Trang nhà > Nhân văn > Dưỡng sinh > Ngũ Hành Khí Công

Ngũ Hành Khí Công

Chủ Nhật 16, Tháng Năm 2010

Hướng dẫn tập bài Ngũ Hành Khí Công

Bộ Ngũ Hành Khí Công là một bộ nhu công nội gia tâm pháp của Y Thuật cổ truyền. Bộ khí công này lúc lưu truyền trong dân gian còn có những tên khác đó là Thái Cực Khí Công, Thái Cực Ngũ Hành Khí, Ngũ Hành Lục Tự Quyết... Thái Cực Lục Tự Khí. Dù mang tên gọi như thế nào thì hầu như bộ khí công này rất ít thay đổi về hình thức và kỹ thuật thâu nhiếp hô hấp.

Bộ Ngũ Hành Khí Công nhu nhuyễn, nhẹ nhàng, trầm nhiếp và rất an nhiên giao hoà. Đây là một bộ khí công có công năng điều hoà âm dương rất diệu ảo và tối thượng. Mặc dầu các động tác đơn giản, chậm rãi và bình dị, thuận theo sự vận động tự nhiên của cơ thể, nhưng có khả năng khai mở, điều hoà rất cao.

Sở dĩ bộ khí công này còn có tên gọi là Ngũ Hành Lục Tự Quyết hay là Thái Cực Lục Tự Khí là vì Tâm Pháp của nó dựa vào 6 chữ mà hành công: An nhiên như CÂY cỏ, Bồng bềnh như GIÓ thoảng, Trầm vững như NÚI non, Êm đềm như mặt HỒ, Bao la như BIỂN cả và Bình thản như Mây trôi.

6 chữ : Cây-Gió-Núi-Hồ-Biển-Mây mang các hành như sau:
Cây là hành Mộc ứng với Can Đởm (gan-túi mật) trong cơ thể
Gió là hành Hoả ứng với Tâm và Tiểu trường (Tim và ruột non)
Núi là hành Thổ ứng với Tỳ-Vị ( bao tử và lá lách)
Hồ là hành Kim ứng với Phế-Đại trường (Phổi và ruột già)
Biển là hành Thủy ứng với Thận-Bàng quang (Thận và bọng đái)
Và Mây là hành Hoả ứng với Tam tiêu (Thủy lưu trong công thể)

Bởi vì 6 chữ mang hình tượng của tự nhiên trong tâm pháp của bộ khí công này lại ứng 6 chữ trong Lục Tự Khí Công, đó là HƯ (mộc), HA (hoả), HÔ (thổ), HI (kim), SUY (thủy), HU (hoả), cho nên dân gian nhầm mà gọi tên bộ Quyền này là Thái Cực Lục Tự Khí hay là Ngũ hành Lục Tự Quyết, và một vài người nhầm bộ khí công này là Bộ Tĩnh Công Lục Tự Quyết là Đệ Tứ trong ngũ đại tuyệt nghệ khí công (1. Dịch cân kinh, 2. Bát đoạn cẩm, 3 Ngũ cầm hý, 4. Lục Tự Quyết, 5. Ngũ Hành Khí Công).

Bộ Ngũ hành Khí công, hành công liên tục không ngưng nghỉ như các bộ khí công khác. Bắt đầu khởi công từ chữ CÂY (mộc) và kết thúc bởỉ chữ MÂY (hoả). Có nghĩa là hành công theo Ngũ hành tương sinh mà bắt đầu từ hành Mộc theo thứ tự (Mộc-Hoả-Thổ-Kim-Thủy-Hoả).

Người luyện tập môn khí công này chỉ cần lưu ý hai điểm cơ bản rất đơn giản đó là Chữ gì ứng với cơ quan nào trong cơ thể là được, để khi mình có bệnh hay mất cân bằng âm dương ở bộ phận nào, thì lúc hành công tăng cấp số của chữ tương ứng lên nhiều lần để điều hoà trực tiếp vào nơi bị bệnh, ví dụ: bệnh về Gan, Thận, đau nhức, nhiễm độc... thì lúc hành công tăng động tác của chữ "cây" và chữ "biển" lên nhiều lần hơn các chữ khác là được.

Điểm thứ hai là lúc hành công đến CHỮ nào ngoài việc giữ hơi thở vào ra đều đặn tự nhiên, thì nên hướng niệm tâm cảnh vào ý nghĩa của chữ ấy, ví dụ lúc hành công đến chữ Biển thì nghĩ về biển, lúc hành công đến chữ Mây thì nghĩ về mây, đến chữ Gió thì nghĩ về gió.

Quá trình trì luyện như vậy, không những âm dương ngũ hành đều hoà mà còn đưa trạng thái của cơ thể và tâm thức hoá nhập vào cảnh giới của tự nhiên. Lúc đó thân thể và tinh thần sẽ đạt được cảnh giới như Tâm Pháp đã đề ra: An Nhiên-Bồng Bềnh-Trầm Vững-Êm đềm, Bao la và Bình Thản đó chẳng phải là cảnh giới của sự Trường Cửu và Hạnh Phúc đó ư ?

Về vấn đề thâu nhiếp hơi thở, thì tuân theo hơi thở tự nhiên hài hoà với động tác chuyển động của cơ thể. Hít vào thở ra đều bằng mũi, miệng luôn ngậm lại.

Thực ra lý luận thì rắc rối vậy nhưng cách luyện tập rất đơn giản, dễ hiểu, đơn giản, nhẹ nhàng, không tổn sức và tốn rất ít thời gian. Chỉ có điều lúc luyện tập nên để thoáng cửa hoặc đến những nơi có không khí trong lành thoáng mát thì tốt hơn.

Quảng Nhẫn Thuận Nghĩa