Logo of this site

Home > Văn chương > Cổ học > Mối tình Hồ Xuân Hương và Trần Phúc Hiển quan Tham Hiệp trấn Yên Quảng (...)

Mối tình Hồ Xuân Hương và Trần Phúc Hiển quan Tham Hiệp trấn Yên Quảng (1)

Saturday 24 March 2012

1. Trần Phúc Hiển có lẽ rất đẹp trai, thông minh, sáng sủa, không phong trần râu hùm hàm én mày ngài như Từ Hải, nhưng đường đường chính chính như mặt trời mọc lúc hừng đông, nên Hồ Xuân Hương ghi lại trong Lưu Hương Ký với lời thơ trân trọng:
Bấy lâu ngưỡng mộ nay tao phùng,
Được tiếp dung nghi: nhật chính đông.

Nguyên tác:
Hàn danh cửu ngưỡng hỉ tương phùng,
Cận tiếp quang nghi: nhật chính đông.

(Ông Đào Thái Tôn và các bản dịch trong nước đều theo ông dịch xuôi: Bấy lâu ngưỡng mộ tiếng văn chương nay mừng được gặp mặt. Lại được tiếp cận với dung nghi vào buổi hừng đông. Than ôi, dịch như thế là hiểu sai ý, giết chết mất thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương còn gì, gặp nhau buổi hừng đông, hay đêm tối ba mươi có gì để nói? Ông giấu bản chính Lưu Hương Ký làm của riêng suốt bốn mươi năm, để sinh ra những con chuột nhắt, các nghiên cứu của ông phải bịt mũi mà đọc.)

Trần Phúc Hiển quen biết với Xuân Hương và đã đến thăm Cổ Nguyệt Đường từ năm 1813, khi còn là tri phủ Tam Đái (sau được đổi tên ra phủ Vĩnh Tường đời Minh Mạng). Theo tôi ông phủ Vĩnh Tường và Tham Hiệp Yên Quảng là một người, hỏi bài thơ Khóc ông phủ Vĩnh Tường tại sao không là Khóc Tham Hiệp Yên Quảng, ngày nay ta có trường hợp tương tự. Trên giấy khai tử ông Ngô Đình Diệm không ghi là Tổng Thống, hay Thượng Thư Bộ Lại mà ghi là Tuần Vũ Bình Thuận.

Hỏi tại sao mà ghi như thế, Trần Phúc Hiển chết vì bị tử hình, người đời gọi tên một chức vụ cũ để tránh tiếng.

Trần Phúc Hiển vốn dòng dõi thi thư, con Trần Phúc Nhàn, nguyên giữ chức tham mưu trong quân đội chúa Nguyễn Ánh, có lẽ tử trận trước khi chúa Nguyễn khôi phục Phú Xuân. Tháng 7 năm Quí Hợi 1803, Vua Gia Long đền công cho con là Phúc Hiển được bổ chức Hàn Lâm thị thư (Theo Đại Nam thực lục Chính Biên, q 22/1b), sau đó được thăng Tri phủ Tam Đái, tháng 12 năm 1813, Gia Long năm thứ 12 được thăng chức Tham Hiệp Trấn Yên Quảng tức Quảng Yên, vùng Vịnh Hạ Long ngày nay. Tại một trấn nhỏ như Quảng Yên không có chức Hiệp Trấn mà đứng đầu là chức Tham Hiệp. Quảng Yên đời Vua Gia Long chia làm ba huyện Yên Hưng, Hoành Bồ, Hoa Phong và ba châu phía Bắc là Vân Đồn, Tiên Yên, Vạn Ninh, nay là Hà Cối và Móng Cái, dân sắc tộc Nùng đa số sống về nghề chài cá.

2. Mười năm 1801-1811 lận đận tự dối mình như ăn trộm bịt tai đi trộm chuông (thập tải phong trần quán nhĩ linh), vì chiến cuộc Hồ Xuân Hương phải lấy lẽ Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà ở Vĩnh Yên, vợ cả ghen tuông, chịu đấm ăn xôi, nhưng Tổng Cóc, hùng hổ như chó ngao mà làm tình như chuột vọc, "tiếc dĩa hồng ngâm cho chuột vọc, thừa mâm bánh ngọt để ngao vầy", nàng phải dệt vải, tát nước như kẻ làm mướn, nàng đau ốm như nàng Tiểu Thanh, nhận được thơ Nguyễn Du, bài Độc Tiểu Thanh Ký, nàng dứt khoát dứt tình với Tổng Cóc, như nòng nọc đứt đuôi, dù chàng Tổng Cóc có cho ngàn vàng cũng không trở về như cóc bị bôi vôi không bao giờ trở lại chốn cũ. Về Cổ Nguyệt Đường viết bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn gửi Nguyễn Du thì chàng đã đi xa. Xuân Hương mượn 5 quan tiền của Phạm Đình Hổ mở quán sách ở Phố Nam thành Thăng Long cạnh trường ông nghè Phạm Quý Thích, gần đền Lý Quốc Sư ngày nay, nàng bán sách, giấy bút cho học trò, bán cả tranh tố nữ, bán quạt. Nhưng tiệm sách ế ẩm vì bọn thư sinh trường ông Nghè Phạm, cứ đến ngắm bà chị xinh đẹp mê mẫn tâm hồn bằng xương bằng thịt, chẳng thèm đến em tranh tố nữ, dù chị cũng xinh mà em cũng xinh, chẳng thèm mua sách Bích Câu Kỳ Ngộ để mơ có một Giáng Kiều hiện ra, thì sách Nữ Tú, Phương Hoa, Tuyển Phu, Chinh Phụ cũng đành ế ẩm, nàng quảng cáo bán quạt các em cũng chẳng thèm mua. Các em mê mẩn bà chị, bị bà chị mắng cho một câu: "dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa", thì còn mặt mũi nào dám đến tiệm sách bà chị. Nàng chỉ bán cho các quan: quan thị, quan hậu bổ. Quan thị, mất cái giống, thất nghiệp vì triều đại đã tàn; quan hậu bổ, chưa nhậm chức còn ăn lương vợ, thì buôn bán được gì? Tốn Phong đã từng đến thăm hiệu sách này năm 1807: "Biết nhau Nam phố mười năm trước, hoa đào thuở ấy cách nguồn Tiên", thuở ấy nàng không ở Cổ Nguyệt Đường. Túng thiếu, « mẹ già, nhà túng, ăn ở không yên ổn » nàng phải quay ra buôn hàng chợ, gia nhập tầng lớp phụ nữ thương gia thời bấy giờ, đang phát triển, mang sách, vở Hàng Gai, tơ lụa Nghi Tàm, lĩnh đen làng Bưởi bán chợ phiên, bán các hội làng, bán cho các phú hộ, các quan trấn lỵ. Nàng đi rất nhiều nơi: từ Nam Định, đến Tuyên Quang, Hưng Yên, Thanh Hoá nàng qua các địa danh đèo Ba Dội, Đá ông chồng bà chồng, Kẽm Trống, quán Khách, trên đường đi để đùa bỡn cùng chị em thương gia nàng đã để lại những bài thơ đùa bỡn tuyệt tác, vang xa như tiếng chuông của kẻ ăn trộm bịt tai đi trộm chuông. Nhưng cuộc đi buôn của nàng phải chấm dứt khoảng năm 1811, vì tình hình vùng Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ bị bất an vì có cuộc khởi nghĩa của Đặng Trần Siêu, Võ Đình Lục (1810-1822), họ thường ra chận đường các thương nhân phụ nữ đòi tiền mãi lộ, có khi tịch thu cả vốn liếng, lẫn cả người.

Năm 1811, bất ngờ Tử Minh, người bạn cùng làng Nghi Tàm, còn gọi là Cả Tân, có vợ và em gái là bạn thân của Xuân Hương, mất năm 40 tuổi để lại hai đứa con thơ và một lớp học đông đảo học trò, nàng viết ba bài thơ Khóc Tử Minh (văn bản Landes), làng xóm mời nàng tiếp tục dạy chữ thánh hiền cho con em. Lớp học Cổ Nguyệt Đường lại khai giảng đông đảo, nàng bỏ nghề đi buôn. Đầu năm cha mẹ đến lễ tết cô giáo, phần ruộng học điền làng Nghi Tàm chu cấp hoa lợi cho nàng. Các quan, các danh sĩ, bỗng nhiên đến thăm nàng nườm nượp, từ quan tri phủ Thường Tín Nguyễn Du đến tìm nàng nối lại duyên xưa nhưng không gặp, đến quan Hiệp trấn Sơn Nam Thượng đến làm thơ khen nàng: "Tài cao nhả phượng thế gian kinh", quan Hiệp trấn Sơn Nam Hạ Trần Quang Tĩnh cầu duyên, quan Tri phủ Tam Đái Trần Phúc Hiển hứa cưới nàng, còn biết bao nhiêu ong bướm như Tốn Phong, Chiêu Hổ, Nguyễn Án, Nguyễn Thạch Hiên, Hoàng Hy Đỗ, Phạm Quý Thích. Nàng chiêu tập cả một tao đàn Cổ Nguyệt Đường 28 vị đến xướng hoạ, Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán làm thi tướng. Có kẻ chê nàng là "thèo đảnh", đàn bà mà dám mở "phòng khách Văn Chương" tiếp đàn ông, làm thơ phú.

3. Hai bài thơ Cảm cựu tống tân xuân chi tác. Cảm nhớ chuyện cũ đưa xuân mới, ghi lại tâm sự của Hồ Xuân Hương năm 1813-1814:

Bài I:
Xuân này nào phải cái xuân xưa,
Có sớm ừ thì lại có trưa.
Cửa động hoa còn thưa thớt bóng,
Đường thoa oanh khéo dập dìu tơ.
Phong lưu trước mắt bình hương nguội,
Quang cảnh trong đời chiếc gối mơ,
Cân vàng nửa khắc xuân lơ lửng,
Phố liễu trăm đường khách ngẩn ngơ.
 
Bài II:
Mới biết vị đời chua lẫn ngọt,
Mà xem phép tạo nắng thì mưa.
Tri âm đắp nửa chăn còn ngắn,
Bức vách nghe thầm tiếng đã thưa.
Nếm mía vụ này ngon những ngọn,
Trông gương ngày nọ bẵng như tờ,
Xưa nay còn có đâu hơn nữa,
Hay những từ đây phải thế chưa.
 
(Thơ Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương Ký)

Chú Thích:
Đề bài thơ này có điểm lạ là người ta thường nói "Tống cựu nghinh tân", tiễn năm cũ, mừng xuân mới, ở đây Xuân Hương nói: nhớ chuyện cũ, tiễn xuân mới, để nói nỗi cay đắng của nàng trước chuyện đã qua trong mười năm lận đận, xưa người ta đồn đãi nói xấu nàng, nay kính phục nàng.
Nếm mía: Ca dao có câu: mía tháng ba ngọt ra đầu ngọn, mía chính vụ vào dịp trước Tết.
Gối mơ: hay gối du tiên. Đời Đường nước Quy Tư có triều cống một cái gối đỏ như mã não, mà trong như ngọc, nằm gối đầu thì mơ thấy đủ tám châu, chín đảo, bốn bể, năm hồ. Vua cho là quý lắm mới đặt là Du Tiên Chẩm.

Hết cơn bĩ cực, đến hồi thái lai, mùa xuân năm nay không còn như những mùa xuân năm xưa, mười năm lận đận, nhìn lại những ngày khổ cực, nàng chua chát cho mối tình đến muộn màng, lúc này Xuân Hương đã trải qua nhiều kinh nghiệm nhân sinh, nhất là về tình ái, trước mắt nàng là bình hương nguội, tựa như lòng tưởng như không còn yêu ai được nữa, đã lạnh với phong lưu. Gặp một người đúng như mình mơ ước thật là khó. Ở tuổi tưởng đã muộn màng, bổng dưng treo giá ngàn vàng, nhiều mối duyên quá khiến cho nàng ngơ ngẩn.

Cuộc đời suy nghiệm nàng thấy, có những vị chua lẫn vị ngọt, như trời đất có nắng thì mưa. Dù chưa phải là tri âm hoàn toàn như mình mong muốn, những lời chê bai nàng thì thầm nay tiếng đã thưa dần. Nàng đã tìm được người tâm đầu ý hợp: quan tri phủ Tam Đái, như vụ mía ngon ngọt tới đầu ngọn, so với ngày xưa đời vắng lặng soi gương lạnh ngắt một mình. Còn có mối tình nào hơn thế nữa, nàng tự hỏi từ nay đã phải như thế chưa?

4. Một bài thơ không tựa trong Lưu Hương Ký ghi lại tâm sự nỗi lòng xao xuyến thắc mắc lần gặp gỡ dầu tiên, chàng ở sông Bắc, nàng ở lầu Nam, sông Bắc là hướng phủ Tam Đái, lầu Nam là ở thành Thăng Long, cho phép tôi xác định nàng làm bài thơ này sau khi gặp Tri phủ Tam Đái Trần Phúc Hiển lần đầu tiên, tôi lấy chữ trong bài thơ làm tựa:

Sầu riêng
Thắc mắc sầu riêng khó gỡ ra,
Đèn tàn khêu mãi thấy thêm hoa.
Muốn về nhưng có về sau đến,
Biếng nói song le nói được mà.
Sông Bắc trông chừng chênh bóng thỏ,
Lầu Nam nghe tiếng trống canh gà,
Trăm năm gặp gỡ là bao nả,
Thắc mắc sầu riêng khó gỡ ra.
 
(Thơ Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương Ký)

Lần gặp gỡ đầu tiên, nàng canh cánh bên lòng, như vướng phải tơ tình, khó gỡ mối tơ ra. Thức bên đèn, khêu thêm ngọn bấc cho đèn cháy sáng lòng rộn rã, giấc mơ hoa tình yêu. Gặp chàng lòng muốn về, nhưng cứ lưu luyến không về được. Gặp nhau, nhìn nhau trong mắt hiểu lòng nhau nhưng nói chẳng nên lời. Phía sông Bắc, phủ Tam Đái nơi chàng trấn nhậm vầng trăng chênh chếch bóng. Lầu Nam thành Thăng Long tiếng trống canh gà gáy sáng. Trăm năm có biết duyên gì với nhau, mà lòng rối như tơ vương khó gỡ ra.

5. Sau ba năm trấn nhậm phủ Tam Đái, tháng chạp năm Quý Dậu. Trần Phúc Hiển được thăng chức Tham Hiệp trấn Yên Quảng. Phép trị gia ngày trước, vợ cả không theo chồng tại chức, mà ở lại quê chăm sóc gia trang, sai khiến tôi tớ. Đầu năm Giáp Tuất (1814) Phúc Hiển rời phủ Tam Đái, Việt Trì ngày nay dong thuyền qua Thăng Long để ra Yên Quảng nhậm chức mới. Khi qua Thăng Long chàng rủ bạn tình Xuân Hương cùng đi, khi gần đến trấn lỵ bên sông Bạch Đằng, sợ dư luận dị nghị, chàng để lại bạn tình ở lại Yên Quảng trở về, và hứa hẹn sau khi ổn định, sẽ rước nàng về Vịnh Hạ Long. Lúc này Hồ Xuân Hương còn phải cư tang mẹ một năm. Ba bài thơ lưu dấu các địa danh: Lục giang, Bạch Đằng Giang, Yên Quảng, Yên Hưng cho ta xác định Hồ Xuân Hương làm trong chuyến du hành này.

Bài thơ chữ Hán, chép trong mục Xuân Hương hoạ thơ, không đề tựa, tôi theo ý trong bài đặt tựa:

Tương phùng quan Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển
Bấy lâu ngưỡng mộ nay tương phùng,
Được tiếp dung nghi: nhật chính đông.
Nhã ý biết nhau lòng đạm bạc,
Chén tình vừa nhấp đã say nồng,
Châu ta thanh khí cùng tương đắc
Chung đúc tài tình một chữ đồng.
Tay nắm nói đi, chàng chớ ngại,
Lục giang một biệt cách ngàn trùng.
 
Nguyên tác:
Hàn danh cửu ngưỡng hỉ tương phùng,
Cận tiếp quang nghi: nhật chính đông.
Hậu ý vĩ giao tri thủy đạm,
Tình hoài sơ ẩm giác đôn nồng
Ngô châu thanh khí hoàn tương thượng,
Ngã bối tài tình chính sở chung.
Ác thủ dàm tâm quân mặc quái,
Lục giang nhất khứ thủy thiên trùng.
 
(Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương Ký. Nhất Uyên dịch thơ)

Chú thích:
Hàn danh, tiếng danh họ Hàn Kinh Châu. Lý Bạch có câu: Tôi từng nghe được phong tước Hầu muôn hộ, không bằng một lần gặp được ông Kinh Châu họ Hàn. Về sau Hàn danh, chỉ lòng ngưỡng mộ vô bờ.

Bấy lâu ngưỡng mộ tiếng văn chương, nay mừng được gặp mặt, tiếp cận với dung nghi bậc quân tử đường đường chính chính như mặt trời mọc hướng đông buổi sáng. Vốn sẵn nhã ý biết nhau tính tình thanh đạm, chén tình vừa nhấp đã say nồng nàn. Thanh khí của châu ta còn được ưa chuộng, tài tình chúng ta chung đúc nơi đây. Câu này cho biết Phúc Hiển cũng gốc vùng Châu Hoan (Nghệ Tĩnh). Cầm tay thố lộ nỗi lòng chàng ơi chớ ngại. Vì sau khi chàng tới Lục Đầu Giang, gần nơi trấn nhậm, em phải trở về, đôi ta lại xa nhau non nước nghìn trùng.

6. Trần Phúc Hiển đã đáp lại thơ Hồ Xuân Hương. Bài này chép lẫn lộn trong Thơ xướng hoạ Trần Hầu, theo tôi đó là thơ Trần Phúc Hiển, bài thơ hoạ nguyên vận thơ Hồ Xuân Hương, và có chữ thiên biên nguyệt: trăng trời biển, tây nham: non Tây chỉ vùng vịnh Hạ Long. Cụ Bùi Hạnh Cẩn dịch bài này thật xuất sắc, sát từng câu từng chữ không ai thể hơn được.

Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển hoạ thơ Xuân Hương
Người đẹp nhà hoa lại gặp cùng,
Non mai bóng lạnh buổi đầu đông.
Chưa từng gặp mặt lòng đà mến,
Há phải trao thơ ý mới nồng.
Chưa khỏi tiệc xuân đôi mắt lệ,
Ai khua đài Phật tiếng chuông rung.
Ân cần lưu lại trăng trời biển,
Một biệt non Tây lại vạn trùng.
 
Nguyên tác:
Hoa viện hoa nhân thử độ phùng,
Lĩnh mai hàn ảnh nhập sơ đông.
Vi tằng đố diện tâm tiên mộ,
Khởi dẫn liên thi ý thủy nồng.
Xuân tịch vi ly song nhãn lệ,
Phật đài thùy hoán sổ thanh chung,
Ân cần lưu thủ thiên biên nguyệt,
Nhất biệt tây nham hựu vạn trùng.
 
(Thơ chữ Hán Trần Phúc Hiển trong Lưu Hương Ký. Bùi Hạnh Cẩn dịch)

7. Bài thơ chữ nôm Lưu biệt thời tại Yên Quảng, Hưng ngụ thứ, Hồ Xuân Hương ghi lại phút giây chia tay với Trần Phúc Hiển

Lưu biệt Trần Phúc Hiển tại Yên Quảng
Người về người ở khéo buồn sao
Tức tối mình thay biết lẽ nào.
Tơ tóc lời kia còn chửa hết,
Đá vàng lòng nọ xiết là bao.
Nỗi con riêng giận ngày trời ngắn,
Mỏi mắt chờ xem bóng nguyệt cao.
Sớm biết lẽ trời: ly có hợp,
Thì mười năm trước bận chi nao.
 
(Thơ Hồ Xuân Hương, trong Lưu Hương Ký)

Chàng đã đi rồi, mình ta ở lại buồn vời vợi, giận mình nhưng biết phải làm sao. Lời hẹn thề se tơ, kết tóc chưa nói hết. Duyên đá vàng lòng chàng có chung thủy như lời chăng? Giận ngày trôi quá nhanh phút giây bên chàng. Đêm mỏi mắt trông bóng trăng lên cao. Nếu biết lẽ trời, có biệt ly rồi có hợp, thì mười năm trước không thôi thúc với tình duyên mà dấn thân vào cuộc đời lận đận.

8. Bài thơ Bạch Đằng Giang tặng biệt ghi nỗi lòng Hồ Xuân Hương lo lắng trước mối tình Trần Phúc Hiển.

Bạch Đằng Giang tặng biệt
Khấp khểnh đường mây bước lại dừng,
Là duyên là nợ phải hay chăng?
Vin hoa khéo kẻo lay cành gấm,
Vục nước xem mà đọng bóng trăng.
Lòng nọ chớ rằng mây lạt lạt,
Lời kia nay đã núi giăng giăng.
Với nhau tình nghĩa sau cho trọn,
Chớ thói lưng vơi cỡ nước Đằng.
 
(Thơ chữ nôm Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương Ký)

Hồ Xuân Hương trở về, bước đi một bước lại dừng lại, nàng phân vân không biết là duyên nợ hay chăng, nàng sợ chàng vin hoa lay cành, vục nước rung trăng, chàng chỉ theo tình dục. Lời chàng phải chăng là lời hứa hẹn dông dài vu vơ: mây lạt lạt, núi giăng giăng. Nàng mơ ước chàng ở với nhau tình nghĩa sau cho trọn, chớ thói lưng vơi như nước sông Bạch Đằng khi lên cao khi xuống thấp, như nước Đằng thời Xuân Thu Chiến Quốc bị kẹt giữa hai nước lớn Tề và Sở, không biết thân Tề hay thân Sở, nay nói thế này, mai nói thế khác. Tình cảnh chàng bên vợ cả, bên người tình, chàng nói với mình thế này nhưng biết đâu trước vợ cả chàng lại đổi khác.

9. Niềm lo lắng của Xuân Hương không còn nữa, sau khi nàng mãn tang mẹ, Trần Phúc Hiển đã giữ lời hứa. Đầu năm 1816 Quan Tham Hiệp rước nàng về trấn lỵ Yên Quảng bên bờ sông Bạch Đằng. Là bà lớn trấn Hải Đông, được chồng kính mến, nàng ngồi sảnh đường giúp chồng giải quyết các việc quan, nàng thường bên chồng cố vấn các vụ kiện.

Nàng du ngoạn khắp Vịnh Hạ Long làm 8 bài thơ (nay còn lại 5), chín bài thơ Vịnh Cảnh Đồ Sơn và khoảng 40 bài khác góp lại thành Hương Đình Cổ Nguyệt Thi Tập. Một tập thơ gồm những bài vịnh cảnh đứng đắn, đầy chất thơ và thi hứng phong phú. Có lẽ tập thơ này được truyền đến kinh đô Phú Xuân, nên các nhà thơ đương thời như Trương Đăng Quế, Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, các nhà thơ Trung Quốc có mặt tại Phú Xuân như Trương Bỉnh Thuyên, Hoàng Diệu Khuê kính phục, đã đem thơ Mai Am Công Chúa nữ sĩ tức Lại Đức Công Chúa tên Trinh Thận tự Thúc Khanh, con gái thứ mười Vua Minh Mạng sánh với Phạm Lam Anh và Hồ Xuân Hương. Dĩ nhiên không thể sánh một công chúa triều đình với một nhà thơ dâm tục, thơ quỷ, thơ đùa bỡn được. Do đó ở kinh đô Phú Xuân thế kỷ 19, giới thi nhân chỉ biết đến Hồ Xuân Hương là một nhà thơ đứng đắn:

Bài tựa của Quảng Khê Trương Đăng Quế, quan Đại thần suốt ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, năm 1863 đã viết trong bài tựa cho Diệu Liên thi tập của nữ sĩ Mai Am, ông Trần Thanh Mại trong NCVH số 3-1963 dịch như sau:

« Xem nuớc Nam ta mở mang bờ cõi đã hàng trăm, hàng nghìn năm, trong khoảng thời gian ấy, đứng về thơ của phụ nữ mà nói thì trườc kia chỉ có Phạm Lam Anh và gần đây có Hồ Xuân Hương hai người mà thôi, không hề nghe nói đến ai nữa.

. Tôi bèn đem tập thơ của Mai Am ra bình duyệt, xem cách dùng ý dùng lời đều thấy như tự trời đặt sẵn, tứ thơ tràn trề như suối nước chảy, rõ ràng là hơn cả Lam Anh và Xuân Hương. Tôi liền cầm bút mà viết bài tựa này. »

Trong Diệu Liên thi tập cũng có bài thơ ca tụng của một người Trung Quốc là ông Giải Nguyên Cầm Thương Thị Hoàng Diệu Khuê, người Tân Môn đề, tôi dịch:

Câu đẹp lời thanh thơ mỗi mới,
Gió mây trăng móc thấu tinh thần,
Tài tình vượt cả thơ Hồ, Phạm,
Ban, Tả ngày nay có thế nhân.

Tài thơ Lại Đức công chúa vượt cả Hồ Xuân Hương và Phạm Lam Anh, mà ngay cả nàng Ban Chiêu đời Đông Hán, nàng Tả Phận đời Tấn, đến nay đã có người thay thế rồi. Thơ Phạm Lam Anh tập Chiến Cổ Đường đã bị thất lạc chỉ còn lưu lại hai bài thơ viết về Kinh Kha và Khuất Nguyên, ta không bàn đến thơ Mai Am công chúa, nhưng lời tựa trên chứng tỏ sự trân trọng Hồ Xuân Hương đối với các nhà thơ đương thời. Và tinh thần tôn trọng ấy hoàn toàn khác biệt với một Hồ Xuân Hương từ năm 1913 sau khi ông lái buôn Nguyễn Ngọc Xuân lập nhà xuất bản Xuân Lan in thơ Hồ Xuân Hương, và năm 1917 Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, trong Giai Nhân Dị Mặc, sữa chữa cho trơn tru các bài thơ kém cỏi, bịa ra một cuộc đời Hồ Xuân Hương xấu xí, như ông đã bịa ra cái tựa của Trần Nhật Duật cho một quyển tiểu thuyết Trung Quốc Lĩnh Nam Dật Sử để biến thành tiểu thuyết đời Trần gây nên sự lầm lẫn cả một thế kỷ.


View online : Mối tình Hồ Xuân Hương và Trần Phúc Hiển quan Tham Hiệp trấn Yên Quảng (2)