Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Cổ học > Mối tình Hồ Xuân Hương và Mai Sơn Phủ qua Lưu Hương Ký (2)

Mối tình Hồ Xuân Hương và Mai Sơn Phủ qua Lưu Hương Ký (2)

Thứ Ba 10, Tháng Giêng 2012

PHẦN II.

Rồi một ngày Mai Sơn Phủ, từ giã Hồ Phi Mai để về Hoan Châu, nhờ cậy cha mẹ mai mối hỏi cưới nàng. Cũng có thể nhờ vợ cả cưới thứ thiếp giùm cho chồng. Câu « trăm năm biết có duyên thừa nữa » bài Đêm trăng nhớ Mai Sơn Phủ, chứng tỏ rằng Hồ Xuân Hương đang hồi họp không biết số phận mình là vợ cả hay thứ thiếp. Ngày xưa thanh niên lấy vợ rất sớm, để vợ phụng dưỡng cha mẹ già, bán mấy sào đất ra kinh đô Thăng Long du học, đã là con nhà khá giả, nay cưới thêm thứ thiếp để nâng khăn sửa túi nơi du học hẳn phải là con nhà đại điền chủ.

Từ biệt Hồ Xuân Hương, Mai Sơn Phủ bắt đầu bằng bốn câu thơ cổ Trung Quốc để lấy đà. Tương truyền rằng bốn câu thơ này của vua Hán Vũ Đế: Gió thu nổi chừ mây trắng bay, Cây cỏ vàng rơi chừ nhạn nam quy. Lan có đẹp chừ cúc có hương. Nhớ giai nhân chừ lòng không quên. Mai Sơn Phủ ca tiếp theo: Ta có rượu chừ không bạn uống, Ta có đàn chừ chẳng tri âm. Vì thế xa nàng ta sẽ không uống rượu cũng không gảy đàn, chỉ uống trà xanh thôi để nhớ nàng, đã mượn bốn câu ăn gian để đẩy hứng thơ thế mà không lên nổi, cũng chỉ thốt lên được những lời thơ tầm thường chẳng có gì xuất sắc, Mai Sơn Phủ chẳng phải là tay đối thủ xướng hoạ với Phi Mai.

Khúc hát mùa thu Thu tứ ca
Gió thu nổi chừ mây trắng bay, Thu phong khởi hề bạch vân phi,
Cây cỏ vàng rơi chừ nhạn nam quy. Thảo mộc hoàng lạc hề nhạn nam quy.
Lan có đẹp chừ cúc có hương, Lan hữu tú hề cúc hữu phương,
Nhớ giai nhân chừ lòng không quên. Hoài giai nhân hề bất năng vương.
Ta có rượu chừ không bạn uống, Ngã hữu tửu hề vô đối ẩm,
Ta có đàn chừ chẳng tri âm. Ngã hữu cầm hề vô tri âm.
Không chuốc rượu chừ không gảy đàn, Bất chước tửu hề bất minh cầm,
Mấy chén trà xanh chừ lòng cố nhân. Sổ bôi thanh đính hề cố nhân tâm.

(Thơ Mai Sơn Phủ trong Lưu Hương ký; Nhất Uyên dịch thơ)

Hồ Xuân Hương đáp lời Mai Sơn Phủ bằng bài Hoạ Sơn Phủ chi tác.

Gọi là hoạ chứ không thấy bài thơ nôm của Mai Sơn Phủ đâu cả. Xuân Hương tiếp ý bài Khúc hát mùa thu chăng ? Tôi cho rằng đây là bài thơ tình hay nhất của Văn chương Việt Nam thế kỷ 18, 19.

Bài thơ này, Xuân Hương giữ ý tứ, chỉ có đôi ta tình chung biết với nhau. Lòng nàng cảm xúc lai láng, bước đi ba bước đã nên câu thơ. Nàng tưởng tượng cảnh cô đơn sau đó sẽ vắng tin chàng. Thời gian sẽ qua nhanh như bóng câu qua cửa sổ. Ban ngày đi trên lối cùng nhau bước đi ngày trước nước mắt ướt cả hoa. Ban đêm nằm một mình trằn trọc trên nệm nhớ mùi hương ngày nọ . Có xa nhau mới biết yêu nhau nhiều. Hỡi người tình chung chỉ đôi ta biết với nhau.

Biệt ly Mai Sơn Phủ
Này đoạn chung tình biết với nhau,
Tiễn đưa ba bước cũng nên câu.
Trên tay khép mở tanh chiều nhạn,
Trước mắt đi về gấp bóng câu.
Nước mắt trên hoa là lối cũ,
Mùi hương trong nệm cả đêm thâu.
Vắng nhau mới biết tình nhau lắm,
Này đoạn chung tình biết với nhau.

(Thơ chữ Nôm Hồ Xuân Huơng trong Lưu Hương Ký)

Chú thích:
Tanh chiều nhạn: vắng tanh không thấy bóng chim nhạn. Sách Hán Thư chép chuyện Tô Vũ đời Hán đi sứ Hung Nô, bị chúa Hung Nô bắt giữ đày lên vùng Bắc Hải chăn dê. Sau Hung Nô hoà thân với nhà Hán, nhà Hán đòi trả Tô Vũ, nhưng Hung Nô không trả. Sứ Hán bịa chuyện Vua nhà Hán bắn được ở vườn Thượng Lâm có một chim nhạn, buộc ở chân lá thư Tô Vũ bằng lụa. Chúa Hung Nô tưởng chuyện thật mới thả Tô Vũ. Do tích này chim nhạn, hay hồng nhạn (ngỗng trời) được xem như việc chuyễn tin tức.
Gấp bóng câu: Câu là con ngựa non sung sức. Sách Trang Tử có câu: Con người sống giữa trời đất giống như bóng ngựa bạch câu, lướt qua khe cừa.. Chỉ thời gian đi nhanh.

Trong thơ chữ Hán của Phạm Đình Hổ (Tuyển tập thơ văn. NxbKHXH 1998) có bài Tống Liên Cừ Mai Công phó Vị Hoàng. Tiễn ông Mai người Liên Cừ từ Vị Hoàng. Tôi cho rằng đó là bài thơ Phạm Đình Hổ cùng Hồ Xuân Hương tiễn Mai Sơn Phủ từ bến sông Vị Hoàng đi về Vịnh Phố (Vinh ngày nay). Đó là thời kỳ Phạm Đình Hổ và Xuân Hương thân tình. Mai Sơn Phủ là bạn của cả hai người. Câu Sơ mai hương đậu Hoàng giang vũ. Hoàng giang mưa điểm hương mai nở, có ý trêu Hồ Xuân Hương đang khóc vì xa người tình vì câu đầu Hạ nhật huề cùng xuất cố đô. Gậy trúc mùa hè xa cố đô. Mùa hè đi ra khỏi Thăng Long làm gì có hoa mai nở, chỉ có nước mắt Hồ Phi Mai long lanh khóc tiễn đưa người tình, trong mưa bụi bay phơ phất. Bài thơ viết: Ngày hè chống gậy trúc cùng rời cố đô Thăng Long, đưa người bạn về quê hương từ phía Nam (thành Thăng Long).

Mưa phùn trên sông Hoàng Giang (Nam Định) lất phất đậu trên cánh hoa mai. Về đến Vịnh phố sắp đến mùa lúa thơm rực vàng cánh đồng mùa thu. Vời ngóng trên non núi Hồng Sơn cây cao lớp lớp. Thi hứng về trên biển thẳm cánh buồm mơ bạn ra đi. Thôi bạn đi, hẹn bạn ngày quay trở lại, cùng rong chơi, hứng gió mát hồ Hoàn Kiếm trên tay áo rộng.

Tiễn ông họ Mai người Liên Cừ từ Vị Hoàng Tống Liên Cừ Mai Công phó Vị Hoàng
Gậy trúc ngày hè xa cố đô, Hạ nhật huề cùng xuất cố đô,
Giang Nam thương nhớ bóng xa mờ. Giang Nam nam hạ tứ du du.
Hoàng giang mưa điểm hương mai nở, Sơ mai hương đậu Hoàng giang vũ,
Vịnh phố rục vàng thơ lúa thu. Dã mạch tình thâm Vịnh phố thu.
Vời ngóng non cao cây lớp lớp, Vọng nhập tiền sơn khan võng thu,
Hứng về biển thẳm cánh buồm mơ, Hứng tùy thương hải phiềm hư chu.
Người đi hẹn ước ngày quay lại, Lâm ký ước lược quy lai nhật;
Tay áo thung thăng gió Kiếm Hồ. Mãn thụ thanh phong phản Kiếm Hồ.

(Thơ chữ Hán Phạm Đình Hổ. Nhất Uyên dịch thơ)

Chú thích:
Giang Nam: do bài Giang Nam Ai Phú của Dữu Tín người Nam Bắc Triều, tỏ lòng nhớ quê, làm quan xa nhà lâu ngày không về quê hương. Từ đó chữ Giang Nam có nghỉa là lòng nhớ quê hương.

Mai Sơn Phủ đi xa, trên đường đi gửi về bài thơ Nguyệt Dạ Ca I (Bài Ca Đêm Trăng I)

Trên đường đi nhìn sương móc trắng xoá, trăng sáng chiếu lấp lánh như hạt châu. Sáng lấp lánh chiếu lại hồn ai , Người yêu dịu dàng ơi, giờ nơi phương trời, yêu nhau chẳng gặp lòng bồi hồi. Miếu Thần Nữ Vu Sơn rêu phủ, Đài Sở Vương mây trôi. Anh nhớ những giây phút ân ái nồng nàn như Thần Nữ Vu Sơn và Sở Tương Vương, giờ không còn nữa, rêu phủ, mây trôi.. Đêm trăng thu sáng như thế, như những ngày ta gặp nhau dưới trăng nơi Hồ Tây, nơi Cổ Nguyệt Đường, Người yêu anh ơi, giờ em ở xa xôi. (ngày xưa thích nói chuyện Thần Nữ Vu Sơn với Sở Tương Vương, trong thơ văn, tương tự như ngày nay thích coi phim X).

Bài Ca Đêm Trăng I Nguyệt Dạ Ca I
Sương như châu, kìa trăng sáng ngời, Lộ như châu hề nguyệt như sai,
Sáng lấp lánh kìa chiếu hồn ai. Thúc vãng lai hề chiếu dư hoài.
Người yêu ơi! giờ nơi phương trời ! Uyển cố nhân hề thiên nhai !
Yêu chẳng gặp lòng bồi hồi ! Ai bất kiến hề tâm bồi hồi !
Miếu Thần Nữ rêu phủ, Đài hoang Thần Nữ miếu,
Đài Sở Vương mây trôi. Vân tán Sở Vương đài.
Trang trong sáng như thế ! Minh nguyệt quang như thử !
Người ta mơ tưởng giờ nơi đâu rồi. Ngã tư chi nhân hề, yên tại tai.

(Thơ Mai Sơn Phủ, trong Lưu Hương Ký, Nhất Uyên dịch thơ)

Chú thích:
Thần Nữ miếu: Thần nữ núi Vu Sơn
Đài Sở Vương: nơi Sở Tương Vương nằm mộng thấy giao hoan cùng thần nữ núi Vu Sơn.

Nhận được thơ, Hồ Phi Mai hoạ ngay. Hoa là chữ, nhụy là thơ. Ráng hồng buổi hoàng hôn là xiêm, mây là áo. Nơi nào cùng có hoa có nhụy, có ráng chiều, có mây là nơi ta gặp nhau, cùng gặp nhau lòng ta phơi phới. Nhưng giờ đây thư chàng sao chậm tới. Lòng em, lòng chàng như kẻ đầu sông Tương, cuối sông Tương không gặp nhau nhưng cùng uống nước sông Tương. Nỗi buồn em chất ngất như Lý Bạch đứng dưới chân núi Thục. Đường qua Ba Thục khó hơn lên trời xanh. Vách núi dựng đá tai mèo lởm chởm.Ngày tháng này lòng em như không gốc rễ, lênh đênh như ngọn cỏ bồng. Mình sẽ gặp lại nhau nơi nào, bao giờ ?

Bài Ca Đêm Trăng II Nguyệt Dạ Ca II
Hoa là chữ, này nhụy là thơ, Hoa kỳ tự hề ba kỳ thi,
Ráng là xiêm, này mây làm áo, Hà vi thường, hề vân vi y,
Cùng gặp nhau, chừ lòng ta phơi phới. Diệc ký câu chỉ, hề ngã tâm tắc di.
Lời thư sao chậm tới. Ngữ hạt ký hề thê trì.
Nghe sầu trôi sông Tương, Sầu lưu Tương thủy thích,
Nỗi buồn chân núi Thục. Muộn áp Thục Sơn đê.
Ngày tháng bật rễ lòng, Nhật nguyệt vô căn hề,
Nơi nào gặp lại ? Tình chi sở chung ?
Biêt hẹn khi nào ? Bất tri kỳ kỳ ?

(Thơ Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương Ký, Nhất Uyên dịch thơ)

Chú thích:
Tương Giang: bắt nguồn từ núi Duyên, huyện Hưng Yên tỉnh Quảng Tây. Kinh thi có bài thơ: Chảng ở đầu sông Tương, Thiếp ở cuối sông Tương. Cùng sông không gâp mặt, Cùng uống nước sông Tương.
Núi Thục. Thục Sơn ở phía Đông Nam huyện Tuyên Hưng Tỉnh Giang Tô. Nhưng trong bài này Xuân Hương nói đến núi Thục trên đường đi qua Ba Thục của Lý Bạch.

Nhưng rồi thời gian chờ đợi Mai Sơn Phủ ngày càng dài, Xuân Hương sốt ruột viết hai bài Tự Thán.

Bài I. Chàng mới đi chưa bao lâu, xa chàng mới thấy rằng chữ duyên, những lời thề hẹn chưa chắc sẽ thành như nắm chắc trong tay. Tình hình thế sự lòng dạ như lửa đốt: Tình hình chiến tranh đang tiếp diễn, tháng ba năm 1801 Nguyễn Ánh đánh chiếm toàn doanh Quãng Nam. Sau đó thừa thắng tiến đánh Đà Nẵng. Đến tháng 5, Nguyễn Ánh cho thủy quân tiến đánh cửa bể Tư Dung, rồi thừa thắng kéo vào Phú Xuân. Vua Quang Toản bỏ kinh thành chạy ra Bắc, trận chiến tiếp diễn tại Nghệ An, Quận Công Nguyễn Thận, Trấn thủ Tây Sơn tại Hà Tĩnh thua chạy vào Thanh Hoá và bị bắt giết. Tháng 5 năm Nhâm Tuất 1802 Nguyễn Ánh lập đàn ở đồng An Ninh, Phú Xuân tế trời đất, lên ngôi đặt niên hiệu Gia Long và tiến quân ra Bắc. Thăng Long sẽ là nơi trận đánh cuối cùng của Triều Tây Sơn trước khi suy tàn, hứa hẹn một cuộc giao tranh khốc liệt... Làng Nghi Tàm có thể là nơi đóng quân, sẽ là một phen lửa khói tơi bời. Tình hình thế sự như thế, như lửa đốt mà tiếng đồn đại, người đời lòng dạ đổi thay, Xuân Hương muốn say để quên đi.. Tình duyên có được trọn vẹn chăng trong muôn kiếp. Một đời nàng chịu đựng quá nhiều tiếng chua cay của miệng đời.Nỗi mình như thế, nỗi bạn Mai Sơn Phù ra sao ? Vì sao vắng bặt tin, biết hỏi han cùng ai ?

Tự thán I
Con bóng đi về chốc bấy nay,
Chữ duyên nào đã chắc trong tay.
Nghĩ cùng thế sự lòng như đốt,
Trông suốt nhân tình dạ muốn say.
Muôn kiếp biết là duyên trọn vẹn,
Một đời riêng mấy tiếng chua cay,
Nỗi mình nỗi bạn dường bao nả,
Dám hỏi han đâu những cớ này.

(Thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương Ký)

Bài Tự Thán II cho thấy tâm trạng buồn thảm của nàng: Mấy độ nay, Hồ Xuân Hương như cái xác không hồn, đi về lẩn thẩn. Vì đâu ta phải đeo đẳng ở cái làng Nghi Tàm này. Uống chén trà, nàng cứ nghe khát hoài, nàng cứ uống để còn nghe giọng mình có còn không, vì chẳng nói chuyện được với ai. Uống chén rượu mừng xuân năm Nhâm Tuất, lòng dạ muốn say. Nơi quán trà quán sách của nàng, khách xưa đến nồng ấm nay lạnh nhạt ! Tình người như nước mùa thu, đã đầy rồi vơi đi. Càng thương chàng càng thương thân phận minh. Vì đâu mà duyên nợ phải ra thế này ?

Tự thán II
Lẩn thẩn đi về độ mấy nay,
Vì đâu đeo dẳng với nơi này,
Ấm trà tiêu khát còn nghe giọng,
Chén rượu mừng xuân dạ thấy say,
Điếm lữ trông chừng mây đậm nhạt,
Dòng thu xem cở nước vơi đầy,
Thương ai hẳn lại thương lòng lắm,
Này nợ này duyên những thế này.

(Thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương Ký)

Mối tình Mai Sơn Phủ chấm dứt nơi đây. Ta không biết Mai Sơn Phủ ra sao ? Có ai lục trong gia phả họ Mai làng Liên Cừ ở Vinh, để biết cuộc đời chàng Mai chấm dứt ra sao ? Hoặc phản bội lời thề với Xuân Hương Hồ Phi Mai nên bị chết vì dao búa trong chiến tranh. Hoặc bị cha mẹ hay vợ cả cấm cửa, bắt ra đồng cày ruộng nên không thể nào trở lại Thăng Long học tiếp ? Hoặc chết vì một cơn bạo bệnh, một trận dịch ?

Có lẽ một tin gì, làm Hồ Xuân Hương đau điếng, không thể viết tiếp trang tình sử với Mai Sơn Phủ.

Lúc này, bỗng đâu có người học trò cũ của cha đến thăm: Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà ở Vĩnh Phú, có thể rước nàng về dạy học cho con. Trong cơn túng quẩn: quán trà ế khách, lớp học Cổ Nguyệt đường thiếu học trò, chiến tranh sắp xảy ra tại Thăng Long. Hồ Xuân Hương cũng liều nhắm mắt đưa chân, Thử xem con tạo xoay vần đến đâu. Năm ấy năm 1801, nàng 29 xuân xanh.

Từ đây khởi đầu một chương mới, Hố Xuân Hương gọi là: Thập tải phong trần quán nhỉ linh. Mười năm lận đận như kẻ trộm bịt tai đi trộm chuông. (Mời các bạn đón xem trong số tới)

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH
phamtrongchanh@free.fr
Tiến Sĩ Khoa Học Giáo Dục. Viện Đại Học Paris V, Sorbonne
Mời các bạn tìm đọc những công trình nghiên cứu, nghiêm túc, công phu, tài liệu phong phú, làm sụp đổ toàn bộ các nghiên cứu về Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm trong cả thế kỷ 20.
Tìm đọc hai tác phẩm vĩ đại và hay nhất của nhân loại, khó dịch, khó đọc được diễn ca trong ngôn ngữ Truyện Kiều để người Việt Nam ai cũng đọc, cũng thưởng thức được.
Tìm đọc những bài thơ tình đau đớn bi thương của Xuân Diệu viết cho người yêu Bạch Diệp, mà lúc sống ông không thể thổ lộ. Ông ký thác Nhất Uyên biên soạn thành tự điển tình yêu với 65 chương mục.
Tìm đọc tập thơ Tình một nhà thơ hải ngoại, hai nhà thơ lớn Việt Nam Huy Cận, Xuân Diệu trân trọng.

Tác phẩm:
— Hồ Xuân Hương, nàng là ai ? Khuê Văn Paris xb 2000.
— Nguyễn Du, mười năm gió bụi, và mối tình Hồ Xuân Hương. Khuê Văn Paris 2010.
— Truyện thơ Odyssée qua 12110 câu thơ lục bát. Khuê Văn. Paris 2005.
— Tự điển Tình Yêu bằng thơ Tình Xuân Diệu (575 bài thơ tình, trong đó 300 bài chưa xuất bản do chính Xuân Diệu ký thác) Khuê Văn Paris 2011.
— Thơ Tình Nhất Uyên, Huy Cận, Xuân Diệu đề tựa. Khuê Văn Paris. 2007.
— Chân dung Đoàn Thị Điểm, toàn tập tác phẩm. Khuê Văn Paris 2012.


Xem online : Mối tình Hồ Xuân Hương và Mai Sơn Phủ qua Lưu Hương Ký (1)