Xem lẹ

Trang nhà > Nhân văn > Hiếu kỳ > Nguyễn Chí Công, sĩ phu thời hội nhập

Nhà thơ Đỗ Minh Tuấn:

Nguyễn Chí Công, sĩ phu thời hội nhập

Thứ Tư 30, Tháng Năm 2007

Tiến sĩ Nguyễn Chí Công tuổi Kỷ Sửu, cầm tinh con trâu, nhưng anh không phải là con trâu bình thường mà là con trâu của tinh thần canh tân khai sáng. Bốn mươi năm qua anh lầm lụi và cần mẫn cày xới trên cánh đồng công nghệ thông tin với nhiều kỳ tích mới mẻ và thầm lặng (ảnh: Phạm Yên, báo Tiền Phong).

JPEG - 33.1 kb
TT Phạm Văn Đồng nghe Nguyễn Chí Công báo cáo

Từ thập kỷ 70, anh đã cùng đồng nghiệp chế tạo những chiếc máy vi tính đầu tiên của Việt Nam [1] và cũng là của Châu Á. Trong vai trò Trưởng tiểu ban mạng của Chương trình quốc gia về công nghệ thông tin, anh đã trở thành một trong những người đỡ đầu đắc lực đưa mạng internet vào Việt Nam và ứng dụng thành công công nghệ mạng vào nhiều lĩnh vực trong đời sống.

Thế nhưng, người sĩ phu thẳng thắn đầy tinh thần cách tân táo bạo này không phải lúc nào cũng bước đi trên con đường bằng phẳng thênh thang. Anh vẫn day dứt tiếc thầm vì đã bị vuột mất cơ hội vàng đưa công nghiệp thông tin của Việt Nam đi trước nhiều nước trong khu vực. Nhưng Nguyễn Chí Công đặt hết niềm tin và hy vọng vào lớp trẻ [2], tin rằng họ sẽ thực hiện được ước mơ công nghiệp hóa công nghệ thông tin của thế hệ anh.

Những cội nguồn văn hóa Đông Tây

Nguyễn Chí Công là cháu nội của nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Hữu Cầu [3], một trong những linh hồn của nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục, người từ một thế kỷ trước đã sớm biết giáo dục cho dân quan tâm đến kinh tế hàng hóa, hội nhập với phương Tây, sở hữu trí tuệ, ngân hàng và chứng khoán v.v. Thân sinh anh là cố giáo sư Nguyễn Hữu Tảo [4], thầy dạy của các vị Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Thế Lữ, Nguyễn Đình Thi, Văn Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Vũ Khiêu v.v. Học trò cũ hết lời tôn vinh gọi cụ là “Macarenco của Việt Nam”, “Người quán triệt được cả hai nền văn hóa Đông Tây”, “điển hình về người thầy giáo gương mẫu về mọi mặt”, “vầng trăng của chúng con”. Chú ruột anh là Cư sĩ Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha [5] cũng nổi danh là một học giả yêu nước, giữ đạo, có kiến thức Nho giáo và Phật giáo thâm sâu, tác giả Từ điển Hán-Việt [6]. Anh cả Nguyễn Hải Trừng [7] là quyết tử quân của Thủ đô kháng chiến. Có thể nói, Nguyễn Chí Công đã trưởng thành từ cái nôi của tinh thần yêu nước, mô phạm, canh tân.

GS Nguyễn Hữu Tảo có mười người con, hầu hết đều biết chữ Hán, cả bà vợ chỉ bưng nước cho chồng dạy học nhiều năm cũng thạo viết bút lông, nhưng Nguyễn Chí Công không biết, vì anh là con út, lớn lên trong bối cảnh văn hóa Nho gia đã suy tàn, nhường chỗ cho những quan tâm nồng nhiệt với văn hóa phương Tây. Không dạy con kinh sách Nho gia, nhưng cốt cách mô phạm hài hòa văn hóa Đông Tây của cụ Tảo đã ảnh hưởng sâu đến quá trình hình thành nhân cách của con.

Hồi bé đi học, Công không bao giờ là nô lệ sách vở, lại hay nói năng thẳng thắn bốp chát nên chỉ được kết nạp Đoàn khi tốt nghiệp phổ thông, như thế rất khó mà vào đại học. Nhưng có lẽ hồng phúc của tổ tiên còn dày, nên anh lại được người giúp cho có cơ hội đi du học ngay năm 1966 ấy. Cụ Tảo đã khuyên anh chọn nghề kỹ thuật để giúp cho đất nước thoát đói nghèo. Và sự định hướng đầy tinh thần yêu nước và khát vọng canh tân của cha đã đưa Nguyễn Chí Công đến Praha học điều khiển học. Nhưng ở trời Tây, Nguyễn Chí Công vẫn bị cái gien văn hóa chữ nghĩa của dòng họ cuốn đi, thường trốn học vào thư viện đọc sách văn chương, triết học, lần đầu tiên biết Khổng Tử qua tiếng Tiệp! Anh đã đọc Faulkner trước khi đọc Khổng Tử, nhưng rốt cục, cái cốt cách sĩ phu Bắc Kỳ kiêu hãnh và mô phạm vẫn là nền tảng chi phối mọi suy nghĩ và ứng xử của anh.

Nếu ai đã có dịp vào thăm địa chỉ Đông Tác Giao Lưu, một trang web trí tuệ, phong phú và sinh động, sẽ thấy cái tên Đông Tác [8] của làng anh được đặt bên hình ảnh những thửa ruộng bậc thang. Đó là biểu trưng của hành trình đi từ bùn đất tới lúa vàng, đi từ dân tộc ra nhân loại. Cứ đi mãi về phía Đông ta sẽ gặp phương Tây và ngược lại. Đó chính là hành trình văn hóa mà Nguyễn Chí Công đã trải nghiệm, rèn đúc nên cốt cách đa văn hóa trong anh.

Thích phiêu lưu và chưa từng thất bại về kỹ thuật

Nguyễn Chí Công nói đùa rằng không có tính phiêu lưu thì chắc anh không lấy được vợ. Năm 1977, khi tham gia chế tạo máy tính đầu tiên của Việt Nam, thiếu ROM, Nguyễn Chí Công đã ra chợ Giời mua những cục thiết bị điện tử lấy từ xác máy bay Mỹ bị bắn rơi, với hàng nghìn cái đi-ốt mà hồi ấy gọi là mắt muỗi, đem về tháo ra chế tạo bộ nhớ, rồi lập trình bằng cách tắt mở thủ công những mini công tắc làm bằng đinh rivê. “Bây giờ nghĩ lại mới thấy mình liều. Ngày ấy mình có cái đam mê và tự ái. Họ làm được sao mình không làm được?”. Sau một đợt thực tập thành công ở Pháp, anh đã bỏ hầu hết tiền lương đi lùng mua các thiết bị để mang về nước lắp ráp loạt máy tính mới của Việt Nam có cả bàn phím và màn hình mang tên VT8X. Hiện nay các bảng mạch điện tử của loạt máy tính này vẫn để ở nhà người khai sinh ra nó, hoàn toàn có thể vận hành. Cả bản sơ đồ Nguyễn Chí Công thiết kế cũng vẫn còn nguyên, tuy giấy đã úa vàng.

Nguyễn Chí Công tâm sự: “Cái máy tính trước mặt khi chưa có hệ điều hành giống như một hình nhân chưa có linh hồn, chúng tôi phải viết bằng được phần mềm để thổi sức sống vào trong nó. Lúc đó chưa có PC, cũng chẳng có mấy thông tin từ nước ngoài, nghe đài BBC còn phải nhìn quanh vặn khẽ. Vì thế phải tự mày mò viết hệ điều hành riêng. Nhưng tự biết là còn dốt nên bọn tôi không dám đề là hệ điều hành, chỉ dám đề là hệ thống phần mềm Basic Đồi Thông rồi sử dung nó để viết phần mềm ĐT82 phục vụ quản lý vật tư cho các xí nghiệp”.

Đề tài nào được giao dù khó đến đâu Nguyễn Chí Công cũng nhận và say mê làm bằng được. Sau khi cùng một số người thành lập công ty FPT, Nguyễn Chí Công đã “liều mạng” nhận nhiệm vụ thiết kế mạng siêu tính! Có lần được giao viết chương trình giải mã những bức điện tối mật, Nguyễn Chí Công đã đốt hàng trăm trang, viết đi viết lại, mất cả tháng trời mà máy vẫn không hoạt động. Anh tưởng như phải chết vì tuyệt vọng. Thế rồi, một đêm như có thần linh mách bảo, những ý tưởng vụt hiện trong một giấc mơ, anh tỉnh dậy bật đèn viết và dịch ngay. Sáng hôm sau thử, máy vận hành luôn. Hạnh phúc không tả nổi. Anh tâm sự: “Đối thủ không thể ngờ ta làm được những bộ máy như vậy. Bạn bè thấy cũng nể. Nhưng lúc bàn giao kết quả lại là lúc buồn nhất, cảm thấy trống rỗng, muốn được làm tiếp đề tài khác. Lúc nào tôi cũng có hàng chục dự định trong đầu. Bài toàn này giải được, lại nảy sinh bài toán khác khó hơn. Không phải vì muốn được tung hô - công việc phục vụ an ninh quốc phòng phải làm trong âm thầm bí mật ai biết mà tung hô, nhưng mình luôn có nhu cầu được đối mặt với những nan đề”.

Năm 1996, Nguyễn Chí Công cho một ngôi sao đang lên của ngành tin học xem giáo trình chuyên môn do anh soạn thảo trong đó có gần 70 môn học, ngôi sao đó ngạc nhiên: “ Sao nhiều thế? Em tưởng chỉ 7, 8 môn thôi?”. Anh cười: “Đây chỉ là những môn tôi biết, những môn tôi không biết còn nhiều hơn nữa”. Nhờ kiến thức quảng bác, khi được mời vào Ban soạn thảo thuật ngữ tin học Việt Nam, anh đã viết xong 700 mục từ chỉ trong vòng một tháng nghỉ dưỡng bệnh. Anh say mê đem kiến thức ứng dụng vào cuộc sống và đào tạo thế hệ trẻ, dạy tin học trong cả trường Tây.

Tiếc không được gặp TBT Lê Duẩn

Có lần, một đồng nghiệp trẻ - nay đã là giám đôc một trong những công ty phần mềm lớn nhất nước - đến nhà Nguyễn Chí Công, được anh tặng một cuốn sách chuyên môn tiếng Pháp mặc dù biết anh bạn này chưa học tiếng Pháp. Anh bảo, nó thông minh, thế nào nó cũng đọc được. Khát vọng lớn của anh là bắc một nhịp cầu cho lớp trẻ làm đổi thay đất nước bằng sự nghiệp công nghiệp hoá công nghệ thông tin.

Nguyễn Chí Công dành sự trân trọng quan tâm đặc biệt cho lớp trẻ vì anh thấm thía hơn ai hết sự cần thiết phải có những người lãnh đạo biết tin mình. Vào đầu thập kỷ 80, nhóm của anh được giao nhiệm vụ chế tạo một chiếc máy chuyên dụng phục vụ quốc phòng, nhưng đang chuẩn bị triển khai thì Nguyễn Chí Công đọc thấy trong thái độ lãnh đạo có điều gì đó hơi chần chừ, nghi ngại ở cái công nghệ mới lạ của Mỹ. Thế là, chàng trai trẻ xông thẳng đến nhà trung tướng Trần Quý Hai để thuyết phục ông tin rằng anh và các đồng nghiệp có thể làm được việc khó này. Tướng Trần Quý Hai là một trí thức hiểu biết và lịch lãm, ông động viên “Cháu cứ nói đi đừng sợ gì cả!”, những chỗ khó diễn đạt bằng tiếng Việt ông đề nghị anh nói bằng tiếng Pháp. Thế là sau hai giờ đồng hồ nhảy dù thuyết khách, anh đã thuyết phục được vị tướng này tiếp tục triển khai đề tài đi đến thành công.

Nhưng không phải lúc nào cũng có thể thuyết khách như vậy. Cho đến bây giờ Nguyễn Chí Công vẫn còn tiếc, còn đau vì đã không vượt qua được cản trở của một số quan chức trong ngành để đưa tin học của Việt nam vào phát triển công nghiệp thông tin, đi trước nhiều nước trong khu vực như lẽ ra nó đã xảy ra. Vào đầu thập kỷ 80, Nguyễn Chí Công và các đồng nghiệp đã đưa được máy IBM PC/XT với đĩa cứng và nhiều phần mềm Mỹ vào ứng dụng lần đầu tiên trong Văn phòng chính phủ và được thưởng mỗi người mấy mét vải. Các vị lãnh đạo đất nước như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phạm Hùng đều đã dự cảm đúng và nhìn ra vai trò quan trọng của tin học sớm hơn lãnh đạo của các nước trong khu vực, nên ngay từ lúc đó đã có thái độ hết sức quan tâm ủng hộ. Thế nhưng, một số quan chức có học vị lãnh đạo trực tiếp khoa học đã không tin vào tương lai tin học, gây chậm trễ, cản trở và lái hoạt động của ngành này sang hướng khác có lợi cho cá nhân họ, khiến Việt nam bỏ lỡ cơ hội thành một nước phát triển công nghiệp thông tin như các nước trong khu vực đã chọn làm vũ khí kinh tế hàng đầu mấy năm sau đó.

“Tôi tiếc là không được gặp TBT Lê Duẩn để trình bày với ông khả năng phát triển công nghiệp thông tin của Việt nam. Vì vào thời điểm ấy các nước châu Á chưa có nước nào chế tạo được máy vi tính như ta. Trên thế giới, những nước như ta đếm trên đầu ngón tay. Nếu tôi được gặp ông Lê Duẩn thì có thể tình hình đã khác, sẽ có bùng nổ lớn lắm, đổi thay toàn bộ.” - Nguyễn Chí Công nói đầy vẻ tiếc rẻ.

Sự thẳng thắn và cái chết ngoài hệ thống

Số phận đã dun dủi cho tôi được biết anh khi tình cờ tôi trở thành người được gia đình anh gửi gắm cậu con trai đầu lòng, nhờ dìu dắt cho cháu vào nghề điện ảnh. Khi tôi gặp anh lần đầu, Nguyễn Chí Công hồn nhiên khoe nửa đùa nửa thật: “Tôi tiết kiệm cho nhà nước hàng trăm tỷ đấy, vì được tham gia duyệt các dự án thành phần do các địa phương gửi lên, tôi gạch đi nhiều khoản lắm. Họ cứ kê vống lên, mua nhiều thứ chẳng cần cho dự án”. Khi đó tôi mới biết anh giữ một cương vị gì đó như là kiến trúc sư trưởng của Đề án 112. Khi đến nhà anh tôi hơi bị bất ngờ vì con người thiết kế được cái phễu vĩ đại để người ta có thể rót qua đó hàng trăm hàng ngàn tỷ ấy lại có một cuộc sống có vẻ đạm bạc, đồ đạc đơn sơ, chỉ thấy ba bốn cái máy tính các kiểu, dây dợ lằng nhằng với những phần mềm khoa học hay đồ họa, không có dấu hiệu gì của “phần mềm” trong cuộc sống!

Khi Đề án 112 bị báo chí phê phán, trách nhiệm không thuộc về anh, anh vẫn khách quan khẳng định những cái được của Đề án này. Anh bảo, mười năm trước, chính phủ Pháp, Anh chi tiền làm e-goverment gấp hàng trăm lần mà không có được những kết quả như ta hiện nay. Hàng vạn công chức đang hăng hái chuyển mình lại bị dội nước lạnh.

Trong vụ 112, Nguyễn Chí Công có vẻ là hiện thân của “cái chết ngoài hệ thống” do tính tình thẳng thắn. Cái tính thẳng thắn của anh không phải là một đức hạnh dại dột, mà chính là một sức mạnh của cốt cách sĩ phu, chí sĩ bắt nguồn từ một truyền thống tâm linh. Hình ảnh Tống Duy Tân bẻ bút tự mổ bụng mình và hình ảnh các chí sĩ của khởi nghĩa Yên Bái giật dải băng đen trước khi bị thực dân Pháp chém đầu đã ám ảnh anh từ bé. Anh bảo: “Samurai của Nhật phải kính trọng Samurai Việt nam, vì Samurai Việt nam là những người có học, chứ không phải hầu như chỉ biết võ chay. Ta hầu như quên mất những di sản tinh thần đó. Các con tôi bây giờ còn chưa biết tổ tiên là ai”. Có cảm giác rằng, nếu Nguyễn Chí Công là một trong những chí sĩ bị địch bắt năm xưa, anh cũng sẵn sàng gật tung dải băng che mắt để nhìn thẳng vào lưỡi gươm kẻ thù. Sự thẳng thắn của anh là một cái gì như Đạo. Người ta sẵn sàng tử vì đạo cho một niềm tin văn hóa, tâm linh.

Một sĩ phu bí ẩn và lập dị

Làng Đông Tác quê hương Nguyễn Chí Công trước đây còn thuộc Hà Đông, quanh năm lầy lội, cậu bé Công phải cắp guốc bên nách lội bùn đi học, đến trường mới bỏ guốc xuống đi. Đến bây giờ ngôi làng xưa nhà cửa đường xá đã sạch sẽ phong quang, nhưng anh vẫn phải cắp bên nách đôi guốc của một sĩ phu kiêu hãnh, thẳng thắn và trong sạch để tiếp tục lội qua cánh đồng lầy của những tư duy cũ và lề thói cũ. Hình ảnh người trí thức giàu nhiệt huyết canh tân với đôi guốc sạch có cái gì lập dị và bí ẩn – cái bí ẩn của cuộc đời, cái bí ẩn của thời cuộc, cái bí ẩn của cốt cách thiền sư. Có lẽ tạo hóa đã cố ý phủ lên anh một màn sương bí ẩn để giảm bớt cho anh những thiệt thòi, phiền toái do cái tính thẳng thắn của anh gây ra.

Từ bé, Nguyễn Chí Công đã có những sở thích bí ẩn: thích những hòn đá, bị gọi là “hâm” vì đi đâu cũng nhặt những hòn đá, hòn sỏi, hổ phách, lá rừng, con bướm, chiếc tem... và nhiều thứ linh tinh khác. Người mải nhặt nhạnh những hòn sỏi, những chiếc lá, những linh kiện để làm máy tính thì thường có những mối quan tâm khác lạ ở những cảnh giới khác, chẳng để ý nhặt nhạnh những đồng tiền, những giải thưởng, những chức danh. Vào cuối những năm 70, danh tiếng Nguyễn Chí Công đã nổi, nhiều cô gái xinh con thứ bộ trưởng dập dình, nhưng anh vẫn thả hồn mải mê nhặt nhạnh những thứ linh tinh để chế tạo máy tính. Số tiền anh bỏ ra mua các thiết bị máy tính đủ mua mấy cái căn hộ lúc bấy giờ. Năm 1991, ông Vũ Đình Cự đưa Nguyễn Chí Công từ công ty FPT về Viện Công nghệ quốc gia làm Giám đốc ISC với những đề tài táo bạo, khi ký quyết định lại quên mất khoản lương, nhưng anh vẫn cứ làm mải mê, cần mẫn. Một năm sau kế toán trưởng mới phát hiện ra và hỏi: “Thế anh không có lương à?”. Anh cười đầy bí ẩn! Thực ra, anh biết mình không có lương nhưng vẫn làm hết mình để độc lập với FPT. Bù lại, anh tạo thu nhập bằng con đường dạy học cho những người chuẩn bị thi đi nước ngoài, rồi dạy ngoại ngữ, viết bài gửi in ở báo Tây và thực hiện các hợp đồng kinh tế kỹ thuật lớn. Hiện nay, bên cạnh công việc chính, Nguyễn Chí Công cũng đang tham gia nhiều dự án, trong đó có cả các dự án về khoáng vật và chế tạo kim loại quý.

Khi chưa lấy vợ, Nguyễn Chí Công ở với mẹ tại xóm trại Cam đường. Anh để chiếc máy tính tự chế tạo trong một cái hòm khóa lại mỗi khi không dùng. Nhưng mẹ anh chẳng biết trong nhà mình có cái máy tính sẽ đi vào lịch sử. Tác phong bí ẩn đã xuất hiện trong cuộc sống của anh từ lúc nào. Khi lấy vợ rồi, anh cũng rất yêu gia đình, thường nói chuyện xã hội cởi mở với vợ con, hay dạy các con về lẽ sống và nhân cách, nhưng công việc nghiên cứu khoa học và suy nghĩ của anh thì vợ con hầu như không biết rõ. Có những thời kỳ dài đi công tác trong nước ngoài nước, trăn trở lo toan biết bao đại sự, nhưng vợ con cũng chẳng biết gì. Cho đến một ngày giữa tháng 5 năm 2007, Nguyễn Chí Công đi nhận Giải thưởng Nhà nước trao cho tập thể tác giả năm thiết bị mật mã chuyên dụng giai đoạn 1990-2002 của Ban cơ yếu chính phủ, vợ con mới biết anh đã từng tham gia chế tạo những thiết bị này. Trước ngày trao giải không lâu chính anh cũng mới biết là mình được giải, vì anh chưa bao giờ làm hồ sơ Giải thưởng, tất cả đều do người khác tự động làm thay. Đây có lẽ là Giải thưởng Nhà nước đầu tiên trao cho những người trong ngành tin học.

JPEG - 47.8 kb
Lễ nhận Giải thưởng Nhà nước (ảnh tư liệu)

Tác phong bí ẩn của Nguyễn Chí Công có thể có nguồn gốc trực tiếp từ những công việc cần bí mật, nhưng sâu xa hơn có lẽ đó là hệ quả của những cuộc phiêu lưu nghiên cứu và thực nghiệm xuyên qua ranh giới của tư tưởng hệ những năm tháng Việt Nam bị cấm vận, bao vây. Nguyễn Chí Công tâm sự: “Tôi khoái nhất Doxtoiepxki, cảm giác là nếu đứng trước ông thì mình lộ hết chân tướng”. Nhưng nếu quả nhà văn Nga vĩ đại có hiện về làm lộ chân tướng Nguyễn Chí Công, thì ông sẽ làm cho mọi người thêm quý trọng anh. Vì bên trong cái vẻ bí ẩn kia chỉ có thể là một cái Tâm với sự nghiệp canh tân đất nước và những khát vọng phiêu lưu vô tư, trong sáng.

Có lẽ cái gien văn hóa văn chương của dòng họ vẫn ngày ngày rạo rực trong anh nên ngay cả khi đã trở thành một nhà khoa học chuyên nghiệp, Nguyễn Chí Công vẫn bị lôi vào những cuộc chơi chữ nghĩa say mê, nhiều khi vì thế mà anh thêm vẻ lập dị và bí ẩn. Theo anh, “Nếu chỉ làm khoa học mà không có nghệ thuật thì sống vô vị, nếu làm nghệ thuật mà không có khoa học thì cũng thiếu phương tiện.” Vừa say mê nghiên cứu ứng dụng tin học, anh vừa viết văn, làm thơ, dịch tiểu thuyết nước ngoài, dịch gần như toàn bộ truyện ngắn Turghenhep, dịch cả văn của những nước nhỏ chẳng mấy ai quan tâm. Dịch chỉ để thỏa lòng yêu văn chương, dịch rồi để đấy thôi, không lo xuất bản. Thế rồi, vì bí ẩn quá nên vợ con chẳng biết trong những đống giấy má đồ đạc linh tinh của anh cái gì là quan trọng. Kết quả là trong lúc anh đi vắng vợ anh dọn nhà đã bán đi mấy xe xích lô giấy báo, trong đó có rất nhiều kỷ niệm, tài liệu và những sáng tác hồi trẻ của anh.

Cho đến phút này Nguyễn Chí Công tự coi mình là con người hạnh phúc, may mắn, có đóng góp cho xã hội, độc lập về tư tưởng, không lệ thuộc ai, suốt đời thích thực nghiệm và ứng dụng, không quan tâm mấy đến sức khoẻ, không thích nô lệ sách vở, ưa phiêu lưu, trung thành với bạn bè, yêu thiên nhiên, ghét nói suông và lý luận suông. Có thể nói anh đã kế tục được ở những tiền nhân họ Nguyễn làng Đông Tác tinh thần yêu nước và khát vọng canh tân. Những đóng góp lớn của anh trong lĩnh vực công nghệ thông tin đã cho thấy GS Nguyễn Hữu Tảo quyết định chọn nghề kỹ thuật cho con trai là vô cùng sáng suốt.

Đỗ Minh Tuấn, Tiền Phong cuối tuần 1/6/2007