Trang nhà > Bạn đọc > Hải ngoại > Nguyễn Cao Kỳ trả lời phỏng vấn ngày 21-9-2006

Nguyễn Cao Kỳ trả lời phỏng vấn ngày 21-9-2006

Thứ Năm 4, Tháng Giêng 2007

VW: Sau đại hội đảng lần thứ 10 trong mùa hè vừa rồi, kế tiếp đến là việc tổng thống George W. Bush sẽ viếng thăm Việt Nam trong dịp tham dự hội nghị APEC vào tháng 11 sắp tới đây, và trước cả sự kiện này, là việc một loạt các yếu nhân của Hoa Kỳ, như chủ tịch quốc hội Dennis Hastert, ngoại trưởng Condoleezza Rice, bộ trưởng quốc phòng Donald Rumsfeld và thượng nghị sĩ John McCain, đã viếng thăm Việt Nam một cách liên tục, gần như hết người này tới người khác, vậy thì, dưới con mắt của một người đã từng nắm quyền cai trị quốc gia, những dấu hiệu này, theo ông, nói lên điều gì? Có phải Việt Nam là một trường hợp nổi bật trong quan tâm đối ngoại của Mỹ, hay chỉ là việc bình thường mỗi khi Mỹ chuẩn bị cộng tác với bất cứ một quốc gia nào khác?

NCK: Với kinh nghiệm của tôi, mỗi khi những chuyện như anh vừa nói xảy ra, thì không phải tự nhiên mà có những chuyện đó đâu. Bởi vì, trước ông quốc phòng, trước bà ngoại trưởng, trước những nhân vật lớn nữa, đã có nhiều những người đi trước rồi. Và những ông này lại cũng chỉ sửa soạn cho ông tổng thống thôi. Tôi chắc chắn rằng ông Bush đi chuyến này, tuy gọi là tham dự APEC, nhưng mà lại xảy ra ở Việt Nam, ông sẽ thăm viếng Việt Nam luôn. Vì vậy, thế nào cũng có một cái gì đó [sẽ xảy ra] ở trong Việt Nam, chứ không phải tự nhiên. Cũng như trước đó, ông tổng thống Mỹ, mời ông Phan Văn Khải vào tòa Bạch Ốc, là có bao nhiêu chuyện sửa soạn, thảo luận, đồng ý rồi trước đó, chứ không phải đơn giản là một ông tổng thống Mỹ tự nhiên mời một ông thủ tướng của nước Việt Nam, thù hận lúc trước, vào tòa Bạch Ốc uống nước trà, bông-xu bông-xoa, rồi đi về đâu. Tất cả những chuyện đó phải có những thỏa thuận trước với nhau.

VW: Thì rõ ràng là như vậy, nhưng đối với kinh nghiệm đối ngoại, nhất là sự hiểu biết về chính sách và lối hành xử của nước Mỹ thì đứng trước sự kiện có nhiều yếu nhân qua lại ở một mực độ thường xuyên mạnh mẽ như vậy, chúng ta có thể kết luận được gì về quan hệ Mỹ-Việt so với quan hệ của Mỹ với những nước khác trên thế giới hay không?

NCK: Không thể so sánh với các nước khác, bởi vì họ đã có quan hệ bình thường với Mỹ rồi. Việt Nam chưa có sự bình thường đó. Đặc biệt Việt Nam lại đã từng với Mỹ là hai kẻ đối thủ với nhau. Thành không thể so sánh với các nước khác được. Tuy nhiên, vì vậy mà hành động của các giới cao cấp Mỹ trong thời gian qua với Việt Nam, lại có một tính cách đặc biệt hơn so với các nước khác.

VW: Đặc biệt như thế nào?

NCK: Đặc biệt là bây giờ mới bắt đầu một trang sử mới. Ngay cả đối với trường hợp của Cuba, tình trạng như cũ đã mấy chục năm nay rồi. Bây giờ với Việt Nam, là một tình trạng đổi mới hoàn toàn. Có thể nói rằng “đã bước sang một giai đoạn mới của lịch sử.”

VW: Nhiều người ở hải ngoại thấy những hành động đó mà suy đoán rằng Mỹ đang có một thỏa thuận ngầm gì với Việt Nam, để Việt Nam trở thành đồng minh của Mỹ trong một cuộc đối đầu với Trung Quốc có thể xảy ra trong tương lai. Ông nghĩ sao về nhận định đó?

NCK: Chúng ta không nên đi xa để nói tới cái chuyện đó. Tôi cũng hiểu là người Việt Nam, ai cũng nghĩ ngay tới chuyện đó, nhưng theo tôi, chúng ta không nên nghĩ theo chiều hướng đó.

VW: Tại sao?

NCK: Bởi vì, nếu suy nghĩ theo chiều hướng đó, rồi nói lên để mọi người tin rằng đó là chiều hướng đang đi tới của Việt Nam và của Mỹ, và nếu đó là sự thật, thì [Việt Nam] sẽ gặp rất nhiều trở ngại ở từ phía Trung Quốc. Mà tôi thấy rằng, là người Việt Nam, chúng ta không nên để chuyện đó xảy ra. Ai cũng hiểu rằng trong chiều dài lịch sử của Việt Nam, chúng ta đã gặp rất nhiều khó khăn với “người anh em ở phương Bắc.” Thì có lẽ rằng ở thế kỷ mới này, mọi chuyện đã đổi khác rồi. Thế kỷ này là thế kỷ của “cộng đồng nhân loại” mà. Nó không còn như ngày xưa nữa, tức là mỗi lần gặp chuyện khó khăn với người anh em Trung Quốc là ông cha ta cứ phải một mình đối chọi mà thôi. Ngày hôm nay, không phải chỉ có Mỹ, mà chúng ta có cả một cộng đồng thế giới để bao che và ủng hộ. Nếu chúng ta bị, nhất là người to lớn sát biên giới mà nói thẳng là định “nuốt” chúng ta. Nếu là người Việt Nam, tôi hoàn toàn nhìn thấy mối đe dọa đó, nhưng mà để chống cự lại, tôi không còn phải “đu dây” giữa Tàu với Nga hay là giữa Tàu với Mỹ nữa. Bởi vì ở thế kỷ này, chúng ta phải dựa vào cộng đồng nhân loại thế giới để bảo vệ sự độc lập của chúng ta, thì tôi thấy dễ dàng hơn. Tất nhiên, chúng ta cũng hiểu rằng Mỹ là quốc gia đứng đầu thế giới. Mỹ có vai trò hết sức quan trọng. Nếu chúng ta quay lại thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, tức là phải chọn đi theo Tàu, đi theo Mỹ, hay đi theo Nga, thì chúng ta sẽ suy yếu. Chúng ta bây giờ phải dựa vào cả cộng đồng nhân loại thì sự bảo vệ lãnh thổ và độc lập của chúng ta sẽ vững vàng hơn. Tất nhiên, trong đó có những người bạn, thì nên tìm cách gắn bó nhiều hơn, như Mỹ, như Đức, hay cả Nga nữa.

VW: Hiện giờ những quốc gia lớn nào có quan hệ chặt chẽ mà có thể tiếp cứu Việt Nam trong một trường hợp bị đe dọa như vậy?

NCK: Tôi cho rằng một điểm lạ lắm nhé, nhất là từ hồi có những vụ terrorist (khủng bố) Hồi giáo, thì nhìn riêng ở Á Châu, thấy rằng có rất nhiều sự bất ổn. Từ Thái Lan là một nước ổn định bao nhiêu, bây giờ cũng có vấn đề. Rồi Inđônêxia, Phi Luật Tân nữa. Thành ra đối với những người đầu tư, da trắng và da vàng, bây giờ coi Việt Nam là một nơi ưu tiên.

VW: Ưu tiên hơn cả Trung Quốc không?

NCK: Tùy theo, đầu tư ở tầm cỡ nào. Tất nhiên, không thể nào nói “hơn” được. Nhưng mà có những lãnh vực, tôi nghe thấy, có những hãng đã đầu tư mấy chục năm nay ở Trung Quốc, bây giờ họ tính đầu tư sang Việt Nam.

VW: Tại sao?

NCK: Thì cũng dễ hiểu thôi. Trung Quốc sẽ không còn được đối xử như là một nước chậm tiến, cho nên hàng hóa Trung Quốc bây giờ bị thuế má đi các nước, cao rồi. Ví dụ như hãng giày Nike, họ tính dọn sang Việt Nam. Và đặc biệt là những mặt hàng có thể xuất cảng sang Mỹ. Bởi vì, ít nhất trong 5, 10 năm nữa, Việt Nam, đối với Mỹ, sẽ được đối xử trong một quy chế thương mại [thuận lợi]. Thành ra, trở lại vấn đề, vì lý do kinh tế, có nhiều quốc gia có cảm tình với Việt Nam, chúng ta thấy rõ, nhất là Âu Châu, các nước nhỏ nhỏ như Đan Mạch, vào Việt Nam, trợ giúp về xã hội, cái này, cái nọ. Thành ra somehow (bằng một cách nào đó) Việt Nam trong cộng đồng nhân loại, đang có một chỗ đứng rất được thiện cảm. Nó lạ lắm. Nhưng mà có lẽ cũng dễ hiểu thôi. Bởi vì những du khách khi về tới Việt Nam, những người Mỹ hay người da trắng, họ thấy một đất nước rất bình yên, rất safe (an ninh) so với Mỹ, so với các nước chung quanh. Rồi họ thấy ai cũng tử tế, rồi phong cảnh, sông núi lạ lùng. Từ đó, họ nảy sinh ra một cảm tình với đất nước Việt Nam. Cho nên tôi nghĩ rằng, khi mình bị gặp hoạn nạn, từ thiên tai cho tới chuyện bị xâm lăng của Trung Quốc chẳng hạn, chúng ta sẽ có những sự đồng tình và yểm trợ của thế giới, chứ không riêng gì chỉ Mỹ đâu.

VW: Hiện giờ, nghe nói biên giới phía Bắc và lãnh hãi biển Đông đang có sự tranh chấp với Trung Quốc, nhà nước Việt Nam có chú tâm giải quyết và đồng thời kêu gọi sự can thiệp của thế giới hay không trong trường hợp Việt Nam bị Trung Quốc ăn hiếp?

NCK: Cái đó tôi cũng có nghe một số anh em họ nói, nhưng mà cũng chưa có gì chính thức được. Nhưng mà nếu có, tôi nghĩ cũng chỉ vì mấy anh ở địa phương thôi, chứ tôi nghĩ anh Trung Quốc bây giờ đã lớn như thế rồi, rồi thêm vấn đề phát triển nữa. Những vấn đề nội bộ của họ cũng đủ làm cho họ nhức đầu rồi, làm gì họ còn nghĩ đến việc xâm lược Việt Nam. Nhưng mà đó là vấn đề cũng có đấy. Riêng cá nhân, tôi coi nó cũng chẳng có quan trọng gì cả.

VW: Vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa mà không quan trọng à?

NCK: Mình phải giữ cái đó chứ. Thì cũng là “3 bề 4 bên” chứ đâu phải riêng gì chỉ giữa mình với Trung Quốc thôi đâu. Còn thêm Mã Lai, Phi Luật Tân. Tôi cho là vùng đó cũng có một vài ý định nào đấy. Một vài nước phát biểu [đề nghị], tôi cho rằng nên làm khu vực phát triển chung đi.

VW: Đó là vấn đề Trường Sa, còn Hoàng Sa thì sao? Việt Nam có cơ hội lấy lại hay sẽ bị mất vĩnh viễn?

NCK: Tôi nghĩ rằng tất cả những chuyện đó, nên làm khu phát triển chung cho cả mấy nước ở đó. Cũng như khi tôi ở ngoài Bắc, thì cũng được những người quen cho biết rằng những giới chức ở Quảng Tây [Trung Quốc], mà hình như bây giờ nó đã thành sự thật rồi đấy, là họ thành lập khu vực mở mang chung giữa Quảng Tây và Móng Cái của mình. Ở vịnh Hạ Long đấy. Thì hai nước sát nhau, cũng có bờ biển chung đấy. Thì tôi cho cũng được. Đáng nhẽ phải tranh chấp, thì mình join [hợp tác] với nhau đi.

VW: Vùng Móng Cái mà cũng có tranh chấp à?

NCK: Thì bây giờ nó chưa có. Nhưng mà chúng ta biết rằng, ở địa phương, cửa khẩu của Móng Cái, cái cầu, đầu bên này là Việt Nam, đầu bên kia là Quảng Tây, hàng ngày những anh buôn lậu cũng có, mà buôn thật cũng có. Sông nó nông thế này, cứ lội qua mà đi. Tôi bảo thì đằng nào cũng vậy, thôi thì cứ họp nhau lại làm một khu vực phát triển chung. Tôi thấy cũng hay. Thì cứ làm như vậy. Trở lại khu Trường Sa, hay tất cả những khu tranh chấp, thì đừng nên nhắm vào chỉ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

VW: Nhưng Hoàng Sa là một trường hợp đặc biệt, bởi vì trước đó, nó thuộc về chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa mà?

NCK: À thì cái đó thì … Bây giờ chúng ta đều hiểu, nếu mang ra giải quyết bằng quân sự thì cũng không nên. Việc mình với người Trung Quốc thì không nên. Nên tìm một cách nào đó ngoại giao bằng chính trị.

VW: Nhưng mà có nên giữ chủ trương cương quyết đòi lại hay không? Hay chỉ nên đòi được thì đòi, đòi không được thì thôi?

NCK: Thì tất nhiên, phải giữ. Bắt buộc chứ. Chúng ta cũng thấy các đại cường quốc, như Nga với Nhật, mấy cái đảo ở phía Bắc, Nhật có đòi mãi Nga cũng không trả, thì có làm gì được nó.

VW: Nhưng mà nếu chúng ta cứ tiếp tục đòi, thì hy vọng thế hệ tương lai còn có thể lấy lại được, chứ còn chịu thua bỏ rơi, thì coi như là mình công nhận chuyện đó rồi.

NCK: À không. Thì tất nhiên, trên nguyên tắc. Còn bây giờ hỏi, đòi cách nào thì đó là chuyện khôn khéo của người cầm quyền, chứ còn đòi, thì bắt buộc [phải làm] rồi. Ai mà lại đi công khai bán đất nước mình cho nước khác được.

VW: Còn vịnh Cam Ranh, ông có nghĩ rằng sẽ trở thành hải cảng quân sự của Mỹ trong tương lai hay không?

NCK: Mười ba năm trước, trong phát biểu ở San Jose, khi đó chính quyền Clinton của Mỹ chưa nối lại bang giao với Việt Nam, thì tôi đã nói rằng, sau này ở Á Châu, với sự trưởng thành của những con rồng lớn, rồng nhỏ, kinh tế bành trướng sẽ dẫn tới việc đụng chạm, thì lúc đó, sẽ cần có người trọng tài và sự hiện diện của người Mỹ. Mà từ ngày chiến tranh Việt Nam chấm dứt và Mỹ rút khỏi cản Subic Bay ở Phi Luật Tân, thì quân lực Mỹ không còn sự hiện diện thường trực ở Á Châu nữa. Mà một ngày nào đó, khi những nước ở Á Châu cần sự hiện diện của người Mỹ, và người Mỹ cần quay trở lại, thì Mỹ sẽ phải có một căn cứ quân sự thường trực. Nhìn tất cả các nước, tôi thấy chỉ còn Việt Nam ở Cam Ranh là nơi lý tưởng cho việc hiện diện thường trực quân sự của Mỹ. Mười ba năm trước, lúc tôi nói chuyện này, chưa có trường hợp [khủng hoảng vũ khí hạt nhân] Bắc Hàn. Bây giờ lại thêm vấn đề người Nhật sẽ tái vũ trang. Và điều đó tôi cũng đã nói trước rồi. Nhật bắt buộc. Nước Đức bây giờ cũng đã gia nhập vào những hiệp ước và [tham gia vào] những hành động quân sự rồi. Tôi nghĩ rằng sớm muộn gì cũng phải giải quyết trường hợp Bắc Hàn. Mà cái anh này, nói chuyện tử tế thôi không được đâu. Cũng như với Iran thôi. Nói phải có một áp lực nào đó về mặt quân sự. Tôi nghĩ rằng, nhìn vào bản đồ Việt Nam, không cứ gì Cam Ranh, bất cứ chỗ nào, là một vị trí lý tưởng để mà cho phép thành lập một cái căn cứ tạo sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Á Châu. Chứ không phải [Mỹ] ngồi ở đó để mà đe dọa nước Tàu đâu.

VW: Nước Tàu sẽ phản ứng?

NCK: Tất nhiên, nhưng đó là chuyện của họ chứ. Nếu tôi là lãnh đạo, thì tôi rất muốn làm cho họ hiểu rằng chúng tôi không có ý đồ, đánh đấm gì với các anh cả, nhưng chắc chắn rằng tôi sẽ không bao giờ cho phép các anh, như hồi xưa nữa. Các anh xuống miền Nam đặt Việt Nam thành một Giao Chỉ Quận nữa. Đó là một điều có rất nhiều người Việt Nam, mà trong đó có các cán bộ nhà nước nghĩ mà chưa ai dám nói. Là anh em thôi. Tử tế với nhau thôi. Đừng có giở trò đe dọa, xâm lăng là không được.

VW: Cũng có người cho rằng nếu để cho Mỹ sử dụng cảng Cam Ranh là một phần nào đó để cho Mỹ nhúng tay vào tình hình nội bộ, và từ đó có khả năng lũng đoạn Việt Nam. Mặc dầu Mỹ cũng có thể mang lại sự ổn định và phồn vinh cho một nước, nhưng đôi khi họ cũng có thể mang lại sự rối rắm.

NCK: Hoàn toàn đồng ý. Nhưng theo kinh nghiệm của tôi, sự đối xử giữa hai nước chỉ quan trọng qua sự đối xử giữa nguyên thủ của hai nước mà thôi. Chứ còn hai nước, vậy hai nước là những ai. Quan trọng là thành phần cầm đầu giữa hai nước đó. Chẳng hạn, đầu tiên là ông thủ tướng, rồi ông ngoại trưởng, ông quốc phòng. Tất cả, ăn thua, là ở mình. Chẳng hạn, như khi tôi làm thủ tướng, ông tổng thống [của nước Mỹ] coi tôi như ngang hàng. Trong khi, đối với bao nhiêu người, những người Việt Nam khác, người Mỹ coi như là đầy tớ hay đàn em. Lấn áp. Tất cả tùy thuộc vào mình thôi. Đối với tôi, khi người Mỹ vừa định mở miệng nói [có tính cách khi dễ] dầu là họ vô tình, là mình phải chặn ngay. Giữ đúng cương vị của mình. Tôi hiểu người Mỹ. Nếu có được tư cách như vậy, người Mỹ sẽ tôn trọng, còn nếu không, chịu chấp nhận hành xử như một người người đầy tớ, một người em út của họ, họ cũng chấp nhận. Đừng có đổ cho họ. Hoặc muốn làm thằng đánh giày, họ sẽ trả lương là thằng đánh giày. Như tôi đây, khi muốn ngang hàng, họ đối xử với tôi như là một người ngang hàng. Hỏi tất cả những người ở thế hệ của tôi, những người làm chính trị vào thời điểm đó, thử xem tôi hành xử chức vụ thủ tướng như thế nào đối với người Mỹ.

VW: Ông Nguyễn Tấn Dũng, vừa được đưa lên làm thủ tướng, có khả năng ứng xử với người Mỹ theo kiểu đó hay không?

NCK: Tôi không biết. Tôi không biết nhiều, thành ra không thể phê bình được. Nhưng mà chúng ta phải đợi cho họ hành xử đi, bây giờ còn quá sớm. Nhưng mà tôi nhắc lại, trước thời gian họp đảng, họ khui những vụ tham nhũng, toàn là những người cấp lớn cả, toàn là những người mà chữ của họ nói rằng có “ô dù” dây mơ rễ má lớn lắm. Rồi những gì họ phát biểu trong đại hội đảng của họ, rồi những gì họ làm sau đó, tôi có thể kết luận được, họ xác nhận họ có bệnh, và bây giờ họ đi tìm thuốc, tìm con đường chữa bệnh.

Qua những việc trong một hai tháng nay, tôi thấy những người chính của họ, từ ông Nông Đức Mạnh, tổng bí thư, ông chủ tịch nước, thủ tướng, bộ trưởng này, bộ trưởng nọ, có những hành động, những lời nói, mà họ sẽ làm những gì họ đã nói. Tất nhiên, không có chuyện gì có thể 100% được. Vì họ cũng gặp rất nhiều khó khăn. Ví dụ như về vấn đề nhân sự, đâu phải họ chỉ có 5 hay 7 ông thủ tướng, bộ trưởng là đủ đâu, họ cần cả những ông, nói theo kiểu của mình, tỉnh trưởng, xã trưởng, khu phố, trong mọi ngành. Ngay cả trong ngành công an, có thể những ông thứ trưởng công an, giám đốc công an là người đàng hoàng sạch sẽ, nhưng mà những anh công an phường, huyện hay xã có vấn đề. Đó là tình trạng cán bộ của họ. Họ đã xác nhận chuyện đó, là không đủ khả năng và đạo đức. Rất nhiều. Có thể nói tới 90% cán bộ của họ là như vậy hết. Bây giờ, họ nhìn ra vấn đề và đang đặt vấn đề huấn luyện. Thế nhưng, trong dĩ vãng họ cũng đã đặt vấn đề, trong huấn luyện họ cũng còn đang đặt vấn đề huấn luyện nữa. Thành ra dĩ vãng, mà họ nói là “căn bệnh thành tích.” (Cười) Anh nào cũng phải nói thành tích 100%, toàn nói dối hết. Từ học hành, sản xuất cho đến mọi chuyện, các công ty quốc doanh là lỗ vốn hết.

Chế độ này, trong 30 năm sau khi thống nhất, đã tạo ra những người này ngày hôm nay, nếu có thành tâm thiện chí, căn bệnh đã quá nặng rồi. Một người ở trong đó như tôi, được nhìn từ trên xuống dưới, từ trung ương đến địa phương, trên mọi lãnh vực, từ buôn bán, làm ăn, công an, giáo dục, thấy căn bệnh quá trầm kha. Đảng cầm quyền bây giờ không còn đủ tư cách, hiểu biết để lãnh đạo nữa. Số cán bộ của họ bây giờ bị gọi là hủ hóa, hay phân hóa, hay là cái quái gì đó không biết, nhưng mà đầy dẫy. Thành ra, bây giờ những người có trách nhiệm sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Hoặc là huấn luyện lại, hoặc là thay thế. Phải làm sao đây?

VW: Về mặt cơ chế, chúng ta biết rằng, hầu như tất cả các cơ quan chính quyền nhà nước đều có một cơ quan song song của đảng, nằm ở dưới bề nổi, nhưng lại mang nhiệm vụ chỉ huy và điều khiển. Đó là điều khá lạ lùng. Khi nói về việc chuyển đổi sang cơ chế “dân chủ pháp trị” họ sẽ giải quyết cơ chế cũ như thế nào? Họ sẽ tiếp tục sử dụng hệ thống chỉ huy ngầm cho tới khi bắt buộc phải rút lui, hay họ chủ động biến nó qua một cái gì đó trong sáng hơn, để cho bộ máy nhà nước có thể làm việc một cách hiệu quả hơn?

NCK: Về vấn đề đó, tôi đã nói rồi. Gần đây, trong lúc đại hội đảng và sau này, khi họp họ cũng đã nói rất nhiều. Rồi những người như ông [Lê Khả] Phiêu, ông [Võ Văn] Kiệt, người này, người nọ viết trên báo, cũng đặt vấn đề. Dĩ nhiên là họ cũng nói nhẹ nhàng thôi, chứ không phải như mình, nói một cách rõ ràng. Ví dụ như họ nói, “tổ chức chồng chéo”, cái này “dẫm chân” lên cái kia. Nhưng thật sự, tôi nói thẳng [với họ] “tổ chức của các anh không giống ai cả.” Một nước như vậy, mà có tới 3 hệ thống. Thử lấy một thành phố, trong hệ thống đảng, có “bí thư thành ủy”, hệ thống chính phủ có ông “chủ tịch ủy ban nhân dân.” Rồi bên cạnh đó, còn có các đoàn thể nhân dân tức là những “mặt trận tổ quốc.” Mới đây, các ông lại cho Mặt Trận Tổ Quốc được giám sát hành pháp, tức là những các cán bộ hành chính. Ông bí thư, tức là đảng, vẫn có quyền veto (phủ quyết). Ông bí thư, có vẻ lờ mờ, nhưng quyền lực lớn hơn ông chủ tịch ủy ban nhân dân, tức là của chính phủ. Thành ra chính phủ có trách nhiệm mà không có quyền. Đoàn thể nhân dân tức là mặt trận và đảng tức là bí thư, không có trách nhiệm thực sự để thi hành, nhưng lại có quyền giám sát, và có quyền cản trở. Tôi đã nói với họ rằng “các anh không phải là ‘chồng chéo’, mà là chẳng giống ai cả. Tổ chức của các anh chỉ đúng khi còn hoạt động trong vòng bí mật mà thôi. Làm như vậy để anh nọ nhìn anh kia, rồi kiểm soát lẫn nhau để mà giữ được bí mật. Thế nhưng, bây giờ là đảng cầm quyền, tức là chính phủ của một nước. Không thể có cái chuyện như vậy.” Tôi hỏi họ, “Tại sao các anh lại làm như vậy?” Có lẽ muốn chia nhau để anh nào cũng có quyền “đớp, hít” à? Chứ không có một lý do gì, bởi vì anh chủ tịch, hay anh mặt trận cũng là người của đảng, có phải người ngoài vào đâu. Tại sao không thống nhất lại, giao cho một cầm quyền, chịu trách nhiệm. Năm tháng, 6 tháng, ở trung ương nhìn thấy, nếu làm được việc, cho tiếp tục. Không làm được việc, thay thế. Như tôi đã làm với miền Nam năm 1965. Tất nhiên, họ sẽ khó làm được. Bởi vì mấy chục năm nay, anh nào cũng có quyền hết, dù quyền thực, hay quyền hư ảo. Mỗi ông thần, ông thánh, có ông nào muốn mất phần đâu. Tuy nhiên, gần đây cũng có những chỉ dấu, cho thấy rằng họ hiểu và họ đang sửa bằng cách, cả hai anh [tổng bí thư và chủ tịch quốc hội] phải đồng ý cho anh thủ tướng tức là hành pháp có quyền. Một thí dụ điển hình, họ cách chức ông thứ trưởng. Nếu là chính phủ, ông thủ tướng đứng ra bãi chức. Nhưng mà muốn chính thức, phải có đảng, bởi vì anh ta cũng là đảng viên. Rồi có khi anh ta là ủy viên quốc hội nữa, phải cả quốc hội phải đồng ý nữa, có khi cả Mặt Trận Tổ Quốc cũng dính vào. Thành ra phải cả 3 cơ cấu đồng ý “ok, anh này có lỗi, cách chức”, mới 100% cách chức. Còn không, chỉ là “tạm thời ngưng chức” thôi. Tôi mới nói thẳng, “Các anh làm ăn kiểu đó, làm sao còn làm ăn gì được nữa.” Thời tôi làm thủ tướng, anh nào thứ trưởng, bộ trưởng làm bậy, tôi chỉ nói “đi!” Năm phút thôi. Mười phút cho ra tòa ngay. “Còn các anh cai trị như thế này, ai sợ các anh nữa.” Tôi nói, “Các anh là quốc hội bông phèng, tổ chức không giống ai cả. Cả thế giới, chỉ có tổ chức của các anh, vừa đảng, vừa hành pháp, vừa đoàn thể, lung tung cả lên.” Nếu đã độc tài, độc tài hẳn, thu gọn quyền lực về trong một đảng. Còn nếu đã làm như thế này, nên làm cho nó ra trò, tư pháp riêng, hành pháp riêng, đảng riêng. Họ nghe đấy.

VW: Những chỉ dấu mà ông đề cập là gì?

NCK: Ví dụ như ông Nguyễn Tấn Dũng vừa mới lên là đã ký một nghị định nói rằng “bộ này, bộ này” toàn những bộ quan trọng, bây giờ phải gần như nói rằng “trực thuộc thủ tướng.” Đó cũng là nhảm, bởi vì trên nguyên tắc, những bộ phải trực thuộc thủ tướng chứ còn gì nữa. Nhưng mà điều này nói lên rằng từ trước tới nay, thủ tướng nói đâu có ai nghe, còn phải đi hỏi ông đảng. Ông đảng mà không được, thủ tướng cũng chịu. Vậy khi thủ tướng ký nghị định này, chắc chắc phải hỏi đảng và mặt trận tổ quốc “có ông có đồng ý, tôi mới làm.”

VW: Tức là ở thượng tầng chính trị đã muốn đi vào khuynh hướng này rồi?

NCK: Đã có sự đồng ý rồi, chứ không phải tự nhiên làm một chuyện xác định lại quyền của mình.

VW: Những tin tức đó được đăng tải trên báo chí, hay ông đã biết được qua những nguồn tin nào?

NCK: Đăng tải trên báo chí ở trong nước.

VW: Những chuyện như thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có những động tác xếp đặt hay cải tổ, thường được đăng ở đâu?

NCK: Ở báo chí trong nước. Những chuyện như vậy đối với họ có tầm quan trọng ghê gớm, chứ không phải giỡn chơi đâu. Bởi vì từ trước tới nay, họ chỉ biết làm ăn theo lối cũ. Cho nên, quan trọng kinh khủng lắm vụ bắt và cách chức ông thứ trưởng giao thông. Bởi vì ông đó có đủ các thứ bằng khen và sắp sửa được tiến cử vào làm trong Trung Ương Đảng. Cho nên, chống tham nhũng, khi chạm tới, mà họ dám làm thật. Tôi có lời khen, tôi có nói với một người khá cao cấp “không biết anh nào làm vụ này, nhưng mà giỏi đó.” Đó là dấu hiệu họ quyết tâm chống tham nhũng. Ông thứ trưởng đó yên chí là không ai có thể đụng được tới ông ta. Cho nên hắn mới công khai ăn cắp, ăn nảy, ăn chơi, còn hơn con ông vua nữa. Ông ta không phải là một loại bình thường.

VW: Sang một chuyện khác, ảnh hưởng của Trung Quốc đối với đảng Cộng sản Việt Nam có còn hay không?

NCK: Cũng còn nhưng đang bớt dần dần.

VW: Nước Trung Quốc đang phát triển mạnh, theo suy luận thường tình, khả năng ảnh hưởng, lũng đoạn của nó đối với Việt Nam phải tăng trưởng, cớ sao lại giảm đi?

NCK: Đồng ý, nhưng mà, dù muốn, dù không, dù họ là người Cộng hay người Quốc, nhớ đừng quên, họ cũng là người Việt thôi. Nhất là người miền Bắc, vẫn ý thức được kẻ thù … thôi thì gọi là “người anh em phương Bắc” vậy. Họ hiểu. Tôi về tôi cũng nói chuyện đó.

VW: Ông có nghe về chuyện “16 chữ vàng”, việc ông Lê Khả Phiêu qua Trung Quốc ăn uống nhậu nhẹt sao đó, ký vào một bản văn “16 chữ vàng”, để rồi sau đó nhà nước Trung Quốc dùng văn bản đó, coi như là một sự xác nhận, để lý giải đường biên giới Việt Nam theo chiều hướng có lợi cho họ?

NCK: Ở trong đó có nhiều tin đồn lắm. Tôi cũng có nghe nhưng mà tôi thấy nó cũng chỉ là một chuyện huyền thoại, kể cho vui vậy thôi.

VW: Theo cái nhìn của ông, với đà phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc, nó sẽ tạo ra những áp lực nào đối với Việt Nam?

NCK: Tất nhiên, bất cứ áp lực nào, hay cả khi không có áp lực, nhưng mà với đà bành trướng kinh tế của Trung Quốc theo kiểu như vậy, luôn luôn là một mối đe dọa đối với nước Việt Nam. Tôi nói thẳng với mấy anh em ở trong đó, và họ nhìn thấy được chuyện đó. Nó không cần gây áp lực gì cả, nó chỉ bành trướng về kinh tế là mình chết thôi. Tuy nhiên, nếu mình khéo léo, anh Trung Quốc đang phát triển ở trong nước, rồi sang những nước khác cũng đã quá sức của anh ta rồi. Việc gì nó phải xâm chiếm Việt Nam nữa. Nếu tôi là họ [cấp lãnh đạo Việt Nam], tôi sẽ nói thẳng với anh Trung Quốc, “Thôi để cho chúng tôi yên đi.” Có lẽ người Trung Quốc họ cũng sẵn sàng. Nhưng mà cùng một lúc đó, phải củng cố vị trí của mình với cộng đồng nhân loại. Có hậu thuẫn như vậy, nhất là trong lãnh vực kinh tế, mình có thể dựa trên các bằng hữu khác, cố gắng phát triển cho đúng mức, mình có thể ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc.

VW: Sự phát triển của Trung Quốc không phải chỉ đe dọa riêng Việt Nam mà cả những nước lân bang khác như Đại Hàn, Đài Loan, Nhật Bản, vậy những nước đó có khuynh hướng muốn liên kết với Việt Nam để trở thành một khối chống đỡ nào không?

NCK: Có. Họ cũng đang nói rất nhiều về chuyện đó, và có lẽ sẽ thành hình. Các nước ASEAN đã bắt đầu …

VW: Kể cả Nhật, Đại Hàn và Đài Loan?

NCK: Rồi cũng sẽ đi đến chuyện đó thôi.

VW: Thành một khối liên minh?

NCK: Về kinh tế và cả quân sự nữa. Và tất nhiên khi nói quân sự, Mỹ phải dính vào. Bắt buộc phải có một hàng rào ngăn chặn, vừa kinh tế, vừa quân sự đối với Trung Quốc. Người Mỹ đã nhìn ra chuyện này từ cách đây mấy chục năm rồi. Một đằng họ gọi là “early warning (báo động sớm)”.

VW: Về cái gọi là “hiểm họa da vàng” tức là mối đe dọa của Trung Quốc?

NCK: Tại sao tôi cứ nói lúc đầu về vấn đề tự vệ. Chúng ta không còn như ông cha của chúng ta nữa, một mình Lê Lợi, một mình Quang Trung để đánh với Tàu. Bây giờ mình có cả một cộng đồng thế giới. Bởi vì ai cũng nhìn thấy, kể cả cộng đồng da trắng, về cái gọi là “hiểm họa da vàng.”

VW: Có lẽ ông đã tiếp xúc với nhiều người ở hải ngoại hoặc đi về Việt Nam, ông có thấy một sự thay đổi nào của cộng đồng ở hải ngoại, trước và sau đại hội đảng, và nhất là với tình thế Mỹ đã xáp lại với Việt Nam một cách chính thức như thế?

NCK: Tôi có thể nói là không đợi đại hội đảng đâu. Nó đã xảy ra trước rồi. Thứ nhất, là do chuyện tôi về cách đây 2 năm. Tất nhiên, sau đó nhìn thấy với tất cả những chuyện thăm viếng của Mỹ. Mỗi lần thăm viếng là đều có ý nghĩa cả, chứ không phải là đi chơi chơi, đi du lịch. Tôi nói tỷ dụ như ngày 30 tháng 4, tự nhiên có tàu chiến của Mỹ vào thăm. Buổi trưa, trước giờ tin tức, các ông [đài TV Việt Nam] chiếu phim hình ảnh đánh Mỹ, đánh Ngụy. Hai phút sau, tới phần tin tức, thấy Mỹ mặc quân phục đi vào tòa thị chính, được trải thảm đỏ đón tiếp. Mỹ họ cố tình làm chuyện đó cho trùng vào thời điểm đó, kiểu như tướng McArthur nói, “I shall return (Tôi sẽ quay trở lại)”. Đấy, điều đó cho thấy quan hệ Việt-Mỹ như thế nào, rất khắng khít. Họ nghe rồi, họ chịu lắm rồi. Rồi đây sẽ thấy quân đội được huấn luyện, quân trang sẽ mặc theo kiểu Mỹ hết.

VW: Có nhiều người lo sợ rằng việc biến khu nghĩa trang quân đội Biên Hòa thành khu nghĩa trang dân sự chỉ là bước khởi đầu để xóa luôn nghĩa trang này thành công viên hay khu chung cư, như trường hợp của nghĩa trang dân sự Mạc Đỉnh Chi. Ông nghĩ sao?

NCK: Theo tôi, lo sợ như vậy là không đúng. Hiện giờ đó là đất của nhà nước, nếu họ muốn xây cất, biến thành công viên, hay làm gì đó, đâu có cần phải mất thì giờ với bao nhiêu thủ tục để biến nó từ khu quân sự trở thành khu dân sự làm chi. Những người lo sợ như vậy, một là nông cạn, hai là có khuynh hướng cứ việc gì của cộng sản làm, cũng phải chống cái đã. Nhiều người đa nghi, trong cuộc đời của người ta, cái gì họ cũng nghi cả.

VW: Đây có phải là cá tính của người Việt Nam hay của con người nói chung?

NCK: Của con người nói chung, nhưng con người Việt Nam tệ hại hơn nữa. Có lẽ cũng vì hoàn cảnh lịch sử, 1000 đô hộ của người Tàu, 100 năm của người Tây, rồi bao nhiêu năm vừa bị nội chiến, vừa bị ngoại bang xen vào, chém giết lẫn nhau, cho nên con người Việt Nam mánh mung, nghi kỵ. Nhìn cái xấu nhiều quá, cho nên họ nghĩ cái gì cũng xấu. Lắm lúc, tôi cảm thấy buồn và chán nản. Tại sao dân tộc mình cứ mãi như thế, không thay đổi được hay sao? Cứ chuyện gì tốt của người khác làm, là đặt vấn đề ngay lập tức. Nhưng cứ chuyện gì xấu, đau khổ của người khác lại tin ngay, không cần hỏi, mà còn đi phổ biến nữa. Hình như vẫn có sự ghen tức, ganh tị những gì người khác làm được, người ta có mà mình không có.

VW: Theo ông, tại sao chính quyền Việt Nam quyết định làm động tác trên vào thời điểm này? Nó có ý nghĩa gì?

NCK: Việc này tôi cũng nói với họ [chính quyền Việt Nam] từ những ngày đầu tiên tôi mới về nước. Tức là cách đây đã 3 năm. Tôi nói qua người này, người nọ, rồi tới ông thủ tướng. Ngay cả những người lãnh sự Mỹ ở Sài Gòn, tôi cũng có nói chuyện đó. Chính ông lãnh sự Mỹ ở Sài Gòn cũng nói, “Tôi cũng tính đi thăm, coi thử nó ra làm sao.” Mà cũng không phải chỉ một mình tôi nói đâu, cũng đã có nhiều người khác nữa. Nếu muốn hòa hợp hòa giải, phải khởi đi từ những người đã chết đi. Nghĩa tử là nghĩa tận. Hòa giải giữa những người chết, họ không có cãi nhau. Sẽ không có chuyện đôi co “hòa giải thiệt hay hòa giải giả,” hay “anh nào làm trước, anh nào làm sau.” Nhất là đối với chính quyền, đó là nơi họ đã bỏ hoang mấy chục năm, một nơi chẳng có gì đáng để ý cả. Tôi đã nói, nếu họ có một cử chỉ gì đối với nghĩa trang đó, nó sẽ chứng tỏ tư duy, cái nhìn của họ đối với những người lính của miền Nam, nhất là những người lính đã chết, nó đã khác đi rồi. Chưa kể, tôi còn nói, “Các anh cứ đặt vấn đề ở hải ngoại phải quên bỏ hận thù, đoàn kết dân tộc, nghị quyết 36 này nọ,” tôi nói thẳng, “Dẫu cho các anh có ra 10 nghị quyết gì cũng vậy, nếu không có một hành động gì cụ thể, cũng sẽ chẳng có ai tin đâu.” Cụ thể nhất, rất nhẹ nhàng và đúng với đạo lý nữa, là làm lại nghĩa trang Biên Hòa cho nó trở thành như bất cứ nghĩa trang nào khác, tức là cũng được chăm sóc và thăm viếng. Cho được có quyền tu sửa. Đối với tôi, đó là một cử chỉ rất nhỏ, nhưng có một tác động rất lớn, trong khi họ đang đặt vấn đề hòa hợp hòa giải. Đối với ai cũng vậy, chứ không riêng gì với người Á Đông, “Chết là hết, chết là xóa bỏ, là không hận thù.” Thế bây giờ, đối với người chết mà anh còn hận thù, còn cứ như ngày xưa, đào mả ông, đào mả cha, tru di tam tộc. Đó là những tư duy suy nghĩ nhỏ nhen, thiển cận, cổ hủ. Không giống ai cả. Một chuyện đó mà không làm nổi, cứ đi nói chuyện đại nghĩa, chuyện dân tộc, ai mà tin. Chỉ độ một hai tháng sau khi tôi đặt vấn đề đó, tôi được anh em nói rằng, “Ông thủ tướng chính phủ [Phan Văn Khải] đã đồng ý với chuyện đó rồi.” Và họ trao chuyện đó cho bộ quốc phòng và ông phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm để lo liệu. Nó thuộc phạm vi thủ tục hành chánh, cắt đất trả lại từ ông này sang ông kia, chế độ nào cũng vậy, cũng phải họp, phải hành, phải quyết định. Nhất là “thủ tục con rùa”, nước nào cũng có, nhất là ở xứ Việt Nam của mình.

VW: Nếu chính quyền Việt Nam muốn thực lòng hòa giải, hay thực lòng muốn xóa bỏ hận thù, tại sao họ không chính thức tuyên bố như vậy, mà lại lẳng lặng chỉ trả nó lại tư cách dân sự thôi?

NCK: Cũng có một số, nhất là các anh em ở hải ngoại, cứ đòi họ, bất cứ chuyện gì cũng đòi hỏi họ [chính quyền Việt Nam] làm cái gì, cũng phải công khai, nêu lý do. Tôi nghĩ khác, có lẽ vì tôi cũng từng có trách nhiệm trong chính quyền. Điểm chính là mục tiêu. Còn tại sao tôi làm, hay làm như thế nào, tôi thấy, ở cương vị họ, có khi cũng cần để nói, có khi cũng không cần phải nói. Nhìn riêng trong vụ này, cũng có chuyện nội bộ của họ, cũng có sự chống đối chứ. Mình không biết được. Cũng như khi họ “đổi mới” đi theo kinh tế thị trường. Hay những loạt chính sách “sử dụng nhà đất”, có thể nói, đó là những thay đổi 360 độ cả đối với con đường cộng sản chủ nghĩa. Tôi hỏi họ tại sao không nói thẳng như vậy, “con đường cộng sản, quốc doanh hư rồi, phải cho kinh tế tự do, phải cho quyền tư hữu.” Họ trả lời, “Anh cũng nên thông cảm, nó cũng có những vấn đề tế nhị.” Trở lại vấn đề nghĩa trang, đó là một cuộc chiến mà có cả thế giới tham gia, có người Đại Hàn, người Phi Luật Tân, người Thái, người Úc, người Mỹ, có cả người Bắc Hàn, Trung Cộng và Nga nữa. Có rất nhiều người ngoại quốc đã chết trong cuộc chiến, trên đất nước Việt Nam. Nếu muốn nâng vị thế quốc tế và cao cấp của Việt Nam, và nhất là tư cách của những người lãnh đạo Việt Nam, làm hẳn một monument (tượng đài) như là người Tây Phương vẫn thường làm cho những người chiến sĩ vô danh (unknown soldiers). Rồi mỗi năm, chọn một ngày, như ngày 30 tháng 4 đấy, ngày thống nhất xứ sở, mời các nguyên thủ của các quốc gia đó, như người Pháp vẫn làm ở Normandy vậy. Để cho thế giới nhìn vào Việt Nam, người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, người lãnh đạo Việt Nam thấy rằng chúng ta không phải là thứ răng đen mã tấu, chỉ biết chém giết. Một người đã chết rồi, cho dù anh có nghĩ lý tưởng của họ đúng hay sai, nhưng một người đã sẵn sàng mang mạng sống ra để hy sinh cho lý tưởng đó, tôi gọi những người đó là anh hùng. Và những sự hy sinh đó phải được công nhận và vinh danh.

VW: Theo ông, giới lãnh đạo Việt Nam có thực sự suy nghĩ như vậy hay không, có thực sự tin vào hòa giải, hay họ chỉ sử dụng những động tác này cho mục đích chính trị, nhằm thu phục và khống chế cộng đồng hải ngoại mà thôi?

NCK: Theo tôi, tôi nói thẳng, tôi thấy họ có tư duy như vậy. Bởi vì, thứ nhất họ cũng là người như chúng ta, chứ không phải là một thứ gì khác, xấu hơn chúng ta. Tất nhiên, ở đâu cũng có người xấu, người tốt. Thứ nhì, khi nói đến chính trị, ai cũng nghĩ đến mánh khóe, mánh mung, hay có một vị nói rằng, “đừng nhìn những gì họ nói, mà nhìn những gì họ làm,” những nhận xét đó, không phải là những gì bất di, bất dịch, sẽ đúng ngàn đời trước và ngàn đời sau. Nếu hỏi tôi, với những sự tiếp xúc, trao đổi, và nhận xét của riêng cá nhân, tôi tin rằng những người này họ tin vào những điều đó.

VW: Ông nghĩ sao về việc hòa thượng Thích Nhất Hạnh về Việt Nam làm lễ giải oan?

NCK: Tốt thôi. Chuyện đó, từ lúc mới về Việt Nam, tôi đã đề nghị bên kia nên làm một lễ tưởng niệm cầu siêu chung cho tất cả anh em đã nằm xuống trong cuộc chiến. Cả dân sự lẫn quân sự. Mình đừng quên rằng có rất nhiều người đã nằm xuống, kể cả trẻ em, phụ nữ, người già. Bất cứ ai làm chuyện đó đều tốt cả. Tôi nghĩ rằng sẽ có rất nhiều người làm chuyện đó, hàng năm, không cứ gì một mình ông Thích Nhất Hạnh

VW: Tại sao việc này không xảy ra sớm hơn, mà là bây giờ, nó có tiết lộ ý nghĩa gì không? Có phải bên Việt Nam đang có nỗ lực hòa giải gì đó không?

NCK: Đúng rồi. Càng ngày, càng nhìn thấy rõ. Thứ nhất, người hải ngoại nên quên bỏ chuyện hận thù đi, hãy cùng với họ hòa giải dân tộc. Thứ nhì, là những người tại hải ngoại vẫn được coi là một bộ phận của dân tộc. Tất cả những chuyện đó là việc mà tôi và một số anh em từ ba năm nay vẫn nói lên.

VW: Việc cầu siêu giải oan là một cử chỉ có tính cách tôn giáo, mà đảng Cộng sản Việt Nam từ trước vẫn theo chủ nghĩa duy vật, nhiều người gọi là vô thần, ông thấy sự kiện này có ý nghĩa gì?

NCK: Tôi biết anh muốn nói đến điều gì. Nhưng mà tôi không thích nói về chuyện của 10, 20 năm về trước về đảng Cộng sản như thế này, như thế nọ. Có thể hai ba chục năm trước, nó có thể là như vậy. Nhưng mà tôi không muốn nói nhiều về chuyện dĩ vãng. Tương lai quan trọng hơn. Tại sao chúng ta không nhìn vào việc chính quyền ở trong nước đang làm những điều dựa trên những gì không đúng của hiện tại? Quay lại cãi cọ duy vật, duy linh, chỉ làm mất thời giờ.

VW: Ông nghĩ sao về việc quốc hội Việt Nam được phép có 10% tỷ lệ đại biểu ngoài đảng? Điều này xảy ra như vậy là quá sớm hay quá chậm?

NCK: Tôi cho rằng chẳng có gì quá sớm hay quá chậm cả. Bởi vì nếu họ thực sự coi những người ở hải ngoại là một bộ phận của dân tộc, sự có mặt của những người hải ngoại ngồi vào trong quốc hội là một hành động cụ thể nhất. Chứ còn những nghị quyết này nọ cũng không có giá trị bằng cử chỉ hành động thể hiện cụ thể. Tôi nghĩ là nếu được, nên chọn những người đại diện trên phương diện chuyên môn, những người trẻ, có thành tích ăn học, thành công trên mọi lãnh vực, khoa học, kỹ nghệ, tài chánh. Để những người ngồi ở quốc hội thực sự cố vấn tạo ra nền luật lệ mới phù hợp với sự nhập cuộc của Việt Nam vào cộng đồng thế giới. Đó sẽ là khởi đầu của một thể chế pháp trị.

VW: Trong quá khứ, quốc hội Việt Nam được thế giới cho là “bù nhìn”, ông có nghĩ rằng vai trò của quốc hội Việt Nam trong tương lai có khác hơn không?

NCK: Nói thật, ngay cả quốc hội thời ông Diệm hay ông Thiệu, cũng đã được gọi là “gia nô” rồi. Thành ra, chúng ta không cần xét trên phương diện ấy. Thế nhưng, mình phải nhìn thấy rằng, trong những năm gần đây, có tiếng nói của những người ở quốc hội, đã nêu lên những điều không đúng của chính quyền hiện nay. Đó là những dấu hiệu cho thấy rằng, dù là những người đại biểu đó từ đâu ra đi chăng nữa, qua diễn đàn quốc hội, họ đã nói lên được phần nào những bức xúc của người dân và những gì sai quấy của chính quyền. Tất nhiên, họ chưa có đủ oai quyền lập pháp như của nước Mỹ, để tiếng nói của họ có thể thay đổi hành pháp. Nhưng họ cũng đã có tiếng nói công khai như thế, phía chính quyền cũng phải thấy xấu hổ, thấy điều gì sai phải sửa sai chứ. Đó là bước tiến, dần dần để đi đến một quốc hội thực sự. Chúng ta nói dân chủ, nhưng dân chủ cần phải pháp trị. Mà pháp trị cần phải có nhà lập pháp. Và lập pháp là quốc hội. Nhìn như thế chúng ta sẽ cảm thấy phấn khởi, bởi vì nó đang có những dấu hiệu bước tiến dần dần đi về phía tích cực.

Ô Quan Hạ (Viet Weekly) thực hiện