LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Trang nhà > Văn chương > Cổ học > Mối tình Hồ Xuân Hương và Trần Phúc Hiển quan Tham Hiệp trấn Yên Quảng (...)

Mối tình Hồ Xuân Hương và Trần Phúc Hiển quan Tham Hiệp trấn Yên Quảng (2)

Chủ Nhật 25, Tháng Ba 2012

Tập Hương Đình Cổ Nguyệt ở Huế chưa tìm được, tập nguyên tác của Hồ Xuân Hương bị thất lạc sau án tử hình của chồng, gia sản bị tịch biên. Tài liệu tìm được ở tủ sách gia đình ông Trần Xuân Hảo, tại Quần Phương, Hải Hậu, Nam Hà và Thư Viện Quốc Gia còn lại 10 bài thơ chữ Hán.

Tôi thử tái lập toàn bộ tập Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập, gồm các bài thơ không có trong Lưu Hương Ký:

Phần thơ chữ Hán
1 Quá Khinh Dao từ hoài cổ;
2 Bán chẩm thư hoài
3 Đề Trấn Quốc Tự
4 Giang Nam phụ níp kiêm lưu biệt hữu nhân
5 Vịnh Thạch Phu phụ
6. Tái ngoại văn châm
7. Thu vũ
8 Cố Kinh thu nhật
9 Thu nhật tức sự
10 Ngư Ông khúc hành
 
Đồ Sơn Bát Vịnh, (chép trong Phượng sơn từ chí lược và thư viện Cao Xuân Dục)
11. Đông Sơn thừa lương
12. Long tỉnh quá trạc
13 Phật động tầm u
14 Đăng Đông Sơn tự kiến ký bài I
15 Đăng Đông Sơn tự bài 2
16 Tháp Sơn hoài cổ
17 Thạch phố quan ngư
18 Cốc tự tham thiền
19 Bộ Khánh Minh tự cảm hứng
 
Thơ Vịnh Hạ Long 8 bài nay còn 5 bài. GS Hoàng Xuân Hãn tìm được trong Thư Viện QG Paris
20 Độ Hoa Phong
21 Trạo ca thanh
22 Nhãn phóng thanh
23 Thủy Vân Hương
24 Hải Ốc trù
 
Phần thơ chữ Nôm trong văn bản Landes
25 Hoa cúc bài 1
26 Hoa cúc bài 2
27 Vịnh Tiết Thanh Minh bài 1
28 Vịnh Tiết Thanh Minh 2
29 Khóc Tử Minh bài 1
30 Khóc Tử Minh bài 2
3I Khóc Tử Minh bài 3
32 Chơi Tây Hồ nhớ bạn
33 Vịnh bãi Bình Than
34 Đề núi Lã Vọng bài 1
35 Đề núi Lã Vọng bài 2
36 Vịnh tích Hằng Nga
37 Đề truyện Thị Kính bài 1
38 Đề truyện Thị Kính bài 2
39 Vịnh Hán Cao Tổ
 
Các bài thơ làm lúc cuối đời
40 Thả thuyền chơi trăng
41 Vịnh chiếc Bách
42 Tự tình 1
43 Tự tình 2
44 Trăng thu
45 Khóc ông phủ Vĩnh Tường

Chúng ta đã lục hết kho sách tại tư gia Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, Mai Am, Trương Đăng Quế, và kho sách Triều đình Huế chưa? Biết đâu còn sót một văn bản Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập?

10. Bài Vịnh Thạch Phu Phụ trong Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập, Hồ Xuân Hương tả cảnh gia đình yên ấm nơi góc biển, ngày tháng nhàn du đi thăm đây đó, đề thơ khắp non núi biển vùng Hạ Long, Đồ Sơn, Sầm Sơn. Bài Vịnh Thạch Phu Phụ có lẽ Hồ Xuân Hương tả Hòn Trống Mái ở Sầm Sơn, nàng cười cho đá Vọng Phu phải chờ chồng, nàng nghĩ rằng trời đất gắn bó tình nghĩa lâu dài, phu xướng phụ tùy như lời thề non hẹn biển, nàng muốn hỏi các hòn đá nhỏ như con cháu vợ chồng đá: lời khách dưới thuyền hỏi đá đầu non đã chứng kiến hạnh phúc lứa đôi.

Vịnh Vợ Chồng đá
Gia thất yên lành nơi góc biển,
Thong dong ngày tháng mãi nhàn du.
Đông Tây ngóng núi cùng bên vợ,
Nam Bắc trông non cười Vọng Phu.
Gắn bó nghĩa dài trời đất định,
Xướng tùy lời động biển non chờ,
Qua đây muốn hỏi đàn con cháu,
Đá ở đầu non khách dưới đò.

(Thơ Hồ Xuân Hương, Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập. Nhất Uyên dịch thơ)

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Vịnh Thạch Phu Phụ
Gia thất hoà bình lập hải ngu,
Thung dung tuế nguyệt nhất nhàn du,
Đông hồi Tây lĩnh lân đề phụ,
Bắc hướng Nam sơn tiếu Vọng Phu.
Đề đính nghĩa trường thiên địa tịnh,
Xướng tùy thanh động hải sơn thu,
Vãng lai hoặc vấn cừ tôn tử,
Thạch tại sơn đầu, nhân tại chu.

11. Bài Ngư Ông Khúc Hành, Hồ Xuân Hương không chỉ hạnh phúc, mà còn sống trong cảnh thần tiên, như người thuyền chài Vũ Lăng. Ông già đánh cá nhà quê sống đạm bạc xa lánh chốn cố đô phồn hoa, tự nhận mình cùng họ Ngư với ông chài đánh cá Vũ Lăng trong Đào Nguyên Ký (Câu Thác nhận đào yên thị hệ la:Ông Bùi Hạnh Cần dịch lầm:Lầm tưởng đào non là dây hờ, ông Đào Thái Tôn cóp-pi biến ra dây bìm bìm, dây rau muống thành câu thơ vô nghĩa, các thi tập Hồ Xuân Hương trong nước thi đua nhau chép thơ dịch ông Đào Thái Tôn chẳng chút suy nghĩ). Ông thuyền chài nói vọng sang thuyền nan người câu cá, có qua sông đừng lắng nghe tiếng đàn tỳ bà.

Qua sông đừng lắng nghe tiếng đàn tỳ bà, tiếng đàn của tiên nữ thanh tao không giống như tiếng sáo người Hồ thê lương. Đến nguồn đào trời nước mênh mang, một mái chèo ngư ông sẽ mở ra cảnh nhà tiên. Cả mùa xuân hoa lá xanh tươi trùng trùng điệp điệp cảnh thiên thai. Tiếng đàn tiên thanh tao, tiếng ốc người ngư phủ chẳng hợp nhau, nên phải chia ly. Chốn non lạnh, mái cỏ tranh buông buông, người ngư phủ trở về sông Tô Lịch nơi đó thong dong với gió mát nhàn hạ.

Khúc hát ngư ông
Già quê đạm bạc lánh phồn hoa,
Người đến mây đào cùng họ ta.
Nhắn với thuyền nan người câu cá,
Qua sông đừng lắng tiếng tỳ bà.
Qua sông đừng nghe tỳ bà,
Tiếng cao không giống sáo Hồ thê lương.
Nguồn Đào trời nước mênh mang,
Ngư ông một mái nhà tiên mở mời,
Muôn trùng xuân toả thiên thai,
Tiếng đàn vui, tiếng ốc dài buồn tênh.
Non hàn mái cỏ tranh buông,
Sông Tô đến đấy thong dong gió nhàn.

(Thơ Hồ Xuân Hương, Nhất Uyên dịch thơ)

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Ngư ông khúc hành
Dã ông đạm bạc diệc phồn hoa,
Thác nhận đào yên thị hệ la.
Ký ngữ khinh châu tòng điếu tử,
Quá giang ưng bất thích tỳ bà.
Quá giang mạc thính tỳ bà,
Cao thanh bất tự hồ già thê lương,
Đào nguyên thủy khoát thiên trường,
Ngư ông nhất trạo tiên đường bán khai.
Vạn trùng xuân toả thiên thai,
Cầm thanh lạc, giốc thanh ai bất đồng.
Hàn sơn thảo sắc thông thông,
Tô giang ký đáo thanh phong tự nhàn.

Bài thơ này có điểm thú vị là sau bốn câu thất ngôn, thơ chữ Hán cũng bằng lục bát, thể thơ chỉ có ở Việt Nam và Lào, không có ở Trung Quốc.

12 Những ngày hạnh phúc của Hồ Xuân Hương qua nhanh, chưa đến ba năm thì bỗng đâu tai hoạ đưa đến. Từ triều đình chia ra hai phe phái tranh giành quyết liệt: Phe Tổng Trấn Lê Văn Duyệt, Lê Chất và phe Tổng Trấn Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường. Vì một bài thơ ngông nghênh có câu: « Giúp nhau thay đổi hội cơ này » của Nguyễn Văn Thuyên con Nguyễn Văn Thành, bài thơ này lọt vào tay Lê Văn Duyệt trở thành cái cớ để triệt hạ phe Nguyễn Văn Thành. Vua Gia Long nghi ngờ sự trung thành của Nguyễn Văn Thành, cho rằng ông đang mưu phản: Nguyễn Văn Thuyên bị án chém, Trung Quân chỉ huy toàn quân đội Nguyễn Văn Thành phải tự tử. Binh Bộ Thượng Thư Đặng Trần Thường, bị buộc tội ẩn lậu ao đầm ở Bắc Hà, phải chịu thắt cổ. Tiến sĩ Vũ Trinh thầy dạy Nguyễn Văn Thuyên, anh rễ Nguyễn Du đang làm quan Hữu Tham Tri Bộ Hình cũng bị án giảo (thắt cổ) được giảm án đày đi Quảng Nam đến năm 1828 mới được ân xá. Tại Bắc Hà, hai nhân vật được xem là tay chân của Nguyễn Văn Thành: Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán chết bất ngờ năm 1818, tôi cho rằng ông đã tự tử, vì là bạn văn thơ của Nguyễn Văn Thuyên. Thuyên thường ra Bắc và cư trú nơi dinh Trần Ngọc Quán. Và Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển, chồng Hồ Xuân Hương, Phúc Hiển có mối liên hệ mật thiết với Nguyễn Văn Thành, vì cha là Trần Phúc Nhàn cùng trong Bộ Tham Mưu Quân Đội, đã chết trận. Phúc Hiển được Nguyễn Văn Thành che chở như con, nên bị xem là tay chân của Nguyễn Văn Thành.

Lê Chất, Tổng Trấn Bắc Thành lúc bấy giờ cùng phe phái với Lê Văn Duyệt. Án Thủ Dung chỉ huy quân đội tại Yên Quảng, tay chân của Lê Chất, xui dân kiện Tham Hiệp Trần Phúc Hiển đòi ăn hối lộ 700 quan tiền.

Sách Quốc Sử Di Biên soạn bởi viên sử quan Thám Hoa Dưỡng Hạo Phan Thúc Trực, bản chữ Hán lưu trữ tại Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội, số ký hiệu A 1045 chép:

“Quan Tham Hiệp trấn Yên Quảng bị tội tử hình, vì doạ nạt dân để lấy của. Ruộng tải Châu Vạn Ninh bị bỏ hoang nhiều. Quan Tham Hiệp Trấn ấy ép dân phá làm ruộng cày. Nhân đó đòi dân đút tiền, kể đến bạc nghìn. Dân châu này kiện. Viên Án Thủ Dung tố cáo, làm ông bị giam chặt một năm. Vợ thiếp ông tên là Xuân Hương, giỏi về văn chương và chính trị, bấy giờ nổi tiếng là tài nữ. Quan Tham Hiệp thường sai nàng dự vào việc quan. Viên Án Thủ Dung vốn sợ ghét nàng”.

Qua mấy dòng sử trên ta thấy có điểm phi lý:

  • Việc thúc đốc dân làm ruộng cày cấy là công việc của Tri Châu Vạn Ninh (ở các vùng dân tộc thiểu số Tri Huyện gọi là Tri Châu). Quan Tham Hiệp Trấn giám sát công việc của Tri Châu, nếu Tri Châu làm không xong thì trình lên cấp trên cách chức Tri Châu, dưới Tri Châu có Xã, Làng đốc thúc dân là việc của Xã Trưởng, Lý trưởng, Trương Tuần, không xong thì quan Tri Châu trị tội, việc gì Quan Tham Hiệp phải doạ nạt dân.
  • Ngày xưa việc khẩn hoang, phá ruộng cày, dân được chu cấp thóc giống, khai khẩn đất đến đâu được làm chủ đến đó, lại được ba năm miễn thuế, việc gì mà phải doạ nạt dân.
  • Nếu dân bỏ nghề ruộng đi làm nghề biển, dân trốn trên ba nghìn đảo Hạ Long, có muốn bắt cũng không bắt được.
  • Nếu ruộng bị bỏ hoang qua mấy mùa thì làng xã, biến thành công điền, làng xã quản trị. Phép Vua thua lệ làng, làng Việt Nam có một chế độ tự trị rộng rãi. Gặp trường hợp nông dân cứng đầu thì Lý Trưởng, Trương Tuần bắt đóng gông giải lên Tri Châu xử phạt bằng roi, trượng.

Ngày xưa các quan sống bằng bổng lộc. Theo Đại Nam Thực Lục, đệ tứ kỷ, nxb KHXH, Hà Nội năm 1976 tr 111, Lệ bổng đồng niên vào triều Nguyễn, Tri Châu tại Nghệ An là 5 lạng bạc. Tri Châu Vạn Ninh chắc cũng tương đương như thế. Lộc là quà thưởng của Vua, hay của dân bằng lụa, thổ sản, hay rượu. Trước cửa đối diện các huyện đường thường có quán tư nhân bán rượu. Giáo sư Võ Thu Tịnh, tác giả nhiều sách giáo khoa Miền Nam, có cha từng làm tri huyện, đã kể tôi nghe: Theo phong tục ngày xưa, khi có vụ việc, người dân mua chai rượu lễ đặt trên khay, cùng vật lễ, chi phí kiện tụng, phủ vải đỏ. Dân nào vào tay không là lính lệ đuổi ra ngay. Quan không uống rượu, nhưng sai tiểu đồng mỗi ngày ra quán đổi rượu lấy tiền, giá giảm 30% so với tiền dân trả cho chủ quán, các chai rượu cứ thế mà chạy tới chạy lui giữa huyện đường và chủ quán. Còn quà tặng cuả dân châu Vạn Ninh có chăng là một vài ký mực khô. Biên giới giữa tham nhũng và thanh liêm ngày xưa rất khó nói, tham nhũng là ra giá mỗi sự việc, thanh liêm là tự dân muốn cho gì thì cho, rất khó có bằng cớ về việc ra giá. Những vụ việc nhỏ Tri Châu đã giải quyết, lên đến Tham Hiệp chỉ có những vụ việc lớn, hay chính Tri Châu phải đi lễ cho Quan Tham Hiệp để được cai trị lâu dài. “Đời trước làm quan cũng thế a. ” Thơ Nguyễn Khuyến nói về chế độ quan lại ngày xưa, khi Vua thương thì việc gì cũng qua, khi có kẻ bươi móc, hay Vua ghét, thì Lộc trở nên tội tham nhũng. Án Thủ Dung thuộc vây cánh Lê Chất, Lê Văn Duyệt khi muốn thanh trừng Trần Phúc Hiển thì chỉ cần xúi giục dân đệ đơn kiện, nếu không có kẻ xúi giục đứng phía sau thì dân nào dám kiện Quan Tham Hiệp. Tôi cho rằng vụ việc Trần Phúc Hiển là một vụ án chính trị nằm trong cuộc tranh giành giữa hai phe phái Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Thành.

13. Bài thơ Tái ngoại văn châm, Ngoài ải nghe tiếng chày dệt vải, cho ta thấy Hồ Xuân Hương đang cảm nhận một sự việc không may sẽ xãy ra: Án thủ Dung bắt đầu xui dân đi kiện, tiếng người dân nghe đã lao xao như tiếng côn trùng: Nghe tiếng trống canh của lính ở thành bên sông, lại nghe tiếng chày đập vải trong sương, bầy nhạn hoảng hốt tung bay tứ tán, tiếng côn trùng bên vách kêu ồn ào, người chinh phu đi làm tan cơn mộng người vợ chốn khuê phòng, người đi chơi xa còn nặng mối tình cố quốc. Đắc ý biết đâu cần thang thuốc đắng, Tiếng đàn sáo còn chen lẫn tiếng gà gáy sáng:

Ngoài ải nghe tiếng chày nện vải
Chợt nghe tiếng trống lính giang thành,
Lại vẳng chày sương tiếng thậm thình.
Đứt nối nhạn bầy tung sợ hãi,
Dế trùng bên vách loạn ca thanh.
Khuê sầu chinh khách tan cơn mộng,
Nước cũ du nhân nặng mối tình.
Đắc ý biết đâu cần thuốc đắng,
Sáo đàn chen lẫn tiếng gà canh.

(Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương trong Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập. Nhất Uyên dịch thơ)

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Tái ngoại văn châm
Thúc văn giang cổ thú giang thành,
Hốt đắc hàn châm tẩu nhĩ thinh,
Tục đoạn sương trung kinh nhạn trận,
Y hy bích hạ loạn trùng thanh.
Chinh phu dục phá thâm khuê mộng,
Du tử hoàn thiêm cố quốc tình,
Đắc ý bất tri cần khổ dược,
Quản huyền vận vận gián kê minh.

14. Rồi tai hoạ xảy đến, Quan Tham Hiệp Trần Phúc Hiển bị tống giam một năm, gia sản bi niêm phong. Ông bị giam ở Bắc Thành. Và quan cai ngục là Trần Quang Tĩnh ngày trước làm Hiệp Trấn Sơn Nam Hạ, người từng muốn hỏi cưới Hồ Xuân Hương, từng khâm phục thơ văn và xướng hoạ với nàng, nhưng rồi sau đó bị đổi về Nam, năm 1809 lại thôi, nay trở ra làm Tướng, chỉ huy Tào Binh Bắc Thành, thống lĩnh toàn quân đội các trấn phía Bắc.

Bài Bán chẩm thư hoài, Nỗi niềm gối lẻ cho ta thấy nỗi lòng Hồ Xuân Hương: Vụ án chưa rõ trắng đen, chưa biết bị xử tội hay được tha còn chờ Vua Gia Long phán xét, nàng còn hy vọng như nửa trời mưa nửa trời còn trong sáng. Gia sản bị niêm phong, nàng phải ở trọ trong lữ quán. Nàng tìm đến Quan Tào Binh, Tướng Trần Quang Tĩnh, người tình từng ngâm thơ xướng hoạ với nàng, nhưng nào thấy đâu sắc tướng. Tình nàng như tình với ma, nàng bị lính lệ đuổi đi: « Tướng quân đi vắng, bà về đi ». Hai câu này Hồ Xuân Hương dùng thật tuyệt tác: đem chữ sắc tướng nhà Phật đối với chữ sầu binh thật hợp tình hợp cảnh và tài tình:
Ngâm khách hữu thần lai sắc tướng
Tình ma vô lực khước sầu binh.

Cụ Bùi Hạnh Cẩn dịch:
Bạn hát có thần cùng họp mặt
Ma tình không sức đuổi sầu binh.

Nếu bạn hát, bạn ngâm thơ đến họp mặt thì còn gì nỗi niềm gối lẻ, cụ đã hiểu ngược câu thơ: Bạn hữu có thần thế trốn mất hết.

Tôi dịch:
Ngâm khách thế thần đâu sắc tướng
Tình ma không sức đuổi sầu binh.

Trong chăn nàng đã gầy đi phân nửa. Trên chiếu nàng nằm chỉ một phần vì vắng chồng. Nỗi lòng nàng hiu quạnh không sao nói được. Tìm đâu trong trần thế người có đôi mắt xanh, sáng suốt phán quyết vụ việc của chồng nàng.

Nỗi niềm gối lẻ
Nửa trời mưa gió nửa trời thanh,
Lữ quán thê lương đến mộng lành.
Ngâm khách thế thần đâu sắc tướng,
Tình ma không sức đuổi sầu binh.
Trong chăn gầy nửa thân phong nhã,
Trên chiếu chia đôi góc biển tình,
Hiu quạnh nỗi niềm sao nói được,
Tìm đâu trần thế mắt ai xanh?

(Thơ Hồ Xuân Hương trong Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập. Nhất Uyên dịch thơ)

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Bán chẩm thư hoài
Bán thiên phong vũ bán thiên tình,
Lữ huống thê lương nhập mộng tình.
Ngâm khách hữu thần lai sắc tướng,
Tình ma vô lực khước sầu binh.
Khâm trung bán sấu phong lưu cốt,
Tháp thượng bình phân hải giốc tình,
Nhất phiến cô liêu ngôn bất tận,
Trần hoàn an đắc nhãn song thanh.

15. Sách chính sử Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ, quyển 57, tr.12a chép: Quan Tham Hiệp Trấn Yên Quảng là Trần Phúc Hiển ăn tiền hối lộ của dân đến bảy trăm quan. Sự ấy lộ ra. Vua (Gia Long) nói: « Tham nhũng như thế mà không giết, thì lấy gì mà khuyên liêm ». Bảo quan Bắc Thành trị tội, Hiển bị án tử hình.

Rồi một ngày năm 1819. Trần Phúc Hiển bị mang ra pháp trường ngoài thành Thăng Long, chàng bị bị trói vào cọc gỗ. Trên khán đài có Tổng Trấn Lê Chất và Tướng Trần Quang Tĩnh quan Tào Binh Bắc Thành. Ba hồi trống giục, đao phủ thủ đưa nhát dao, đầu chàng phụt máu đứt lìa. Có một người phụ nữ xinh đẹp khóc cười điên dại, ôm xác chồng:

Khóc chồng
Trăm năm Phúc Hiển hỡi chàng ôi,
Cái nợ phong trần vỗ trắng rồi.
Chôn chặt văn chương ba thước đất,
Phá tan hồ thỉ bốn phương trời.
Hạt sương dưới chiếu chau mày khóc,
Giọt máu trên tay mỉm miệng cười
Thân thế thôi còn chi nói nữa,
Trăm năm Phúc Hiển hỡi chàng ơi!

Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh
Paris, 22-3-2012
Email: phamtrongchanh@free.fr
Tìm đọc cùng tác giả:

  • Hồ Xuân Hương: Nàng là ai? Khuê Văn Paris 2000
  • Truyện Thơ Odyssée qua 12.110 câu thơ lục bát. Khuê Văn Paris 2005
  • Sử thi Iliade qua 17.933 câu thơ lục bát. Khuê Văn, Paris 2009
  • Thơ Tình Nhất Uyên, Huy Cận, Xuân Diệu, Đoàn Đức Nhân đề tựa Khuê Văn Paris 2008
  • Nguyễn Du, mười năm gió bụi và mối tình Hồ Xuân Hương. Khuê Văn Paris, 2010
  • Tự Điển Tình Yêu bằng thơ Tình Xuân Diệu. (Di cảo do chính XD ký thác) Khuê Văn Paris 2011

Xem online : Mối tình Hồ Xuân Hương và Trần Phúc Hiển quan Tham Hiệp trấn Yên Quảng (1)