientes
y decidida la barba.

Cantando espero a la muerte,
que hay ruiseñores que cantan
encima de los fusiles
y en medio de las batallas.

Bài hát về củ hành

Củ hành là hoa tuyết
Vừa cứng lại vừa nghèo
Hoa tuyết của một đời
Của ngày con, đêm bố
Củ hành và trận đói
Cơn lạnh giá đen ngòm
Hoa tuyết rộng và tròn
Đứa con tôi đang ngủ
Trong chiếc nôi nghèo đói
Ôi, dòng máu củ hành
Đã từng nuôi con sống
Chính dòng máu của con
Đóng băng lại như đường
Như củ hành, trận đói
Người đàn bà tóc hung
toàn thân như ánh trăng
Cứ mòn đi, từng giọt
Trên chiếc nôi tồi tàn
Cười lên con, cười lên
Con chỉ nuốt ánh trăng
Mỗi lần, khi đến bữa

Cười lớn đi, cười nữa
Con họa mi trong nhà
Nụ cười là ánh sáng
Trong đôi mắt con ta
Hãy cười đi cười nữa
Con cười đến bao giờ
Hồn bố nghe con cười
Sẽ lâng lâng bay bổng
Trên cõi trời bao la

Ôi, tiếng cười của con
Như chắp thêm đôi cánh
Xóa tan niềm cô quạnh
Đưa bố khỏi ngục tù
Trở lại đời tự do
Cái mồm con bay bổng
Trái tim con bừng sáng
Chói ngời trên đôi môi

Con ơi, tiếng con cười
Là tiếng cười thắng lợi
Con là người dũng sĩ
Thắng được cả hoa, chim
Đến mặt trời cũng ghen
Con, ngày mai rạng rỡ
Của dòng máu bố đây
Của tình yêu của bố

Ôi, da thịt phập phồng
Hàng mi chớp rất nhanh
Cuộc đời thêm tươi thắm
Thêm màu sắc tươi trong
Bao nhiêu loài chim đẹp
Cùng bao nhiêu tiếng hót
Cất lên từ thân con!
Bố xa rồi tuổi nhỏ
Con giữ mãi ngày thơ
Miệng bố nhiều buồn tủi
Con chớ tắt nụ cười
Con hãy nhớ, trong nôi
Phải gìn giữ nụ cười
Phải chở che từng tí
Đừng để tắt, con ơi

Ôi, con là sinh vật
Bay cao và bay xa
Thịt con như bầu trời
Đang trong thời hé nở
Biết làm sao có thể
Ngược lên nguồn của con?

Mới tám tháng, con cười
Năm cánh hoa cam nhỏ
Năm cái điều hung dữ
Nó là năm cái răng
Vừa mọc lên, tí tẹo
Giống như năm hoa nhài
Đang tuổi vị thành niên
Ngày mai khi con thấy
Răng con là vũ khí
Ngày mai khi con thấy
Ngọn lửa từ miệng con
Chạy sâu vào thân thể
Những cái răng ngày nay
Sẽ trở thành biên giới
Những chiếc hôn nồng say

Hãy bay lên, con ơi
Bằng những củ hành ôi
Đến gần hai vú mẹ
Nơi có vầng trăng đôi
Như thế cũng đủ rồi
Thôi, con đừng quấy nữa
Chớ vội hiểu việc đời

Đào Xuân Quý dịch

Nguyên tác

Nanas de la cebolla

La cebolla es escarcha
cerrada y pobre:
escarcha de tus días
y de mis noches.
Hambre y cebolla:
hielo negro y escarcha
grande y redonda.

En la cuna del hambre
mi niño estaba.
Con sangre de cebolla
se amamantaba.
Pero tu sangre,
escarchada de azúcar,
cebolla y hambre.

Una mujer morena,
resuelta en luna,
se derrama hilo a hilo
sobre la cuna.
Ríete, niño,
que te tragas la luna
cuando es preciso.

Alondra de mi casa,
ríete mucho.
Es tu risa en los ojos
la luz del mundo.
Ríete tanto
que en el alma al oírte,
bata el espacio.

Tu risa me hace libre,
me pone alas.
Soledades me quita,
cárcel me arranca.
Boca que vuela,
corazón que en tus labios
relampaguea.

Es tu risa la espada
más victoriosa.
Vencedor de las flores
y las alondras.
Rival del sol.
Porvenir de mis huesos
y de mi amor.

La carne aleteante,
súbito el párpado,
el vivir como nunca
coloreado.
¡Cuánto jilguero
se remonta, aletea,
desde tu cuerpo!

Desperté de ser niño.
Nunca despiertes.
Triste llevo la boca.
Ríete siempre.
Siempre en la cuna,
defendiendo la risa
pluma por pluma.

Ser de vuelo tan alto,
tan extendido,
que tu carne parece
cielo cernido.
¡Si yo pudiera
remontarme al origen
de tu carrera!

Al octavo mes ríes
con cinco azahares.
Con cinco diminutas
ferocidades.
Con cinco dientes
como cinco jazmines
adolescentes.

Frontera de los besos
serán mañana,
cuando en la dentadura
sientas un arma.
Sientas un fuego
correr dientes abajo
buscando el centro.

Vuela niño en la doble
luna del pecho.
Él, triste de cebolla.
Tú, satisfecho.
No te derrumbes.
No sepas lo que pasa
ni lo que ocurre.

Nguồn: Thơ Tây Ban Nha chiến đấu, NXB Văn học, 1973


Xem online : There are Nightingales that Sing