Quick browsing

Home > Văn chương > Nghiên cứu > Nguyễn Văn Lý - Kẻ sĩ - Nhà văn hóa đất Thăng long

Nguyễn Văn Lý - Kẻ sĩ - Nhà văn hóa đất Thăng long

PGS.TS Trần Thị Băng Thanh

Friday 3 May 2013

I. THÂN THẾ, ĐƯỜNG ĐỜI

1. Họ Nguyễn ở Đông tác - cội nguồn

Nguyễn Văn L‎ý sinh năm Cảnh Thịnh thứ 3 (1795), húy là Dưỡng, tên tự là Tuần Phủ, hiệu là Chí Đình, biệt hiệu Đông Khê, còn có hiệu là Chí Hiên, Chí Am, người làng Đông Tác, huyện Thọ Xương. Đông Tác là một làng cổ của Kinh thành Thăng Long(1), phong cảnh thiên nhiên hữu tình, có “hồ Âm Khang rộng hàng ngàn khoảnh, nước trong veo như một tấm gương” (Đông Khê thi tập bạt) – khuôn hồ này về sau còn trở lại trong những sáng tác của Nguyễn Văn Lý. Nhận xét về vị trí phong thủy của làng, Phan Hy Hiến khi viết lời Bạt cho Đông Khê thi tập đã viết: “Ngu tôi khi bắt đầu cắp cặp đến cố thành, từng đi qua làng ông, xem phong thủy nơi đây biết ắt sinh ra người khác thường”(2). Làng thuộc huyện Thọ Xương, cái tên mang ước vọng một vùng đất hưng thịnh lâu dài, nhưng đến thời Nguyễn Văn Lý, khi kinh đô chuyển về Phú Xuân, trong không khí đô thị hóa, đã có sự sa sút. Nguyễn Văn Lý thường vẫn trăn trở về điều đó: “Họ ta nghèo, thôn ta ở giữa thành thị, không có đất để cày cấy lại không có nghề nghiệp ổn định, rất đáng phải lo nghĩ”. Gặp những năm mất mùa, thóc cao gạo kém, tình hình dân chúng khốn quẫn thì vùng quê ông là nơi thuộc “thành thị càng trầm trọng”. Thân phụ Nguyễn Văn Lý từng đề xuất lập kho nghĩa thương “tích it thành nhiều để phòng khi thiếu thốn” nhưng cũng mãi năm 1865, Nguyễn Văn Lý về hưu mới bắt đầu được gây dựng. Cũng thời gian này xảy ra nạn dịch tả, Nguyễn Văn Lý trong hai ngày mất hai người thân – “vợ thứ họ Ngô bị bệnh tả, thuốc thang không khỏi, mất ngày 13 tháng 8, chị tuổi cao cũng bị bệnh ấy, đều không cứu được, đã mất ngày 14.” (Bđd). Thêm nữa, lúc này thực dân Pháp ngày càng lấn tới, triều Nguyễn lúng túng trong đối sách, các quan trong triều chia làm hai phe, Tự Đức chủ hòa. Những người nhiệt thành yêu nước chủ chiến, nhiều người chống mệnh vua, bị trấn áp. Bắc Thành không còn yên tĩnh, Nguyễn Văn Lý nghỉ về quê, nhưng xem ra quang cảnh êm đềm: Kết lư duy thị hướng yên ba(Nhà tranh lại dựng giữa bầu khói mây - Ủy gia nội) khó có thể là hiện thực trọn vẹn.

Nguyễn Văn Lý sinh ra trong một gia đình dòng dõi thi thư. Họ Nguyễn vốn ở Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, (nay là huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa), vào cuối đời Lê Thánh Tông (1460-1497) mới rời ra phường Đông Tác khai hoang và có nghề nung đúc.Vị đầu tiên lập nghiệp ở đây là Chính Thiện. Vị đời thứ hai, bắt đầu được phong chức Quang tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Định Huân vệ Trường thắng, tước Tả Sở Khuông Lĩnh An Mỹ nam, thụy là Thanh Nhàn. Các đời tiếp theo đều làm quan và có tước phong, nhưng rạng rỡ hơn hẳn các đời trước là Giải nguyên Nguyễn Hy Quang (1634-1692) đỗ khoa Sĩ vọng năm 1673. Sau hai năm làm chức Giáo thụ phủ Thường Tín, cụ được gọi vào phủ chúa giao cho dạy dỗ các thế tử, trong đó cụ có ảnh hưởng đậm nhất đối với thế tử Trịnh Bính. Trong khi đàm luận về đạo chúa tôi, Nguyễn Hy Quang đã dâng bài Quân thần luận, được chúa khen là Lời này sánh ngang với tác phẩm Thập tiệm của Ngụy Trưng đời Đường(3). Năm Chính Hòa thứ 5 (1684) Nguyễn Hy Quang làm tới chức Lang trung bộ Lại kiêm Tri bộ Hộ. Trước khi mất một năm được thăng Công khoa Đô cấp sự trung, tước Hiển Phương bá. Cũng năm ấy, cụ dâng khải cáo bệnh xin nghỉ, năm sau, Nhâm Thân (1692), cụ mất tại nhà riêng. Khi cụ lâm bệnh, chúa Trịnh Bính lo lắng, cử người thuốc thang, sai lập đàn cầu cúng và thân viết bài “mật đảo văn” xin trời đất tăng tuổi thọ cho cụ. Khi cụ mất chúa đã nghỉ chầu 3 ngày, lại sai quan đến lo việc tang tế trang trọng; triều đình truy tặng Công bộ Thượng thư và tước Hiển quận công. Nguyễn Hy Quang còn sáng tác bài thơ Nôm Cảm tác khi xây xong nhà ngay trước hồ Ba Mẫu ngày nay(4). Đây là một áng thơ Nôm thể lục bát hiếm hoi, đã rất hoàn chỉnh, văn từ mượt mà, có niên đại rõ ràng, đó là một đóng góp cho văn học, thêm chứng cứ để xem xét hành trình của thể thơ dân tộc này. Đương thời Nguyễn Hy Quang rất được trọng vọng, năm 1745 niên hiệu Cảnh Hưng, cụ được phong Trung đẳng phúc thần, tặng phong mỹ tự Trực Ôn Văn Nhã Đại vương; đến năm 1783 Đoan Nam vương Trịnh Khải ra lệnh sai quan đến tế theo lễ Thiếu lao và cho hai phường Đông Tác, Kim Liên làm dân tạo lệ để trông coi nhà thờ. Lịch triều tạp kỷ nhận định “Quang nổi tiếng về văn học, từng sung làm giảng dụ trong phủ chúa ..., người kỳ cựu và có học vấn. Là bậc sư thần, Quang giữ gìn cẩn thận, có công lao trong việc phụ chính”(5).

Tiếp theo Nguyễn Hy Quang, cụ tổ đời thứ tám là Nguyễn Trù (1668-1736), Hoàng giáp khoa Đinh Sửu (1697) từng làm Hữu Thị lang bộ Hình và Tế tửu Quốc Tử Giám. Về văn học đóng góp quan trọng của vị Hoàng giáp là biên tập, hiệu đính và tổ chức khắc in hai bộ Sách học đề cương chú và Quần hiền phú tập. Tập phú không những có giá trị cho việc dạy học mà còn là một bộ sưu tập giữ lại được những tác phẩm phú chữ Hán trong thời kỳ thịnh đạt của thể loại, mà nhà bác học Lê Quý Đôn đã khen là “khôi kỳ, hùng vĩ, lưu loát, đẹp đẽ”(6). Ngoài ra, cụ còn cho in sách Truyền kỳ lục, cũng là một tác phẩm thuộc thể loại hiếm quý của văn học Việt Nam, tiếc là tập sách này hiện chưa tìm thấy.

Họ Nguyễn Đông Tác, trong thời trung đại, không nhiều người đỗ đại khoa, nhưng truyền thống học hành rất được coi trọng và khá hiển đạt cả về đường võ. Người con trưởng của cụ Hy Quang được phong Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân lĩnh Tiền thắng quân chính thủ, chức Tổng binh, tước Tào Quận công, sau được thờ làm Thành hoàng làng; người con thứ đỗ Hương cống, được phong Đặc tiến Kim tử vinh lộc Đại phu, con trai út được phong tước Dũng Quận công. Thân phụ Nguyễn Văn Lý cũng đỗ sinh đồ dưới triều Lê nhưng gặp “loạn” Tây Sơn nên không ra làm quan(7).

2. Đường quan – chí hướng và trải nghiệm

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống thi thư và hiển hách, Nguyễn Văn Lý “từ nhỏ đã để chí vào việc học hành” (Đại Nam liệt truyện)(8). Năm 14 tuổi (1808) ông theo học Bùi Chỉ Trai, em Tham tụng triều Lê Bùi Huy Bích và chịu nhiều ảnh hưởng của học phong họ Bùi. Đến năm 18 tuổi (1812) ông theo học Bạch Trai Lê Hoàng Đạo, Tiến sĩ, Đốc học Hà Nội, sức học tấn tới nhiều. Việc học hành đang thuận lợi thì vào năm 1817 thân mẫu Nguyễn Văn Lý bị bệnh nặng. Ông cùng em trai là Phương Khê phải ở nhà trông nom thuốc thang, “đêm đêm hai anh em kê chiếc giường nhỏ bên cạnh để cùng chăm sóc, nghe ngóng bệnh tình của mẹ” (Bđd). Tháng 2 năm sau (Mậu Dần 1818) thì bà mất. Chôn cất mẹ xong, mới được vài tháng thì cha bị bệnh, đến tháng 6 cũng qua đời. Tháng 11, việc tang, táng xong, hai anh em hàng ngày đến khóc ở phần mộ. “Chỉ trong vòng có một năm mà gia đình có đến hai biến cố lớn, gia sản tổ tiên để lại có 4 mẫu ruộng bạc điền đã bán hết để lo việc tang” (Tự truyện, đã dẫn). Vì vậy Nguyễn Văn Lý phải lấy việc dạy trẻ làm kế sinh nhai. Việc học hành thi cử cũng bị chậm lại.

Năm 28 tuổi, Nguyễn văn Lý cưới vợ, là con gái thứ hai của Tri phủ họ Nguyễn, người Kim Lũ. Tháng 10 ông thi Hương chỉ trúng Nhị trường. Sau đó ông tìm theo học Tiến sĩ Lập Trai Phạm Quý Thích, Đốc học Cao Huy Diệu, Tri huyện Tiên Minh Nguyễn Trừng. Nhưng đối với Nguyễn Văn Lý, người thày hiểu ông nhất, có ảnh hưởng đến ông lớn nhất mà ông vô cùng kính trọng là Lập Trai Phạm Quý Thích. Trong tình cảm của ông, chỉ cần “Tấm biển Lập Trai còn thì đạo học vẫn được tôn kính” (Cung vãn nghiệp sư Phạm Lập Trai). Được sự khuyến khích, dắt dẫn của thày Phạm Lập Trai,khoa thi Hương năm Ất Dậu (1825), 31 tuổi, Nguyễn Văn Lý đỗ Cử nhân, cùng khoa vớí Nguyễn Văn Siêu, Hoàng Tế Mỹ, Vũ Tông Phan... Khoa ấy lấy 28 người, ông đỗ thứ 3/4 người thuộc hạng ưu. Nhưng hai kỳ thi Hội Bính Tuất (1826), Kỷ Sửu (1829) đều không đỗ, phải đến khoa Nhâm Thìn, Minh Mệnh thứ 13 (1832), 38 tuổi, ông mới đỗ Tiến sĩ. Tháng 5 vào điện thí ở giải vũ điện Cần Chánh; quan Độc quyển là Binh bộ Thượng thư Lê Văn Đức (người mà khi Nguyễn Văn Lý gặp lại ở Gia Định đã đề Tựa tập thơ Đông Khê cho ông) và Lễ bộ Thượng thư Phan Huy Thực; quyển của ông được vua phê bút son (châu phê) 4 chữ “Tam giáp nhất danh” (Đỗ nhất đệ tam giáp). Khoa này lấy đỗ 8 Tiến sĩ. Sau khi vinh quy, Nguyễn Văn Lý được bổ làm Hàn lâm biên tu. Năm 1833, tháng 2 (Âm lịch), được bổ làm Tri phủ phủ Thuận An, 8 tháng sau thì có mệnh triệu vào Kinh và tháng 4 (ÂL) năm 1834 được trao chức Viên ngoại lang bộ Lại.Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) ông được bổ làm Án sát sứ Phú Yên đồng Hộ lý tuần phủ quan phòng. Tháng 8 được cử làm Chánh chủ khảo trường thi Gia Định. Cuộc đời làm quan của ông cũng nhiều thăng trầm và có những nỗi oan. Tháng 10 (ÂL) năm 1833 phủ Thuận An xảy ra việc tù phạm phá ngục, dù ông đi việc quan vắng vẫn bị triều đình giáng 1 cấp. Khi làm quan ở Phú Yên có 2 lần ông bị giáng chức. Lần thứ nhất vì việc dâng xoài chậm, bộ Lễ tham hạch, bộ Lại nghị tội là trái với quy định “phạt nhẹ giáng lưu” (Tiến am la trì ngộ Lễ bộ tham hạch, Lại bộ nghị xử, chiếu vi chế tòng trọng luận, ngưỡng mông bạc trách giáng lưu, thư thị đồng sự Phan đài). Năm 1844, một lái buôn ở Phú Yên ăn trộm, vu khống ông nhận hối lộ, dù Học sĩ Vũ Phạm Khải và Án sát Nguyễn Công Vịnh xét xử đã kết luận Nguyễn Văn Lý vô tội nhưng vẫn bị cách chức.

Trong thời gian làm quan, Nguyễn Văn Lý luôn quan tâm đến những việc giúp dân cứu đời, quan tâm đến việc học của sĩ tử. Ông dâng sớ xin miễn lính cho 7 người con cháu triều Lê trước; xin tha tội chết cho 10 tù nhân chịu tội tử hình, và mở cho con đường sống là cho khẩn hoang ruộng bỏ hóa, hoãn thuế 3 năm, xin thả các tù phạm người Man cho về quê quán. Người dân Trung Quốc thời nhà Minh chạy sang Việt Nam lập làng (sau gọi là Minh hương) cũng được chu cấp, khi có việc oan khuất đều được giải quyết; thuyền buôn nhà Thanh bị mất trộm đến kêu cứu, ông cũng hết sức tìm lại cho,... Những việc giúp đời như thế của ông, dân Phú Yên, dân Minh hương coi là việc ân đức đều đem vàng, bạc hàng trăm lạng tới tạ, nhưng ông không nhận, bảo rằng: “Ta chỉ để ơn lại cho dân ta mà thôi”.

Nguyễn Văn Lý bị cách chức cho về quê(9), nhưng chỉ 2 tháng sau, tháng 7 lại có chỉ khởi hồi chức Hàn Lâm viện Điển bạ, làm Tu văn quy. Khi vua Thiệu Trị băng hà, ông lại được mệnh đi tìm đất an lăng, đây cũng là một việc chứng tỏ sự tín nhiệm của vua Tự Đức đối với ông. Nhân dịp này ông được ban thưởng, nhưng lộ trình làm quan dường như đã chững lại. Năm Mậu Thân (1848), tháng 9 được sai làm sơ khảo trường thi Nam Định; tháng 11 công việc xong, Nguyễn Văn Lý xin về và ông ở nhà cho đến giữa năm Bính Thìn (1856). Thời gian này, ông có một vài việc vui, như trùng tu nhà thờ đại tông bên bờ hồ Ba Mẫu (tên ngày nay), Trung Tự, cưới bà vợ thứ họ Ngô (năm 1851), viết sách, giao du với bạn bè, làm thơ; năm 1852 cùng Lê Duy Trung điểm duyệt thơ Vũ Tông Phan(10); năm 1853, bạn đồng niên Nguyễn Văn Siêu sau khi bị giáng trật trở về, đã mở lại trường Phương Đình mà theo Vũ Thế Khôi đã được hoạt động từ trước năm 1838, và kế tục Vũ Tông Phan làm Hội trưởng Hội Hướng thiện. Không thấy Nguyễn Văn Lý nói đến việc mở ngôi trường Đại tập Chí Đình, nhưng ngay từ năm song thân ông qua đời, 1823, Nguyễn Văn Lý đã “lấy nghề dạy trẻ làm kế sinh nhai” thì chắc rằng khi về nghỉ ngôi trường cũ sẽ hoạt động lại (và bây giờ là trường “đại tập”?). Công việc dạy học còn tiếp tục suốt những năm ông làm Đốc học Hưng Yên để có số học trò lên tới năm trăm người, trong đó khoa Ất Sửu (1865) có đến 2 người đỗ đại khoa. Nhưng có lẽ ông còn muốn “hưởng cái nhàn trên núi Hùng Sơn, cùng bạn bè đàm đạo thơ văn” và cũng vì dân vùng này trọng đạo, nên năm 1856 Nguyễn văn Lý đi Sơn Bình, huyện Lập Thạch mở quán dạy học. Cũng không rõ có phải đây cũng là một chủ trương đưa việc học đến tận những nơi xa xôi nhằm mở rộng văn hóa của nhóm kẻ sĩ Thăng Long hay không, nhưng Vũ Tông Phan, sau khi trường Hồ Đình hoạt động vững vàng, năm 1848 cũng về vùng quê Kim Giang, huyện Sơn Minh trên sông Đáy “ẩn dật”?.

Nhưng cũng thời gian này xảy ra một vài sự kiện rất buồn. Tháng 6 năm Tân Hợi (1851) Vũ Tông Phan, người bạn cùng chí hướng, người sáng lập ra Hội Hướng thiện qua đời, Nguyễn Văn Lý coi đây là một sự mất mát lớn lao “Bọn người sau ta mất đi bậc lương tri rồi!” (Văn tế Đốc học Tự Tháp Vũ Lỗ Am). Tháng 11 năm Giáp Dần (1854), Cao Bá Quát, một thủ lĩnh quan trọng của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương, bạn vong niên thân thiết của Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Siêu, tử trận. Họ Cao bị tội tru di, không còn người nối dõi, xem ra sĩ phu Bắc Hà không tâm phục quyết án đó, Nguyễn Văn Siêu có đôi câu đối viếng ý tứ thâm trầm:
Khả lân tai! Cắng cổ tài danh, nan đệ cánh nan huynh, bất thế ngẫu sinh hoàn ngẫu tử;
Tối cảm giả! Đáo đầu sự thế, thử nhân nhi thử ngộ, hỗn trần lưu xú diệc lưu phương.

(Thảm thương thay! Kim cổ đáng mặt anh tài, anh và em cùng hiếm có, chẳng đúng thời, cùng sinh lại cùng thác;
Đau đớn nhỉ! Sự việc rốt cuộc là thế, người này gặp cảnh ngộ này, đời hỗn trọc, lưu xấu cũng lưu thơm)(11).

Chưa hết, năm Bính Thìn (1856) Ngô Thế Vinh cũng mất, cái nôi đào tạo nhân tài của Thăng Long lại chịu một tổn thất nữa.

Nguyễn Văn Lý ở vùng Lập Thạch được 9 tháng thì khuyết chức “Tư đạc” phủ Thường Tín, Tổng đốc Hà Ninh lúc đó là Lâm Duy Nghĩa rất hiểu tài năng đức hạnh Nguyễn Văn Lý đã tiến cử và ông được bổ chức Giáo thụ phủ ấy. Ông giữ chức ở đây ba năm, học trò rất đông đúc. Năm 1858 được sung chức phúc khảo trường thi Nam Định; mùa đông năm ấy qua Hoàng Văn Thu Tổng đốc Hà Ninh, Nguyễn Văn Lý “mật trần kế sách đánh Tây”, được Tự Đức châu phê “Đã xem”. Năm 1859, do Tổng đốc Định Tường Nguyễn Phượng Hiên tiến cử, ông lại được thăng chức Hàn lâm Tu soạn, lĩnh chức Đốc học Hưng Yên “để đào tạo nhân tài”. Năm 1860, mùa xuân, Nguyễn Văn Lý mới đến Học đường nhậm chức. Lúc này học trò của ông đông tới 500 người.

Tuy nhiên tình hình Bắc Hà đã trở nên không yên ổn, nhiều người trong giới sĩ phu không đồng thuận với triều đình. Nguyễn Văn Lý là người nhiệt thành yêu nước, dù chỉ giữ chức học quan, nhưng nghe có việc nghị hòa, ông đã cùng các Giáo thụ, Huấn đạo trong hạt mình dâng sớ can ngăn. Năm Nhâm Tuất (1862), giặc vùng Đông Bắc lại nổi lên, sĩ tử bỏ học. Nguyễn Văn Lý có lẽ được rảnh rang đôi chút, ông lên chơi núi Long Đội huyện Duy Tiên, họa thơ lưu đề của Nam Thiên Động chủ và tự tăng. Tháng 3 năm Giáp Tý (1864), 70 tuổi, ông uống rượu, làm thơ tự mừng thọ ở ngay Học xá Hưng Yên. Bấy giờ Nguyễn Văn Lý giữ chức Đốc học Hưng Yên đã được 5 năm, đúng lúc ông đang không khỏe, cần phải thuốc thang thì sứ của bộ Lại đến truyền chỉ, bút son phê “Vào Kinh đợi chỉ”. Mệnh vua đến từ tháng 3, tháng 5 bệnh hơi đỡ ông mới lên đường. Tháng 6 tới Kinh, ngụ ở Sử quán, bộ Lại tâu lên. Quan Thái giám giao cho một Long trát, châu phê: “Ta nghe Tùng Thiện công nói Nguyễn Văn Lý giỏi bói cỏ thi và bói mai rùa, lời bói phần nhiều ứng nghiệm. Nếu quả đúng như vậy, hoặc có kiêm các thuật bói khác thì cứ thực tâu lên, không được ẩn giấu. Hãy về bói xem hạ tuần tháng này ngày nào tạnh ngày nào mưa để nghiệm xem. Khâm thử!” (Tự truyện, Bđd). Nguyên là tình hình đất nước đã rất nguy ngập, 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ đã mất, nhưng Pháp vẫn đánh tiếp ra các tỉnh khác và không ngừng gây sức ép, quyết thôn tính cả nước Việt Nam. Phan Thanh Giản được cử đi Pháp thương lượng đòi lại ba tỉnh miền Đông không thành, Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn (1832) Đỗ Quang, bạn đồng niên với Nguyễn Văn Lý, Tri phủ Định Tường, tham gia cuộc kháng Pháp ở Nam Kỳ cùng Trương Định, bị triệu về làm Tuần phủ Nam Định, dâng biểu từ quan. Tự Đức vẫn chủ hòa, nhưng có lẽ bối rối, muốn trông chờ vào thời vận nên mới triệu Nguyễn Văn Lý vào Kinh sai bói. Và có lẽ để có thể tin chắc lời phán bảo của thế lực siêu nhiên, nhà vua bắt Nguyễn Văn Lý thử nghiệm bằng việc đoán “ngày nắng ngày mưa” ngay trong cuối tháng. Đó là một sự thách đố, Nguyễn Văn Lý “trong lòng rất lo lắng”. Cuối cùng ông cũng bói được quẻ Khảm sang quẻ Khốn rồi “cứ theo ý đoán mà tâu trình”, rằng: “Quẻ Khảm, hào Lục tứ có lời Kinh: “Chén rượu, rá xôi, thêm dùng hồ sành, nộp ước tự cửa sổ tròn, sau chót không lỗi”. Quẻ Khốn, hào Cửu tứ có lời Kinh rằng: “Lại thong thả, khốn bởi xe sắt, đáng tiếc, có kết thúc”” (trong Tự tuyện, đã dẫn có viết kỹ chuyện này).

Ngày 10 tháng 7 ông dâng tập điều trần gồm ba điều “ích nước lợi binh”. Một là nói Hiệp quản Hưng Yên là Vũ Lực tình nguyện đi đánh giặc báo thù cha, xin giao cho quân thứ Hải Dương để liệu mà điều bổ tiễu phạt. Hai là xin lập 3 đồn ở những nơi trọng yếu của Hải Dương để phòng thủ, ngăn ngừa đường ra vào của hải phỉ, như thế, không cần đánh mà giặc tự thua. Ba là bốn cửa bể lớn của Nam Định thực là đất phù sa phì nhiêu nên kịp thời khai khẩn thành ruộng. Tập điều trần dâng lên, Tự Đức lưu lại 2 ngày rồi đưa cho nội các, châu phê: “Giao Bộ duyệt, bàn mà thi hành”. Trong triều các quan xin cho Nguyễn Văn Lý lĩnh chức Thiếu khanh sung Toản tu Sử quán, nhưng ông tỏ ý không muốn nhận. Ngày 17 tháng 7 ông được lệnh đến Duyệt Thị đường trả lời một số khoản hỏi han. Việc xong, truyền cấp ngựa trạm đưa về lị sở cũ. Khi ông ra về, Thượng công Thương Sơn có thơ tiễn, sai con trai là Quận quân thân đến chỗ trọ ở Sử quán vái biệt, tặng 2 tiền, lại nói “Ta rất nghèo, chỉ là tình cảm thôi!”. Các quan thượng khanh đều thân đến tiễn. Ngày 23 ra khỏi Kinh đô, giữa tháng 8 về đến Học đường Hưng Yên, vừa kịp thu quyển thi hương. Khoa thi này, môn sinh Nguyễn Văn Lý nhiều người đỗ. Nhưng trường thi Nam Định lại xảy ra chuyện. Những sĩ tử có chí khí chỉ trích quan Chủ tư Ngụy Khắc Đản đi sứ Tây, “hoàn thành cục diện chủ hòa”, không xứng đáng nắm vận mệnh văn chương, trương biển ngăn không cho học trò vào trường thi. Ngụy Khắc Đản lập tức tâu trình, vua xuống chỉ “Các quan Tế tửu, Tư nghiệp, và các quan Đốc học, Huấn đạo, Giáo thụ các tỉnh bị cách lưu một bực để khiển trách”. Sự việc đó khiến Nguyễn Văn Lý chán nản, ông viết trong Tự truyện “Phủ nhân đó nghĩ ... Nhân tình thế thái như vậy, còn có thể làm quan được nữa sao!” Và tháng 3 năm Ất Sửu (1865), Nguyễn Văn Lý lấy cớ già yếu xin nghỉ, “cách lưu hay không chẳng bận tâm hỏi đến nữa”. Nhưng Tự Đức hiểu rằng việc cách quan lần này Nguyễn Văn Lý hoàn toàn không có lỗi, vì vậy sắc viết: “Nguyễn Văn Lý, Tiến sĩ xuất thân, 34 năm trước đây từng làm Án sát; án cách lưu lần này đại lược là xét cùng với mọi người, chiếu lệ công tội mà hoàn trở về nguyên tịch xuất thân, lòng trẫm không nỡ, nếu khai phục toàn hạng cũng chưa hợp. Vậy chuẩn cho Nguyễn Văn Lý giữ nguyên hàm Trước tác về hưu”. Đến tháng 5, bản sao sắc văn của Bộ gửi đến ông liền về quê. Đến nhà, thì vừa lúc học trò là tân Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp vinh quy đến bái đường. Khoa ấy chỉ lấy đỗ 3 Tiến sĩ mà trường của ông có 2, đó là Nguyễn Trọng Hợp (nguyên tên là Nguyễn Tuyên, Trọng Hợp là tên do vua Tự Đức cải cho) người Kim Lũ và Hoàng Tướng Hiệp người Đông Bình, “đều là con trai nhà thông gia cả”. Điều kỳ vọng của Nguyễn Văn Lý đã được đáp ứng, cũng là niềm an ủi đối với ông. Trong Tự truyện ông viết:
“Từ đấy Phủ ta đọc sách, dạy con học, vui với việc theo đúng luật lệ, lại xem xét phong thủy để tinh thần thể phách tiên thân được yên; trùng tu 2 bản gia phả để dạy con cháu; tiếp đó lại chỉnh đốn gia phả hai bên họ ngoại, ở Mai Cương, Quế Dương và Phúc Khê, Hưng Nhân. Thường nghĩ: Chu phu tử nói người ta đến 40 tuổi, công việc trước mắt còn nhiều, làm gì có thì giờ rảnh rỗi cho văn thơ, huống ta nay đã là “người xưa nay hiếm”, công việc trước mắt càng không dám gác qua một bên, nhưng tùy theo sức mà làm. Công nghiệp há lại chỉ khanh tướng mới là công nghiệp sao! Điều mà trời hậu đãi ta chính là cái ta tự có vậy. Trước tác của ta có 2 tập: Đông Khê thi tiền hậu tập, Văn tập lưu hành ở đời và 1 quyển Tự gia yếu ngữ để dạy con cháu.”

Tự truyện kết thúc ở đây, có lẽ ông viết ngay sau khi về nghỉ không lâu và ngoài việc lo phần mộ, trùng tu gia phả nội ngoại, ông không nhắc gì đến việc tiếp tục dạy học, hay những công việc khác, nhưng như một lời hứa, ông vẫn không dám “gác những việc trước mắt qua một bên” mà chỉ “tùy theo sức mà làm”. Thời gian này ta biết ông khởi đầu gây dựng quỹ nghĩa thương, chống chọi với bệnh dịch tả và cũng có thể vẫn cùng Nguyễn Văn Siêu chăm chút cho hoạt động của Hội Hướng thiện, của Văn hội Thọ Xương, cũng có nghĩa là tiếp tục những chủ định các ông đề ra từ trước mà chúng ta gọi là “chấn hưng văn hóa Thăng Long”. Ông mất ngày 17 tháng 8 năm Mậu Thìn (1868) tại ngôi nhà ở Hàng Bồ, trưởng môn Nguyễn Trọng Hợp cùng các môn sinh dựng nhà thờ thày tại làng Trung Tự (nay thuộc tổ 23B, phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội).

Theo gia phả, Nguyễn Văn Lý có 1 vợ cả, 1 vợ hai, 2 vợ thứ, con trai con gái cộng là 12 người.

3. Tấm lòng Chí Am với cuộc chấn hưng văn hóa Thăng Long của văn nhân trí thức Hà thành đầu thế kỷ XIX

Năm 1848, sau khi xin nghỉ quan, Nguyễn Văn Lý về Đông Tác tiếp tục dạy học, không phải là tìm việc mua vui trong lúc bất đắc chí mà chính là một trong những chí nguyện của ông. Khi triều đình Nguyễn chuyển Quốc Tử Giám vào kinh đô Huế, hạ biển Thái Học Môn thay bằng Văn Miếu Môn ở Quốc Tử Giám Thăng Long, cố tình để cho hoang phế, chuyển hết bản in kinh sách ở Văn Miếu Bắc thành về Quốc Tử Giám Huế, Hà Nội chỉ còn là trường tỉnh, Văn Miếu chỉ còn là nơi tế lễ Khổng Tử và các tiên hiền của nho giáo hàng năm xuân thu nhị kỳ, nho sinh Bắc Hà hàng ngàn người đổ về các trường tư thục ở Thăng Long để dùi mài kinh sử, cũng là để tụ tập, gặp gỡ, giao lưu. Lúc đó ở Thăng Long có những ông thày nổi tiếng đạo cao đức trọng như Tiến sĩ Lập Trai Phạm Quý Thích. Các học trò của ông, Vũ Tông Phan, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Siêu, Hà Tông Quyền ... đều đỗ đạt thành danh; ngoài ra có nhiều người trở thành những người thày gương mẫu, sống thanh bạch, quyết không chịu nhiễm bợn thói tục, như Chu Doãn Chí... Phạm Quý Thích qua đời, kẻ sĩ Thăng Long như mất đi một chỗ dựa tinh thần, có thể vì lẽ đó mà các môn sinh của Lập Trai muốn chung sức cùng nhau kế tục sự nghiệp của thày. Người đầu tiên là Vũ Tông Phan. Ông đỗ Tiến sĩ khoa Bính Tuất (1826), được nhận chức ở Hàn lâm viện, sau đó thăng đến Lang trung bộ Binh, được cử duyệt quyển thi Đình, rồi bổ Tham hiệp Tuyên Quang, sau là Thái Nguyên. Nhưng liền đó lại bị cách chức vì lý do “không tâu trình về bọn giặc cướp trong trấn”, được phép ở nhà đợi chỉ. Năm 1831 được khởi phục chức Giáo thụ phủ Thuận An, năm 1832 thăng Đốc học Bắc Ninh. Nhưng ngay năm sau, 1833, Vũ Tông Phan cáo bệnh xin nghỉ quan trở về mở trường dạy học. Tiếp theo là Nguyễn Văn Lý, rồi đến Nguyễn Văn Siêu hoạn nghiệp đều theo một mô hình và đều có cách hành xử tương tự. Nếu như quan sát hoạn đồ của phần đông các sĩ phu Bắc Hà đầu đời Nguyễn không thể không thấy một hiện tượng như đã thành quy luật, một quy định không thành văn. Bất kể là ai, dù đỗ đạt cao, dù tài năng, có nhiều công lao và cũng rất trung thành với triều đình nhưng trên chính trường họ đều bị quăng lên quật xuống! Họ thường được tin dùng, thăng tiến nhanh, được trao chức vụ quan trọng, nhưng cũng nhanh chóng vì những nguyên cớ rất “vớ vẩn” bị cách, thậm chí cách tuột mọi chức tước, bị hạ nhục bắt đi hiệu lực, bắt làm một anh lính trơn, như trường hợp Nguyễn Công Trứ, có người như Hà Tông Quyền, từng làm quan trong Nội các, đã tiến dẫn Nguyễn Văn Lý và được ông rất quý trọng, thường tôn gọi là “Hà Các lão” còn rơi vào cái chết rất mờ ám. Căn cứ vào hiện tượng đó và cả những việc làm cụ thể đối với Quốc Tử Giám Thăng Long(12),..., người ta có thể thấy chủ trương của triều đình Huế dường như muốn hạn chế ảnh hưởng, quyền lực và “dằn mặt” kẻ sĩ Bắc Hà. Thêm vào đó sự lúng túng trong kế sách phát triển đất nước và thậm chí bất lực, trong nhiệm vụ bảo vệ đất nước trước một thế lực ngoại xâm mới, mạnh và lạ lẫm, đã tạo nên tình trạng ly tâm trong giới kẻ sĩ. Thăng Long Kinh kỳ trên tám trăm năm văn vật đã tiêu điều đến mức Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương (Bà Huyện Thanh Quan, Thăng Long thành hoài cổ), đó là trách nhiệm của chính sách nhà Nguyễn. Kẻ sĩ Bắc Hà đau xót đến “đoạn trường”, nhưng phải chăng đến bấy giờ nhóm học trò Phạm Quý Thích mới thực sự hành động? Không trông chờ được ở triều đình, họ “chiêu hồn” cho Thăng Long, tìm lại bộ mặt văn hóa Thăng Long. Trước hết là tôn vinh các danh nhân văn hóa – các bậc tiên hiền - để khuyến học, khuyến khích nhân tài và xây dựng nhân cách đạo đức con người. Năm 1832, đỗ Tiến sĩ vinh quy, Nguyễn Văn Lý đề xướng lập Văn hội Thọ Xương, lập Văn chỉ(12). Năm 1836, sau khi bàn với Vũ Tông Phan, văn nhân huyện Thọ Xương đã cùng nhau xây dựng đền thờ các bậc tiên hiền, đặt ruộng để lo việc xuân thu tế lễ, Vũ Tông Phan đứng đầu Văn hội. Mục đích của Văn hội Thọ Xương, Nguyễn Văn Lý đã chỉ rõ: “Trên thì noi theo phong độ và ý chí của tiên hiền, dưới thì khuyến khích thế hệ mai sau trau dồi tiến tới. Trong phạm vi hẹp, thì trở thành các bậc quân tử trong làng, các vị thày dạy trong xã. Mở rộng ra là tôn chúa, giúp dân.”(Bài ký trên bia đền thờ tiên hiền huyện Thọ Xương)(13). Ông khẳng định “Mong muốn trở thành người hiền là chuẩn đích của sự học; thờ phụng tiên hiền là phép tắc của lễ.” (Bđd). Tiếp theo việc tập hợp kẻ sĩ trong Văn hội lo việc lễ nghi là hoạt động của các trường. Có ba ngôi trường danh tiếng và thu hút được nhiều sĩ tử nhất. Một là trường Hồ Đình của Vũ Tông Phan bắt đầu hoạt động từ năm 1834, cùng thời có trường Phương Đình của Nguyễn Văn Siêu hoạt động đến trước năm 1839 khi “Thần Siêu” đi làm quan xa và hoạt động trở lại từ năm 1853, trường Chí Đình của Nguyễn Văn Lý, hoạt động lại trong khoảng từ 1849. Học trò của Nguyễn Văn L‎ý rất đông trong đó có người thành danh và đỗ đạt cao từng giữ chức Văn minh điện Đại học sĩ, Cơ mật viện Đại thần (Nguyễn Trọng Hợp). Học trò của Vũ Tông Phan cũng nhiều người hiển đạt, như Nguyễn Tư Giản, Tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1844) làm quan đến Thượng thư, Phó Tổng tài Quốc sử quán, Phó bảng Phạm Hy Lượng, Lê Đình Diên, Tiến sĩ Ân khoa Kỷ Dậu (1849), làm Đốc học Hà Nội ... Cùng với việc dạy, các văn nhân Thăng Long còn rất chú trọng đến việc in sách, bao gồm cả thơ văn và sách giáo khoa. Chu Doãn Chí tập hợp tác phẩm cho thày thành Thảo Đường thi nguyên tập, Lê Duy Trung – Nguyễn Văn Lý biên tập thơ cho Vũ Tông Phan, Nguyễn Tư Giản thu thập văn của Chu Doãn Chí dâng lên triều đình, Chu Hoằng Phu hoàn thành Chu Tạ Hiên tiên sinh thi tập, Nguyễn Trọng Hợp biên tập tác phẩm của thày thành Đông Khê thi tập. Tập văn của Chu Doãn Chí và thơ của Nguyễn Văn Lý đều được dâng lên triều đình, để khắc in hoặc đưa vào nội các ... Kết quả những hoạt động sáng tác và sưu tập ấy đã giúp cho văn đàn Thăng Long thế kỷ XIX tiếp tục đạt những thành tựu mà văn đàn tự do trong nước thời bấy giờ khó sánh được. Ngoài ra, vì sách vở kinh điển đã bị đưa hết vào Kinh, học trò thiếu sách học nên các trường cũng rất chú trọng đến việc soạn sách. Vũ Tông Phan có Cổ văn hợp tuyển, Ngô Thế Vinh có Luận thức đại lược, Hoàng Việt sách tuyển, Tống sử lược, Trúc Đường Chu Dịch tùy bút, Đại Nam bi ký, Khảo xích đạc bộ pháp, Nguyễn Văn Siêu có Phương Đình dư địa chí, Chư kinh khảo ước, Chư sử khảo thích, Tứ thư bị giảng, ...

Để khuếch trương mục tiêu đào tạo kẻ sĩ Thăng Long, năm 1841, Vũ Tông Phan còn lập Hội Hướng thiện và được bầu làm Hội trưởng. Hội được nhượng lại chùa Ngọc Sơn, tu sửa thành đền thờ Văn Xương Đế quân, một vị thần về văn chương khoa cử. Mục đích của Hội, như ông Nghè Tự Tháp đã ghi rõ “Hội Hướng thiện vốn do những người trong khoa mục thành lập. Ở thời kỳ đầu, Hội chủ yếu nhằm cố gắng làm những việc đem lại lợi ích cho đời” (Ngọc Sơn Đế quân từ ký)(14). Và Đền Ngọc Sơn còn là nơi cho “sĩ phu kết bạn với nhau ... việc tu dưỡng du ngoạn nghỉ ngơi có nơi có chốn ... Cái thú ngắm trăng dưới nước, hóng gió trên non do vậy giúp cho những người lấy điều thiện tu thân được nhiều” (Bđd). Hiện cũng chưa khai thác được tài liệu nào ghi chép về các hoạt động của Hội Hướng thiện ở trung tâm Ngọc Sơn, ngoài các cuộc văn nhân họp mặt thưởng trăng, xướng họa thơ, xây dựng các công trình cầu Thê Húc, Đài Nghiên, Tháp Bút, đình Trấn Ba, lầu Đãi Nguyệt ... tạo vị thế cho Đền Ngọc Sơn trở thành một danh thắng tiêu biểu của Hà Nội. Nhưng cùng thờì gian này, có một hoạt động văn hóa khác cũng rất sôi động, đó là các Thiện đàn cầu tiên giáng bút. Theo con số của Nguyễn Xuân Diện(15), số tập thơ giáng bút hiện nay Thư viện Hán Nôm lưu giữ được là 254 cuốn, trong đó có 226 bản in và 28 bản chép tay. Văn bản in sớm nhất là năm 1825 tại đền Hà Khẩu, huyện Thọ Xương (nay là di tích Việt Đông hội quán, 22 phố Hàng Buồm, Hà Nội), chép lời giảng của Quan Thánh Đế quân; sau đó là các bản ghi lời giảng của tiên thánh ở rất nhiều Thiện đàn trên hầu khắp các tỉnh của Bắc Bộ và các vị giáng bút có nhiều thần Việt Nam, như Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng ... Nguyễn Xuân Diện cũng cho rằng Thiện đàn “đóng góp quan trọng” “trong công cuộc chấn hưng văn hóa dân tộc”; Thiện đàn Đền Ngọc Sơn – trụ sở Hội Hướng thiện, cơ sở in ấn tàng bản đã biến thành giáng đàn, hàng tháng đều đặn vào ngày 2 và 16 đều có tổ chức giáng bút. Tuy nhiên có phần chắc Hội Hướng thiện mà Vũ Tông Phan sáng lập không có hoạt động Thiện đàn, bởi lẽ Vũ Tông Phan, Nguyễn Văn Siêu và bạn bè ông đều là những nhà nho, nhà giáo “chính hiệu”, họ tự coi trách nhiệm của mình là khuông chính thế tục, tôn giữ đạo Thánh hiền, những tên hiệu Lỗ, Tuần, Phương ... đều thể hiện ý tưởng ấy, đạo giáo, đạo Phật thường bị coi là “dị đoan”. Theo Vũ Thế Khôi “Việc thờ Văn Xương Đế quân và Quan Thánh Đế quân, chừng nào các nhà văn hóa lớn như Vũ Tông Phan, Nguyễn Văn Siêu còn chủ trì ở đền Ngọc Sơn chỉ mang ý nghĩa biểu tượng của lý tưởng tu thân “văn võ kiêm toàn” (Sđd, tr.235). Nhưng Nguyễn Văn Lý những năm cuối đời đã ở ngôi nhà tại phố Hàng Bồ, rất gần nơi in văn bản giáng bút sớm nhất, không thể không biết đến các hoạt động này. Thế mà trong thơ của ông, không thấy nhắc gì đến các giáng đàn? Phải chăng, trong thời điểm khó khăn, để tránh tai họa từ những vụ án văn tự, nhóm Nguyễn Văn Lý cũng ngầm đồng tình với nội dung của những hoạt động giáng bút, chủ yếu là mượn oai thần linh tiên thánh để chuyển tải những điều mà chính các ông cũng muốn nói? Nhưng dẫu sao cũng chưa có chứng cứ chắc chắn để xem xét sự liên quan của hoạt động Thiện đàn với Hội Hướng thiện dưới thời chủ hội Nguyễn Văn Siêu, nếu chưa tìm thấy trong 241 tên sách được in và tàng trữ tại đền Ngọc Sơn mà Vương Thị Hường công bố trên tạp chí Hán Nôm số 1 – 2000 những cuốn văn giáng bút có niên đại ra đời trong khoảng trước 1872 (năm Nguyễn Văn Siêu mất). Có thể là sau khi Nguyễn Văn Siêu qua đời, những hoạt động yêu nước chống Pháp của sĩ phu Bắc Hà, trước thì bị triều đình nhà Nguyễn cấm đoán và sau thì bị chính quyền thực dân Pháp đàn áp gắt gao, các nhà nho yêu nước đã thực sự biến trụ sở Hội Hướng thiện thành một nơi in phát những tài liệu kêu gọi lòng yêu nước thương nòi dưới dạng những lời phán bảo của tiên thánh. Điều này ta thấy rất rõ ở các nội dung vận động ái quốc, chấn hưng văn hóa của các văn bản Thiện đàn đầu thế kỷ XX và ta cũng thấy trong Đông Kinh nghĩa thục những gương mặt sáng giá tham gia hoạt động Thiện đàn là học trò hoặc chính là hậu duệ của nhóm văn nhân Hội Hướng thiện đầu thế kỷ XIX, như Lương Văn Can, Nguyễn Duy Hy và đặc biệt là Cử nhân Nguyễn Hữu Cầu (1879 – 1946), ông Hy và ông Cầu đều là cháu nội Nguyễn Văn Lý...

Trở lại với nhóm “khế hữu” – bạn bè thân thiết - văn nhân nửa đầu thế kỷ XIX, Vũ Thế Khôi có lý khi cho rằng họ chính là những người đã tạo nên “một trào lưu tư tưởng tiến bộ trong sĩ phu Hà Thành đầu triều Nguyễn” (Nguyễn Văn Lý với Vũ Tông Phan, Bđd). Công lao chính của họ là đã góp phần không nhỏ vào công cuộc chấn hưng văn hóa Thăng Long, khiến cho một người nước ngoài ghé qua Hà Nội khoảng giữa thế kỷ XIX đã phải nhận xét: “... Mặc dù nó (Thăng Long) không còn là nơi vua chúa ở nữa, tôi cho rằng đó vẫn là thành phố đứng đầu vương quốc về nghệ thuật, về kỹ nghệ, thương nghiệp, sự giàu có, số dân đông đúc, sự lịch duyệt và học vấn ...” (chuyển dẫn theo Vũ Thế Khôi, Bđd). Nguyễn Văn Lý có một vai trò quan trọng trong những đóng góp ấy.

II. SỰ NGHIỆP TRƯỚC TÁC - VĂN VÀ NGƯỜI

Nguyễn Văn L‎ý để lại khá nhiều trước tác, theo Đại Nam liệt truyện thì ông để lại 4 quyển Đông Khê thi tập, 5 quyển Văn tập, và 1 quyển Tự gia yếu ngữ, đúng như Nguyễn Văn Lý xác nhận trong Chí Am tự truyện “Trước tác của ta có 2 tập: Đông Khê thi tiền hậu tập, Văn tập lưu hành ở đời và 1 quyển Tự gia yếu ngữ để dạy con cháu”. Hiện nay ở Thư Viện Hán Nôm còn lưu trữ được các tập như: Đông Khê thi tập (A.1873, A.2439), Chí Am Đông Khê thi tập(A.391), Chí Hiên thi thảo (A.390), Đông Khê văn tập (A.2375), Du Ngũ Hành sơn xướng họa tập (A.2505), Thọ Xương Đông Tác Nguyễn thị thế phả (A.1331), Thọ Xương Đông Tác Nguyễn thị ngọc phả (A.1712), Thọ Xương Đông Tác Nguyễn thị tông phả (VHv.2136). Ngoài ra còn có nhiều bài thơ, văn, bia, ký được chép trong Hoàng triều văn tuyển (VHv.204), Cao Bằng ký lược (A.999), Danh nhân thi tập (A.2167), Đại Nam bi ký thi trướng bảo tập (A.222)… Ông cũng tham gia viết tựa và phẩm bình cho nhiều tác phẩm của các danh sĩ đương thời như Giá Viên toàn tập, Chu Tạ Hiên tiên sinh nguyên tập…, tham gia sửa chữa, hiệu đính và đề tựa sách Bắc Thành dư địa chí (A.1565/1-2). Trong gia đình cũng còn giữ được bản gốc Đông Khê thi tập (2 quyển), Thọ xương Đông tác Nguyễn Thị toàn phả, Đông tác Nguyễn Thị gia huấn. Dưới đây lần lượt khảo sát mấy tác phẩm chính.

1. Đôi điều về văn bản tác phẩm

1.1. Đông Khê thi tập

Đọc các lời Tựa và khảo sát các văn bản cụ thể có thể thấy thơ của Nguyễn Văn Lý được sáng tác trong suốt hành trình cuộc đời và cũng đã được nhiều lần tập hợp, sắp xếp. Trong Tự truyện, Nguyễn Văn Lý nói ông có Đông Khê tiền hậu tập, Đại Nam liệt truyện ghi là 4 quyển, phù hợp với sự sắp xếp của A.1873. Hiện nay, theo các nhà biên soạn Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu thì Đông Khê thi tập bản A.2439 mới là “bản cũ nhất”(16), nhưng A.1873 là bản đầy đủ hơn cả. Bản này có đủ 3 lời đề Tựa, 1 lời Bạt và 1 Lệ ngôn. Tựa của Đôn Phủ Lê Văn Đức viết năm 1841, Bạt của Hi Hiến Phan tử Cử viết năm 1842, Tựa của Hiển Phủ Phan Trứ viết năm 1846 và Tựa của Thương Sơn Chủ nhân Bạch Hào Tử viết năm 1866. Lệ ngôn của Nguyễn Trọng Hợp nói rõ Đông Khê thi tập là một tuyển tập. Khi thực hiện, ông đã tuyển tuân theo ý thày (“tuân thể tiên sinh chi ý”), chỉ giản lược lại chú thích, Tựa, Bạt, khảo sát sắp xếp lại theo trật tự thời gian sáng tác để giúp độc giả dễ theo dõi và tiện khắc in; phần nào Nguyễn Văn Lý chưa sửa chữa thì lưu lại như cũ. Nguyễn Trọng Hợp cố gắng để tuyển tập không sai khác nhiều với tập “thi tuyển” thày đã sai sao chép giao cho Trung sứ Hồ Văn Nguyệt nộp vào bí các năm Tự Đức thứ 8 (1855). Hiện bản A.1873 chia làm 2 tập. Tập tiền gồm 2 quyển, quyển 1 chép thơ làm từ năm Kỷ Sửu (1829) đến năm Canh Tý (1840), quyển 2 chép thơ làm từ năm Tân Sửu (1841) đến năm Bính Ngọ (1846); Tập hậu cũng gồm 2 quyển, quyển 1 chép thơ làm từ năm Bính Ngọ (1846) đến năm Bính Thìn (1856), quyển 2 chép thơ làm từ năm Bính Thìn (1856) đến năm Mậu Thìn (1868). Trong Lệ ngôn, Nguyễn Trọng Hợp cũng cho biết tác phẩm của thày còn tản mát nhiều, đợi sưu tập được sẽ đưa vào “bổ di”. Hiện A.1873 vẫn là văn bản chép tay, có thể là bản sao từ bản tuyển của Nguyễn Trọng Hợp. Bản này có số bài và nhiều câu sai dị so với bản được lưu giữ ở gia đình và cả A. 2439. Tất nhiên với những văn bản chép tay thì tình trạng “tam sao thất bản” là không tránh khỏi. Trong trường hợp này từ bản lưu giữ ở gia đình đến bản A.1873 thì không biết đã mấy lần sao! Tuy nhiên có những sai dị không phải do “lỗi kỹ thuật” mà là một sự “hữu ý”. Các nhà nghiên cứu thơ văn Nguyễn Văn Lý trước đây đã rất chú ý đến sự sai dị ở bài Đắc gia thư cố cư thất hỏa giữa hai bản. Trong bản lưu giữ ở gia đình 2 câu luận 5, 6 ý tứ rất gay gắt: Trì ngư khước thị đồng du hoạn / Đường yến thùy vi tác phú tài (Cuộc đời làm quan cũng giống như con cá dưới hào / Phận “chim én làm tổ trên nhà” biết ai có tài làm cho bài phú nhàn!). Câu thơ nói rõ sự nguy hiểm luôn luôn rình rập người làm quan. Con cá sống dưới hào ngoài thành lúc nào cũng có thể bị chết khô, khi cổng thành cháy, người ta múc cạn nước hào để dập lửa - “cháy thành vạ lây”. Cho nên sự yên vui cũng không chắc chắn gì, giống như chim én làm tổ trên ngôi nhà lớn, tưởng là yên ổn nhưng nhà bếp đã bốc lửa, tai vạ sẽ xảy đến nơi. Do vậy chỉ mong có người làm giúp cho bài phú nhàn, ý nói được về nghỉ. Tâm sự của tác giả qua hai câu thơ này rất nặng nề, đầy trải nghiệm và rõ ràng là một sự ly tâm. Nhưng qua bản A.1873 hai câu đó đã bị (hoặc được) sửa là: Tiêu liêu chung thị thâm lâm ổn / Yến tước thùy lân thử nhật hồi? (Giống chim nhỏ tiêu liêu rốt cuộc chỉ cần một cành cây trong rừng sâu là ổn / Phận chim én chim sẻ, biết ai là người thương trong ngày về này!). Ý của hai câu thơ rất kín đáo, nhưng bề nổi biểu hiện một thái độ chấp nhận, yên phận. Phải chăng vì là bản dâng lên triều đình, để tránh cái vạ văn chương nên hai câu quan trọng nhất của bài thơ đã phải sửa, dù người đọc cũng có thể nhận thấy đó là một sự gượng gạo, làm giảm khí cốt của bài thơ! Ngoài ra, những bài thiên về trữ tình, ví như chùm bài về hoa cúc, Xuân hứng thập vịnh, Thu hứng thập vịnh, Ủy gia nội ..., (những bài này cũng có trong bản A.2439) đều không được đưa vào A.1873. Tuy vậy, bù lại A.1873 có ưu điểm là sắp xếp tác phẩm theo trật tự thời gian sáng tác, bổ sung khá nhiều bài cho bản lưu giữ ở gia đình, đặc biệt là những tác phẩm được sáng tác trong giai đoạn 1846 – 1868. Chắc chắn là nếu có thời gian khảo sát kỹ cả ba văn bản Đông Khê sẽ có thể còn tìm thấy nhiều dữ kiện có thể giúp ích cho việc tìm hiểu tác giả, số lượng tác phẩm và thời cuộc nhiều hơn.

Theo sự khẳng định của chính tác giả thì về thơ ông chỉ có Đông Khê thi tập, số lượng vào năm 1846, khi Phan Trứ viết lời Tựa là hơn 400 thiên. Tuy nhiên, tổng kết lại từ các văn bản thì con số lớn hơn nhiều. Cụ thể là: Bản A. 1873, 4 quyển gồm 433 bài, theo con số Nguyễn Trọng Hợp công bố. Bản Đông Khê thi tập lưu giữ ở gia đình chỉ có 345 bài, thiếu hầu hết phần sáng tác hơn 20 năm cuối đời (gồm 105 bài chép ở Quyển 4 của Bàn A.1873 và một số bài ở các phần khác), đồng thời lại dôi ra khoảng gần 100 bài so với A.1873. Như vậy nếu cộng cả phần dôi ra của 2 bản, số bài thơ của Đông Khê thi tập có thể tới hơn 600 bài.

1.2. Chí Hiên thi thảo, ký hiệu A. 390

Thi tập này chỉ có một văn bản, được sưu tập trước Đông Khê thi tập, gồm những thiên sáng tác từ khi tác giả bắt đầu đi thi Hội đến thời gian làm quan ở Phú Yên hoặc ở Huế. Tập thơ được Nội các Hà Tốn Phủ (Hà Tôn Quyền) “mặc duyệt” và bạn đồng khoa Phạm Đôn Nhân (Phạm Sĩ Ái) phẩm bình. Khoảng bốn chục bài trong tập này sau được chọn, sửa chữa đưa vào Đông Khê thi tập. Điều đặc biệt là dường như nếu ở tập Đông Khê phần lớn thơ bày tỏ chí hướng, dù nói về công việc, quan hệ xã hội, thù tạc bạn bè, kể cả thơ vịnh cảnh, vịnh thời tiết hoặc nói về gia đình, đều rất nghiêm cẩn, cứng cỏi, giữ lễ, thì thơ ở tập Chí Hiên uyển chuyển, đậm dấu ấn cá nhân. Có thể nêu một dẫn chứng điển hình là sự sửa chữa ở bài Ủy gia nội. Cũng có thể chính vì quan niệm “thơ ngôn chí”, “không thiên lệch” dẫu có “buồn khổ sầu muộn nhưng không oán thán” (Lê Đôn – Tựa Đông Khê thi tập) mà Nguyễn Trọng Hợp hoặc chính Nguyễn Văn Lý không tập hợp hết số thơ ở Chí Hiên đưa vào Đông Khê? Ý này cũng có thể được minh chứng thêm ở quan niệm hiệu điểm của Nguyễn Văn Lý đối với thơ Vũ Tông Phan.(17)

1.3. Chí Am Đông Khê thi tập, ký hiệu A.391

Sách được ghi rõ “Đông Tác Nguyễn Văn Lý soạn, Giáo thụ phủ Tuy An Phan Hy Hiến tiếm bình”. Nhưng về văn bản, sách này có mấy vấn đề cần được làm rõ. Tập thơ dường như chia hẳn làm hai phần. Tám bài đầu được làm từ khi ra khỏi Kinh đô Huế đến Phú Yên. Bài đầu là Xuất sứ Phú Yên thừa nông dịch ngẫu thành, những bài tiếp theo đều mang tên những địa danh trên đường từ Kinh đô Huế vào Phú Yên: Quá Hải Vân quan, Quảng Nam đạo trung, Quảng Nghĩa đạo trung, Bình Định đạo trung, Quá Quy Nhơn cố thành, Đồ trung ngẫu đắc, Túc Tư Nghĩa phủ tặng Thái thú Đặng Dụng Phủ. Từ bài thứ 9 cho đến hết tập là thơ đi sứ, các bài đều được làm ở Trung Quốc, do các thành viên trong sứ bộ và cả các bạn tiếp Trung Quốc xướng họa tặng đáp nhau. Chánh sứ của sứ bộ là Phan Hàm Phủ (như nhan đề một bài thơ trong tập cho biết: Hựu tiền đề Tri ân bộ Chánh sứ Phan Hàm Phủ), và trong các bồi thần có một vị Thư kí họ Nguyễn, hiệu là Song Đình. Biết rằng Hàm Phủ là tên tự của Phan Huy Vịnh (1800-1870), ông đi sứ Trung Quốc hai lần vào các năm 1841 và 1854. Lần thứ hai, thời gian đi sứ kéo dài đến 3 năm, 1857 sứ bộ mới về tới Kinh đô Phú Xuân. Nếu Song Đình là một tên khác của Nguyễn Văn Lý thì ông phải tham gia sứ bộ một trong hai mốc thời gian trên (vì chưa xác định được tập thơ này làm trong lần đi sứ nào). Thế nhưng tháng giêng năm Tân Sửu (1841), Nguyễn Văn Lý được bổ nhiệm Án sát sứ Phú Yên và tháng 8 cùng năm đã “khâm sai” làm Chủ khảo khoa thi Hương trường thi Gia Định, như vậy chắc chắn ông không thể đi sứ. Còn năm 1854 thì Nguyễn Văn Lý đang nghỉ ở Hà Nội và năm 1856, tháng 2 (ÂL), ông về Sơn Bình, huyện Lập Thạch mở quán dạy học, tháng chạp năm ấy, đi nhậm chức Giáo thụ phủ Thường Tín. Nguyễn Văn Lý có đến ba bài thơ liên quan đến chuyến đi sứ lần thứ hai này của Phan Huy Vịnh; một bài làm khi sứ bộ bắt đầu đi: Lại bộ Thị lang Phan Sài Phong phụng sứ như Yên (Quý Sửu – 1853 - xuân chính nguyệt khai quan) và 2 bài làm khi sứ bộ hoàn thành nhiệm vụ trở về: Thu khanh Phan Sài Phong dĩ phụng sứ công hồi, mông đắc hoàn hương, Thu khanh Sài Phong, Đông khanh Mi Xuyên mông tứ giả hoàn hương, cập hồi triều tương phỏng, dư thích khứ Sơn Bình thụ quán, thư tiễn. Haibài thơ sau không ghi năm sáng tác, nhưng tiếp đó ông có bài nói rõ “ tháng 2 năm Bính Thìn – 1856 – ông đi Lập Thạch, Sơn Bình dạy học (Sơn Bình thư thục ngẫu đắc – Bính Thìn nhị nguyệt vãng Lập Thạch Sơn Bình thụ quán). Cũng có ý kiến đoán Nguyễn Văn Lý đi sứ vào năm 1845, nhưng năm này Phan Huy Vịnh không đi sứ, hơn nữa Nguyễn Văn Lý cũng có những bài thơ chứng tỏ khi ấy ông đang ở Bình Định. Trước hết là bài Ất Tỵ (1845) đông chí du Bình Định Di Đà tự; sau là một loạt bài nói về những cuộc rượu, những buổi du ngoạn, tiễn đưa ...giữa Nguyễn Văn Lý và Phan Phù Xuyên, Lê Giác Am ở Bình Định, từ mùa thu 1844 đến 1846. Có mấy bài Nguyễn Văn Lý nhắc đến con số 2 năm: “Hai năm cùng uống rượu dưới trăng nơi Bàn Thành” (Nhị niên tửu đối Bàn Thành nguyệt- Lưu biệt niên huynh Bình Định Bố chánh Phan Hiển Phủ), “Gió mưa ở Bàn Thành đã gần hai năm” (Phong vũ Bàn Thành dục nhị niên – Bình Định lưu biệt Lê Giác Am) ... Như các chứng cứ đã nêu thì những năm nói trên (1841- 46; 1854 - 56) Nguyễn Văn Lý chắc không thể đi sứ Trung Quốc(18). Chí Am Đông Khê thi tập có thể đoan chắc là tác phẩm được sáng tác trong thời gian ông được bổ nhiệm đến Phú Yên và làm quan ở đây, có thể cả thời gian chấm thi ở Gia Định. Toàn bộ thơ (hoặc một phần, phần còn lại bị thất lạc?) đã được đưa vào Đông Khê thi tập, điều đó còn thấy rõ dấu vết ở những tên đất, những sự kiện trong các thiên tiếp theo 8 thiên đầu của tập Chí Am (đã được đưa vào Đông Khê thi tập). Như vậy Bản A.391 có sự lầm lẫn trong khi sao chép, trừ 8 bài đầu, từ bài thứ chín đến cuối tập là tác phẩm của một người khác bị chép lạc vào Chí Am Đông Khê thi tập.

Về tác phẩm của Nguyễn Văn Lý, thống kê theo Thư mục đề yếu hiện có khoảng trên - dưới 900 trang chữ Hán, con số cũng không nhỏ. Tuy nhiên điều khiến chúng ta ngày nay quan tâm là trên hoạn lộ của mình, Nguyễn Văn Lý đã đi nhiều nơi, qua nhiều chốn, trải nghiệm nhiều sự việc. Đất nước, thế cuộc, nhân tình, suy tư, cảm xúc..., đều để lại dấu ấn rõ nét trong những tập thơ văn của ông. Đến với tác phẩm của ông trước hết là để hiểu tài năng, con người ông, từ đó hiểu hiện trạng đất nước, tài năng văn chương và tấm lòng kẻ sĩ Thăng Long trong một thời đoạn lịch sử mà dân tộc đang gặp rất nhiều khó khăn, đang trăn trở về kế sách, hành động giữ nước cũng như phát triển đất nước. Đó cũng chính là giá trị của những di sản tinh hoa dân tộc đang còn nằm im lìm trong những cuốn sách cũ kỹ “mực nho giấy bản”.

2. Tấm lòng một trí thức đầy trách nhiệm với thời cuộc

2.1. Đông Khê thi tập, nơi gửi gắm tấm lòng thơ tha thiết và nồng hậu với cuộc đời

Là một người từ nhỏ đã để chí vào việc học, hết lòng tuân thủ theo những nguyên tắc đạo đức của Nho gia, Nguyễn Văn Lý vào đời với một hoài bão cao đẹp và một ý chí mạnh mẽ. Nhà Lê đối với ông vẫn là một triều đại chính thống, có nhiều công lao. Ông dành những lời ca ngợi hết mực cho vua Lê Thái Tổ:
Thiên địa thành công qua cổ triết,
Sơn hà thùy tứ đáo kim dân.
Thả tương nhân hậu truyền gia viễn,
Tam bách cơ đồ đỉnh mệnh thân.

(Sự thành công của vua trong trời đất vượt qua hiền triết thời xưa,
Để lại giang sơn cho dân nước đến ngày nay.
Lại đem nhân nghĩa truyền mãi nếp nhà,
Khiến cho được hưởng mệnh trời cơ đồ dài ba trăm năm.)
(Truy tư Lê Thái Tổ Hoàng đế công đức)

Ông cũng dành sự ngưỡng vọng sâu xa cho vua Lê Thánh Tông, vị vua thủ thành - vua thánh trong lòng những người theo nghiệp Nho:
Giang sơn ưng đãi anh hùng sự,
Từ tảo hề duy tướng soái trường.
Lịch đại thượng luân khai thác sự,
Kinh sư miếu điển hựu thùy đương.

(Giang sơn còn đợi những sự việc anh hùng,
Văn chương rực rỡ đâu chỉ vì là bậc tướng soái giỏi.
Trải các đời còn bàn về việc mở mang cương giới,
Miếu mạo, điển lễ ở kinh sư ai lại sánh bằng.)
(Phú Yên Hội đồng miếu phụng Lê Thánh Tông hoàng đế bái yết cung phú)

Vì thế ông coi Tây Sơn là “giặc”, nhưng nhà Lê trong ông cũng đã trở thành lịch sử. Kính trọng, ngậm ngùi, có thể nuối tiếc trước sự suy tàn của một triều đại đã có công lớn với dân với nước, nhưng cũng không thể cứu vãn. “Qua lăng miếu các vua Lê ở Bố Vệ” (Quá Thanh Hoa Bố Vệ cố Lê liệt miếu) thể hiển tình cảm phức tạp đó của ông:
Tứ bách cơ đồ dĩ hải tang,
....
Thiên đạo hữu hưng hoàn hữu phế,
Cổ lai năng cửu bất năng cường,
Lam Sơn giai khí thành thiên cổ,
Điểu thử vô tình ngữ tịch dương.

(Cơ nghiệp huy hoàng đã bể dâu,
.....
Đạo lớn có hưng thì có phế,
Nước không mạnh mãi, dẫu dài lâu.
Lam Sơn phong khí thành thiên cổ,
Nháo nhác dơi bay rộn bóng chiều).

Đó cũng là tâm sự chung của nhiều kẻ sĩ Thăng Long buổi đầu triều Nguyễn. Họ không “hoài Lê” theo quan niệm “trung quân” kiểu nho gia cổ điển, bởi thực ra, sự thâu tóm giang sơn về một mối cũng là việc tiếp nối thành công bước đi từ các triều đại trước và cũng là khát vọng của nhân dân. Cuộc nhất thống đất nước đã đem lại cho giới nho sĩ niềm tin về một xã hội thịnh trị. Qua Hoành Sơn, nơi có cửa quan xây từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh, Nguyễn văn Lý cảm nhận được niềm vui về đất nước thanh bình: Can qua tự tích phân Linh chử / Xa mã tòng kim xuất Ngọc quan (Ngày trước can qua, lấy bến sông Gianh để phân chia / Từ nay xe ngựa đều (tự do) đi qua Ngọc Quan). Qua Lũy cũ Ông Ninh, ông cũng tỏ ý phê phán cuộc chia cắt Nam Bắc...

Đối với nhà Nguyễn, ở Nguyễn Văn Lý trước hết là một tinh thần chấp nhận, tôn sùng. Qua cửa quan Quảng Bình, ông nghĩ đến mệnh trời dành cho nhà Nguyễn: Thành dài chắn phía Bắc, muôn thuở vẫn cao sừng sững / Đến nay sự hiểm trở lại chầu về Trường An (Định Bắc trường thành thiên cổ trĩ / Tức kim thiên hiểm củng Trường An). Ông từng có nhiều bài ca ngợi những vị vua có “công nghiệp” của nhà Nguyễn, như: Truy tư Nhân Hoàng đế công đức long thịnh phụng vãn:
Sáng nghiệp long huân xuất thủ thành,
Thánh văn thần vũ đế vương anh.
Trấp niên thần đoán thông thiên nhật,
Vạn thế ngô bang xiển thái bình.
Xã tắc thùy hưu truyền thánh tử,
Sơn hà lưu trạch mộ thương sinh.
Hưu quang chính yếu thiên thu thịnh,
Vĩnh Thúc khu khu tự viễn thành.

(Công lao sáng nghiệp to lớn, lại xuất hiện bậc thủ thành,
[Ngài là] bậc đế vương anh minh văn võ thánh thần.
Hai mươi năm trị vì mưu lược quyết đoán thông với trời,
Muôn đời nước ta được rộng mở nền thái bình.
Phúc lớn của xã tắc để lại truyền cho bậc vua thánh,
Lưu lại ân trạch cho giang sơn bởi thương yêu chúng dân.
Cái cốt yếu trong nền chính trị tốt đẹp, ngàn thu thịnh vượng,
Vĩnh Thúc từ xa xôi vẫn cung kính với tấc lòng thành(19)...

Với niềm tin như vậy về triều đại mới, ông phấn chấn phấn đấu trên con đường cử nghiệp. Đối với ông, kẻ sĩ không có con đường nào khác là qua khoa cử để đem tài năng thi thố với đời:
Quân vương trường sách giá anh tài,
Hiền thánh sinh kim bất miễn lai.

(Chiếc roi dài của nhà vua chế ngự các anh tài,
Nếu có bậc hiền thánh sinh ra ngày nay cũng không tránh được).

Chiếc roi dài ở đây là nói một cách hình tượng về chế độ khoa cử mà Nguyễn Văn Lý coi là một chính sách giỏi, nhờ vậy mới thu nạp hết anh tài trong thiên hạ, kể cả bậc hiền thánh. Vì lẽ đó lần đầu vào kinh thi Hội, tâm trạng của ông rất vui vẻ:
Tam thập lục trình kim phát nhận,
Hướng dương hoa thảo mãn thiên khai.

(Ba mươi sáu lộ trình, nay bắt đầu khởi hành,
Đầy trời hoa cỏ nở tươi hướng về ánh mặt trời).

Ông tìm thấy ở thiên nhiên những bức tranh sơn thủy biếc xanh tươi sáng. Triền núi bao quanh hoa trên lầu, ánh mầu biếc trải khắp thành (Nham đới lâu hoa thúy mãn thành), Đèo Tam Điệp, màu xanh hàng ngàn dặm ngút ngàn khiến cho sắc cây không còn phân biệt được (Thiên lý bích mê phương thụ sắc); thác nước đổ xuống trắng xóa như nhà ai phơi vải, tiếng chim huyên náo trong rừng (Thùy gia bộc bố lâm huyên điểu) ... Dù là miêu tả thiên nhiên tươi tắn, nhưng hình tượng, ngôn từ thơ của Nguyễn Văn Lý rất cứng cỏi mạnh mẽ, trẻ trung tạo nên khí cốt của thơ.

Hai lần thi Hội không đỗ, Nguyễn Văn Lý vẫn không giảm sút ý chí: “Đường công danh lao tâm khổ tứ chưa xong, mấy lần vẫn đi qua con đường rẽ này” (Tiên quế khổ tâm do vị liễu / Kỷ hồi kỳ lộ quá thư sinh – Thần Đầu Lê Bảng nhãn từ). Và bài Vinh quy làm khi đỗ Tiến sĩ (khoa Nhâm Thìn 1832) nói rất rõ quan niệm, quyết tâm của ông với khoa cử:
Thập niên tân khổ ngẫu nhiên thù,
Ân tứ vinh quy khứ lộ du.
Đế trạch tác nhân đồng tạo hóa,
Thiên hương bội sủng đáo Doanh Châu.
Thần mưu kỳ thái cơ tiên động,
Nhân kính phù dung mộng hựu phù.
Chí nhất tức năng thiên địa động,
Anh hùng mạc mạn thán yêm lưu.

(Mười năm tân khổ, nay ngẫu nhiên được đền bù,
Được ơn ban vinh quy,đường đi xa xôi.
Ơn vua tác thành cho sĩ tử cũng ngang với công lao tạo hóa,
Mang ân sủng hương trời đến cõi Doanh Châu.
Mưu thần, lời bói lạ là thiên cơ đã báo trước,
Câu “nhân kính phù dung” đúng với giấc mộng.
Chí chuyên nhất có thể khiến trời đất cảm động,
Anh hùng chớ than thở là đường công danh chậm trễ.)

Bài thơ có một “nguyên chú” của tác giả: Hai khoa thi Hội trước (không đỗ) chí không nản mà sức học càng cao. Trước đây thường nói: “Trời đất chỉ lý và khí mà thôi. Tiến sĩ, tôi không đủ sức nhưng chí định tất có khí”.

Những bài viết mừng các bạn đỗ đạt, tâm trạng đều hứng khởi, khẳng định niềm vinh hạnh của khoa danh, của tiền đồ rộng mở: Dĩ tương anh tảo minh li bệ / Cộng hỷ phong vân thản xúc cù (Đã đem văn chương anh tú làm nổi danh trước bệ rồng / Cùng mừng đường gió mây bằng phẳng rộng mở - Mừng Phan Trứ), Phong vân thiên lý lương đa hạnh / Đồ báo quân ân nhật chính trường (Hội phong vân ngàn năm thật là nhiều may mắn / lo toan việc báo đền ơn vua ngày tháng còn dài – Mừng Vũ Công Độ) ...

Chí hướng của ông còn thể hiện trong những bài thơ đề cao phẩm cách, tự răn không được trễ nải nghiệp thi thư. Nối nghiệp nhà là một trọng trách:
Tướng môn bất đãi thi thư nghiệp,
Cổ huấn thường tương tử nữ châm.
Hưng thế nhân gia tình dữ vũ,
Kính tôn lễ tắc cổ phương câm (kim)

(Nếp nhà khanh tướng không trễ nải nghiệp thi thư,
Noi theo lời cổ huấn nên đem các bài châm để dạy cho con cái.
Vận nhà có hưng có suy, [như trời] có mưa có nắng,
Kính cẩn tuân theo lễ giáo và khuôn phép là lẽ thường xưa nay.
(Ngoại tổ Nguyễn Đại phu chí nghiệp thư thuật)

Ông răn dạy những môn sinh của mình phải biết giữ khí tiết, vững vàng cả lúc hanh thông lẫn khốn cùng, phải có lòng tin vào đạo lý nhân nghĩa thánh hiền:
Liễu Châu thân sự ngẫu đầu hoang,
Dục học Ngu Khê thích hỗn mang.
Thiên lý phù vân nghi tán tụ,
Thốn tâm thiên cổ tín văn chương.
Cùng - thông đáo xứ nghi công nghiệp,
Niên lực chư sinh tổng phú cường.
Sổ quận doanh lương năng viễn chí,
Thử trung lạc xứ tự tương vương (vong).

(Thân thế sự nghiệp ngẫu nhiên bị đưa ra nơi Liễu Châu hoang vu,
Muốn học theo Ngu Khê đến nơi hỗn mang(20).
Nghìn dặm mây nổi có khi tan khi tụ,
Tấc lòng từ thiên cổ vẫn tin ở văn chương.
Đến chỗ cùng quẫn hay hanh thông cũng cần làm nên sự nghiệp,
Sức vóc và tuổi tác của chư sinh đang lúc sung mãn.
Lương thảo của mấy quận có thể đưa đến vùng xa,
Trong chỗ vui vẻ này hãy cùng nhau quên cả “cái ta”.
(Thị tòng học Tú tài, học sinh)

Là một nho sĩ nặng lòng với thế cuộc, có một tấm lòng đôn hậu, khi làm quan, ông không thể thờ ơ trước cảnh người dân trong hạt mình khổ sở vì thiên tai, hoặc vì những tai nạn mà do việc mưu sinh không có điều kiện tự bảo vệ:
“Dân trong hạt bị bệnh tật, có kẻ khổ sở vì lưu vong, gần đây nghe tin cư dân sống ở Bàn Thạch có người bị hổ vồ, cảm khái thành thơ, viết trình đồng sự là ông Phan và ông Trần” (Hạt dân tật điến, hoặc khổ lưu vong, cận văn Bàn Thạch Giang cư dân hữu tử ư hổ giả, khái nhiên cảm thành, thư trình đồng sự Phan đài, Trần đài):
Tam tải nê hồng chính bất tuyên.
Ấp hữu lưu vong sầu tử hổ,
Dân đa dịch lệ thán phùng niên.
Ân thâm vũ lộ chiêm duy thánh,
Trách trọng phong cương quý bất hiền.

(Chim hồng in dấu đã ba năm(21) mà chính sự chưa được rộng mở.
Trong ấp có người phải lưu vong, buồn thay bị hổ ăn thịt,
Than thở vì gặp phải năm dân nhiều người bị bệnh dịch.
Ơn sâu mưa móc chỉ biết trông ở bậc thánh,
Trọng trách nơi biên cương, thẹn vì không có tài năng.)

Trong thơ ông, không ít những câu thơ chua xót hoặc thẳng thừng lên án chính sự hà khắc. Có những câu thơ đọc lên mà cảm giác hình dung được cái chau mày của tác giả:
Phương bá khởi năng vô thiện chính?
Hà tai hổ bạo vị tằng tiêu.

(Quan địa phương há không giỏi chính sự?
Thế mà sao nền hành chính bạo ngược như hổ vẫn không thể hết?).
(Khánh Hòa)

Những ngày ở Phú Yên, ông đã quan sát rất kỹ địa thế, sản vật và hiểu rất rõ tính cách người dân trong vùng mình cai trị. Ông khen người dân Phú Yên chất phác, chăm chỉ, trung hậu, nhưng ông thương họ vất vả và nghèo khó. Đất đai thì cằn cỗi, bạc mầu, thóc lúa ít, gạo ăn phải trông chờ vào chợ búa hoặc các thuyền buôn (Phú Yên phong thổ ca). Chính vì thế, ông coi việc đem đến cuộc sống yên vui, đỡ đói nghèo cho dân là trách nhiệm của quan chức mỗi địa phương. Và đặc biệt, ông rất quan tâm đến chức trách của những người thày, những học quan, người giữ trong tay tiền đồ của cả một lớp trai trẻ, bởi họ cũng là nhân tài của đất nước:
Cửu tiêu ân lộ tiên đa sĩ,
Bát quận danh đồ hệ chủ ti.
Thiên phận đắc lai hoàn hảo xứ,
Văn phong sơ khởi hạnh minh thì.
Giải ân khoan dụ hề dung trách,
Khoa thức sâm nghiêm khủng hoặc di.
Án thượng phê thành thiên tiễu tiễu,
Diên ngư tùy phú thử trung ki.

(Phụng thủ cử nhân, trúng quyển duyệt thành, khái nhiên tác)

(Con đường ân điển chín tầng trời trước hết dành cho các kẻ sĩ,
Con đường công danh trong tám quận có can hệ đến quan chủ khảo.
Nhờ phận trời, được điều tốt đẹp,
Văn chương lúc mới khởi phát may gặp thời thịnh.
Ơn vua rộng rãi, nào có hẹp gì,
Khoa trường nghiêm cẩn, e bỏ sót [nhân tài].
Phê xong các bài trên án, trời tịch mịch,
Làm thơ về cảnh chim diều bay, cá bơi chính là cơ hội này.)

(Vâng lệnh chọn Cử nhân, chấm quyển đỗ xong, cảm khái viết)

Tuy nhiên, tinh thần hồ hởi, phấn chấn ban đầu qua đi khá nhanh. Làm quan triều Nguyễn, “cháy thành vạ lây” là một nỗi lo thường trực. Nhậm chức Tri phủ Thuận An mới mấy tháng, Nguyễn Văn Lý đã bị khiển trách; được gọi vào Kinh, nhưng suốt 7 năm (từ 1834 đến 1841), dường như Nguyễn Văn Lý cũng không được giao một công việc gì đáp ứng hoài bão của ông. Những bài thơ ông làm trong thời gian này nhiều bài cho biết điều đó. Quanh đi quẩn lại, dường như ông chỉ có việc đi trực trong Ban, trong Các (Thu trực bất mị, Cửu nhật trực hồi, phú thị niên huynh Phạm Nghĩa Khê ...), mà có vẻ công việc rất nhàn – xem hoa, cảm nhận thời gian trôi đi và thù tiếp các bạn đồng liêu. Tiễn người sung một chức nào đó thuyên chuyển đi xa, tiễn người về hưu, tiễn người đi hiệu lực, tiễn người bị bãi chức cho về quê, trong đó có cả người bạn thân thiết của ông là Ngô Thế Vinh ... Vui vẻ nhất trong những cuộc hội họp ấy là được cùng bạn bè xướng họa, được “hầu” vị Các lão họ Hà nối vần làm thơ, ngoài ra là những lúc một mình đối diện với thời gian, với gió mưa bão lũ của một vùng đất thiên nhiên vốn khắc nghiệt, nhất là đối với những nho sinh Hà Thành! Cuộc sống tẻ nhạt, nơm nớp lo âu, và khí hậu khắc nghiệt đã khiến Nguyễn Văn Lý phát ốm. Cho nên khi được bổ làm Án sát Phú Yên, ông như đã lấy lại được nhuệ khí và cũng đã có nhiều dự định, nhiều quyết tâm. Người và cảnh Phú Yên đã đem lại cho ông những sinh khí mới. Các bài Phú Yên phong thổ ca, Quá Hải Vân quan,... đều thể hiện tinh thần nhập cuộc, tự tín, như một cảm giác được tự do. Những vần thơ làm thời gian này vì thế trở lại được phong cách mạnh mẽ, tươi tắn và giàu chất suy tư. (Trạng thái tinh thần này cũng thấy ở những bài thơ làm sau kỳ nghỉ giả hạn, Nguyễn Văn Lý trở lại Kinh đô trong Chí Hiên thi tập). Nhưng rồi ở Phú Yên chẳng bao lâu, Nguyễn Văn Lý lại vấp váp, quan Án sát mà đến nỗi phải bị “đối tụng”, cuối cùng là bật trở lại Bắc Thành với quyết án “miễn nhiệm”! Cho nên đối với Nguyễn Văn Lý, những năm làm quan là một chuỗi dài ngày không mấy vui vẻ và nhiều khi còn rất buồn. “Trong thơ ông, chữ “sầu” được lặp đi lặp lại rất nhiều lần. Khi thì là sầu lữ thứ, lúc sầu quan san, lúc lại sầu vì cô độc. Nguyễn Văn L‎ý tự ví mình như “hàn mai nở trong đêm”, là một “cánh chim âu giữa trời đất mênh mang” (Thiên địa mang mang ngã diệc âu - Quan xá trùng dương vũ trung ngẫu tác), hay một “cánh chim hồng bay trong muôn vạn dặm trời lộng gió” (Tường hồng vạn lí phong -Thứ Hình bộ lang Đông An Nguyễn Tử), một vầng trăng vằng vặc giữa muôn dặm quan hà (Hà quan vạn lí nguyệt minh luân - Bình Định trung thu)”(22)... Thơ của ông cũng thường biểu lộ một trạng thái tâm tư mơ hồ, thường “bồi hồi”, vẩn vơ, lạnh lẽo khó ngủ (Oanh Xuân, Thu trực bất mỵ). Có khi bài thơ chỉ là vịnh cảnh tứ quý, tưởng như rất công thức, sáo mòn, nhưng xem ra Chí Đình đã gửi gắm ở đó một suy tư rất sâu sắc về triết lý nhân sinh – sự vô nghĩa của một cuộc sống dựa dẫm, không được tự ý thức, ví như bài Xuân oanh sau đây:
Bách chuyển tân thanh nhất điểm hoàng,
Hàm đào, xuyên liễu, trục xuân phương.
Nhất chi thê xứ thùy kham tá,
Há thướng như cừ tự diệc mang.

(Chỉ một chấm vàng mà hót trăm thanh mới mẻ,
Ngậm hoa đào, bay xuyên khóm liễu, đuổi theo hương xuân.
Nơi đậu chỉ là một cành, ai cho mượn,
Cứ bay lên bay xuống như mày, kể cũng bận rộn.)(23)

Tứ thơ kín đáo, thật đúng như lời nhận xét của Phan Trứ: “Những bài bình đạm của ông thì trẻ mới học cũng hiểu, những bài sâu sắc của ông thì các bậc lão nho cũng không hiểu hết được” (Đông Khê thi tập tự).

Nhưng đỉnh cao của sự chán nản đối với quan trường, sự “ly tâm” đối với triều Nguyễn phải kể đến bài Đắc gia thư cố cư thất hỏa (Được thư nhà báo tin nhà ở cũ bị cháy):
Sổ duyên thê thác Nhĩ Thành ôi,
Hồi lộc phân vân phục kỷ hồi.
Danh khí thặng tồn thiên cổ vật,
Âm thư phiên đãi cách niên lai.
Trì ngư khước thị đồng du hoạn,
Đường yến thùy vi tác phú tài.
Khả thị hữu hình chung hữu hoại,
Đan tâm do tín vị thùy hôi.

(Mấy gian nhà nương nhờ bên góc thành Nhị Hà,
Đã mấy lần thần lửa làm cho thành tro bụi.
Chỉ còn mấy thứ biểu tượng cho khoa danh, vật quý muôn đời,
Thư nhà phải chờ đợi hàng năm mới tới.
Cuộc đời làm quan cũng giống như con cá dưới hào,
Phận “chim én làm tổ trên nhà”, biết ai làm cho bài phú nhàn?
Đúng là phàm vật có hình thể rút cục tất có hủy hoại,
Riêng tấm lòng son thì tin rằng chưa thành tro bụi.)

Muốn về, coi quan trường là nơi hiểm họa - “cháy thành vạ lây” - luôn rình rập con người thì quả thật lòng tin đối với triều đình chẳng còn bao nhiêu nữa. Nhưng dù tình cảm, nhận thức như thế, nhưng ông vẫn chưa “tự thoát” ra được, cứ phải gắng gượng “sa đà ở Trường An”. Tính cách hồn hậu, trung tín của một nhà nho khiến ông không thể “dứt tình” với triều đình, không thể phụ ơn vua, không thể nghĩ xấu về đồng liêu, cho nên ông càng buồn sầu, càng vô vọng, nhưng dù vậy lại không thể oán hận, không thể quyết liệt chống đối.

Nguyễn Văn Lý nặng quan điểm nho gia. Đối với ông, cương thường là rất trọng, cho nên những mối quan hệ vua tôi, cha con, vợ chồng, bè bạn là những giềng mối quan trọng trong đời sống kẻ sĩ. Nhưng điều đặc biệt là ở Nguyễn Văn Lý, bè bạn không chỉ riêng là quan hệ xã hội, là đạo lý mà còn xuất phát từ tình cảm chân thành, từ tình thân và sự đồng chí hướng. Trong bạn bè của ông có những tên tuổi các danh sĩ nổi tiếng như Hà Tôn Quyền, Nguyễn Công Trứ, và đặc biệt có Hoàng tử thứ 10 Miên Thẩm - Thương Sơn Chủ nhân. Mặc dù mới quen biết từ khi làm quan trong triều nhưng ông rất ngưỡng mộ Thương Sơn và cũng được Thương Sơn quý mến. Thương Sơn ốm, ông bói Dịch đoán bệnh, khi ông hoạn nạn, Thương Sơn gửi thơ an ủi, khi ông rời kinh đô, Thương Sơn mời rượu chia tay, lại sai con đến tiễn, sau đó còn Đề Tựa cho tập thơ Đông Khê của ông ... Nguyễn Văn Lý cũng coi Thương Sơn là bậc tri kỷ, coi việc được “vịn mà bước lên” Mặc Vân Sào là một vinh hạnh, ông không ở lại Kinh đô chỉ bởi chí hướng của ông đã gửi ở khói mây:
Mặc Vân Sào lý hạnh tê phan,
Viễn ý bồi hồi bán trản gian.
....
Hải nội hàm tình tri kỷ tại,
Sơ tâm nghiệp hứa bạch vân nhàn.

(May mắn được vịn mà bước lên Mặc Vân sào,
Tình ý xa xôi bồi hồi, mới nửa chừng cuộc rượu.
......
Trong cõi đời, mang nặng tình cảm, bởi tri kỷ còn đó,
Nhưng tấm lòng từ xưa đã gửi ở chốn mây trắng).
(Dạ ẩm, bôi thứ đáp Thương Sơn công tống thi)

Trong ấy cũng có những người bạn thân thiết tử thuở đồng song, đồng niên, như Dương Đình Ngô Thế Vinh, Thận Tư Trần Văn Vi, Phạm Nghĩa Khê, Cao Bá Quát... Nhưng có vẻ như giữa đám bạn bè thân thiết ấy, Nguyễn Văn Lý đã dành cho mỗi người một tình cảm và một vị trí không giống nhau trong lòng. Vũ Tông Phan có một tinh thần quyết liệt, không thỏa hiệp, Nguyễn Văn Lý rất quý trọng, dù ít gần gũi nhưng ông coi Vũ là người có thể dắt dẫn cho bè bạn, người đại diện cho lương tri thời đại. Phạm Nghĩa Khê luôn ở bên cạnh ông trên hoạn lộ xa xôi, Ngô Thế Vinh là người hay được ông an ủi, nhớ nhung... Còn giữa ông với Cao Bá Quát là một tình bạn vượt ra ngoài quan hệ đồng liêu thông thường. Có lẽ hai câu thơ viết cho Cao Bá Quát đã gửi gắm được tâm sự của ông về mối quan hệ đặc biệt này:
Khiển trục ôn tồn lân cộng lữ,
Hà như lão ẩu sất du y.

(Ôn tồn hỏi kẻ bị biếm trích, thương thay cùng cảnh ngộ lữ khách,
Sao được như chuyện vợ già mắng mỏ về việc không có áo dầu).
(Họa phục Cao Tử Quảng Nam Trà Giang dạ bạc kiến ký)

Giữa họ có sự đồng cảm của hai thân phận bị “biếm trích”, có sự đồng cảm của hai lữ khách cô đơn. Vì vậy khi Cao Bá Quát phải vào ngục Nguyễn Văn Lý đã gửi thư cho bạn với những vần thơ xót xa nhưng nặng nỗi niềm đồng cảm, kính phục tài hoa của bạn (Thù Cao Chu Thần tại ngục kiến ký thứ vận). Đọc tập thơ của bạn, ông cũng đã phát hiện ra tính cách của bạn mà không hề tỏ ý không hài lòng: “Trên lầu xuân ký thác ít nhiều thái độ ngạo đời” (Đa thiểu xuân lâu ký ngạo thì).

Riêng Phương Đình Nguyễn Văn Siêu và Phan Trứ, đối với Nguyễn Văn Lý là một tình bạn đặc biệt. Phương Đình không chỉ là bạn học, bạn thơ, bạn đồng hương cùng hội cùng thuyền mà còn là tri âm tri kỷ. Hai người luôn được gần gũi nhau, chia sẻ nhiều chuyện buồn vui, từ chén rượu, câu thơ, ánh trăng, khóm cúc, ngọn gió trên thành đài, buổi hoàng hôn cùng sóng ngựa đến những tâm sự sâu kín ... Cho nên Nguyễn Văn Lý nhớ Phương Đình da diết khi xa cách:
Trăng trên rường nhà trong canh ba(24),
Mây trên sông thu hết vào trong tầm nhìn.
Bao giờ mới được nắm lấy tay nhau,
Lại cùng nói chuyện trong gió xuân.

Ông cũng sẵn sàng bày tỏ với bạn nỗi buồn cô đơn khi đất khách quê người:
Đáng thương nhất là thân thế vẫn như cỏ bồng xiêu dạt,
Khuôn mặt cũng như tấm lòng, phần nhiều đều không giống nhau.
Bày tỏ nỗi nhà nơi miền xa xôi ngàn dặm,
Nỗi sầu của lữ khách gửi gắm tất thảy trong bức thư.

(Họa Nguyễn Tử Phương Đình Thư Hoài kiến ký)

“Những khi trong lòng khúc mắc không thể giãi tỏ cùng ai thì ông dốc hết bầu tâm sự với tri âm”(25):
Nhạn xứ nào trong làn sương phía trước,
Bay qua tòa thành bên núi?
Ý xưa như hãy còn đây,
Quan san mây kéo ngang trời.
Chẳng biết rằng đi xa ngàn dặm,
Toan tính cho bản thân chỉ là chút phù danh.
Đất hẹp tài cũng mọn,
Sầu nhiều chẳng nghiêng bầu rượu.
Tháng năm Đài Xuân đã muộn màng,
Giang sơn sương trắng trong veo.
Ai người cùng ước hẹn ở nơi xa?
Nơi triều thị từ xưa toàn những chuyện tranh giành.
Tự thương mình đau ốm,
Huống nữa lại nghe lời biệt ly.
Sớm muộn rồi cũng sẽ về nơi quê nhà,
Ơn sâu xin cảm tạ bậc thánh minh.

(Họa đáp Nguyễn Tử Phương Đình nhị thủ, 1)

Còn Phan Phù Xuyên, cũng bạn đồng niên nhưng hơn Nguyễn Văn Lý một tuổi, ông luôn gọi là “Phan huynh”, lại là một chỗ dựa tình cảm cho Nguyễn Văn Lý trong lúc khó khăn nhất trên hoạn lộ, đó là thời gian chờ đối tụng ở Bình Định. Thời Nguyễn, làm quan, bị cách chức cũng là chuyện “thường nhật”, nhưng bị “ra tòa” oan – bị vu cáo – bởi tội hối lộ thì thật là một điều đau xót. Ở đây không chỉ có chuyện chức tước mà còn có cả vấn đề đạo đức, nhân cách, điều mà Nguyễn Văn Lý rất coi trọng, luôn luôn tu dưỡng giữ gìn. Phan Phù Xuyên hiểu điều ấy nên rất ân cần đối với bạn. Trong bè bạn, chỉ có Phan Phù Xuyên chứng kiến trực tiếp chuyện này và cũng trực tiếp bày tỏ niềm cảm thông: “Mệnh vận gian nan, ngẫu nhiên gặp tai họa, lệnh khiển trách đến, tức thì tất vải giày cỏ đi ngay. Khi đến Bình Định tôi ra ngoài thành đón, rất lấy làm ái ngại, nhưng Chí Đình vẫn bình thản, coi như một việc thoảng qua” (Tựa Đông Khê thi tập). Cách hành xử đó khiến Phan Phù Xuyên khâm phục: “Ở trong cảnh cùng sầu mà vẫn thư thái, càng đọc sách, càng làm thơ, không bị vật bên ngoài làm rối tình cảm. Đó lại càng là điều mà người đời khó theo được” (Bài đã dẫn). Suốt hai năm ở Bình Định, Nguyễn Văn Lý luôn luôn được Phan Trứ săn sóc, an ủi. Khi thì uống rượu ở tư dinh, khi thì ngắm trăng trung thu, khi đi chơi cửa biển Thi Nại. Phan Trứ đề Tựa tập thơ của Nguyễn Văn Lý cũng trong dịp này (năm 1846). Chắc không phải ngẫu nhiên trong lời Tựa, Phù Xuyên nhấn rất mạnh “cái chí” của Nguyễn Văn Lý: “Tôi tìm đến thơ của Chí Đình là để hiểu cái chí của Chí Đình vậy” ... Những cuộc đàm đạo văn thơ, xướng họa, nhìn trăng ngắm núi, có thể đã làm dịu bớt nỗi lòng Nguyễn Văn Lý. Riêng cảnh biển khơi sóng cả, chòi canh vừa lẻ loi vừa nghiêm mật bởi đội quân phòng vệ có thể đã đem đến cho Nguyễn Văn Lý những cảm xúc mà không phải các thi nhân thời trung đại đều có thể được cảm nhận...

Thơ của Nguyễn Văn L‎ý ở tập Đông Khê, dù lập chí cứng cỏi, dù bộc lộ nỗi buồn lữ thứ, tâm sự chán nản quan trường, nhớ nhà nhớ quê... cũng đều thể hiện hồn thơ trung hậu của một con người cả đời tu dưỡng theo mẫu hình nhân cách đạo đức nho gia. Vì vậy khi tập thơ đưa vào Bí các, đã nhận được một sự đánh giá chính thống: “Thơ ông trọng lập ý tinh thâm, hồn hậu mà trang nhã” (Đại Nam liệt truyện). Đó là lời khen chính xác, xuất phát từ quan điểm thẩm mỹ của nho gia, và với những chuẩn mực như vậy không phải không từng có những tác phẩm sáng giá trong nhiều thế kỷ. Cho nên từ vị chính khách Thượng thư Bộ Binh Lê Đôn, Bố Chánh sứ Bình Định Phan Trứ, Đốc học Bình Định Phan Cử đến nhà thơ hay chữ mà hào hoa Miên Thẩm, chủ nhân thi xã Mặc Vân đều đã dành cho ông những lời khen ngợi khá thống nhất và trân trọng: “Chí Am cũng không ham thơ, nhưng kiến thức lỗi lạc không tầm thường. Trước những điều gặp gỡ xúc động, cảnh sắc sâu vắng lạ kỳ, không nỡ để núi sông phải tịch mịch; xem xét sử sách việc đời, không nỡ để sự tích mai một, những điều sở đắc đều ghi lại, bất giác thành thiên thành tập. Tựu trung là hoài cổ tụng kim mà ngôn từ phần nhiều đúng lý; nhớ xưa khuyên nay mà văn chương xuất ở tình. (Tựa của Phan Cử).” Và Miên Thẩm đã nêu ra một phương pháp đọc thơ Đông Khê: “Phủi cát luôn phát hiện ra vàng, đẽo đá bỗng nhiên được ngọc, là người đã suy xét đến cùng cực nên thơ văn cũng vô cùng đẹp đẽ ngay ngắn” (Tựa của Thương Sơn).

2.2. Chí Hiên, một cánh cửa riêng cho cái tôi nhà thơ

Qua lời trình bày của Nguyễn Trọng Hợp ở phần Lệ ngôn, có thể biết rõ Nguyễn Văn Lý đã để lại một số khá lớn thơ không đưa vào tuyển tập Đông Khê. Có lẽ những bài thơ ấy hiện được chép ở Chí Hiên thi tập, ông chưa kịp chính lý, chưa xem lại, cũng chưa có ai sắp xếp, chúng mới là những bản thảo hoàn chỉnh lần đầu.

Đọc phần thơ này của ông, quả thấy tác giả có một chút “buông thả”, dù đề vịnh, ký tặng bạn bè hay tâm sự, bàn luận ông cũng nặng về tình cảm, chủ ý “tự trữ hung khâm” (chữ của Nguyễn Trọng Hợp). Ở đây có những chùm thơ giọng điệu có phần khác Đông Khê. Một trong số đó là những vần thơ liên quan đến “người đẹp”. Vốn theo quan niệm nho gia, kín đáo trong chuyện tình cảm riêng tư, nhưng ở tập thơ này của tác giả, nhiều bài thấp thoáng bóng giai nhân. Giai nhân có khi ẩn trong bông cúc (Ngắm cúc bâng khuâng - Đối cúc cảm hoài):
Quốc hương chân khả ái,
Huống nãi mỹ nhân di.
Mục hòa thanh phong chí,
Ấp bỉ triêu lộ ti (tư).
Tố tâm thảng vô phụ,
Giai hội thượng hữu kỳ.
Nguyện ngôn kết vi bội,
Mộng trung trường tương ti.

(Nữ hoàng của loài hoa,
Người đẹp đem tặng ta.
Ngắm nhìn trong gió mát,
Thấm đẫm giọt sương sa.
Trong trắng, lòng không phụ,
Trùng phùng, đâu khó mà!
Dải đồng tâm nguyện kết,
Trong mộng, hoài tương tư.)
(Nguyễn Trâm dịch)

Cũng có khi giai nhân tới trong mơ màng giấc mộng: Mộng lý nhân giai thu quá bán / Sầu trung tân nhạn vũ phi tà (Đêm mơ người đẹp, thu già nửa / Buồn ngắm mưa rơi, nhạn cánh chao), và tác giả “tự thú”: Thập niên tâm sự thuộc hoàng hoa (Lòng gửi hoa vàng đã mười năm). Người đẹp ở đây cũng có thể chỉ là hoa cúc! Nguyễn Văn Lý dành rất nhiều vần thơ vi diệu cho hoa cúc. Tất nhiên hoa cúc thường tượng trưng cho sự thanh cao, cho người ẩn dật, cho lý tưởng cuộc sống thanh khiết, nhưng với Nguyễn Văn Lý dường như còn có một sự liên quan nào khác chăng, mà mỗi lần nói, nhớ, nghĩ về cúc, về thu thường lại thấp thoáng bóng giai nhân? Sở tư do viễn đạo / Đa bệnh độc đăng đài (Người tưởng nhớ xa vắng / Gượng lên đài ngóng nhau – Hoài thu, bài 3), Li biên trích tống sổ chi hoàng / Sát đắc giai nhân uyển tại bàng (Ngắt mấy bông cúc bên giậu tặng tôi / Cứ như có người đẹp ở ngay bên cạnh mình – Vũ Cấp sự tống cúc hoa...). Giai nhân cũng luôn phảng phất trong sâu thẳm của cõi lòng: “Năm tháng ở Trường An cứ trôi đi vô vị / Bỗng chốc mà người đẹp cứ xa dần (Dạ vũ cảm hoài). Có một bài, cũng hiếm hoi, Chí Hiên nói hẳn đến “Điều mong nhớ” (Hữu sở tư):
Sóc phong xuy lão cúc hoa thiên,
Bất kiến hoài nhân nguyệt kỷ thiên.
Tha nhật tương phùng do tạc nhật,
Tàn niên hướng tận hựu tân niên.
Vân sơn na quản nhân tình biệt,
Mai liễu hoàn trưng thục khí tiên.
Yên cảnh hữu tâm yêu hãn mặc,
Dương xuân ưng báo khởi dư thiên.

(Gió bắc thổi xui hoa cúc lão,
Người thương chưa gặp mấy trăng tròn.
Gặp nhau độ trước như vừa gặp,
Năm sắp tàn rồi lại sắp năm.
Mây núi đoái chi tình cách biệt,
Liễu mai tranh trước khí hòa ôn.
Sẵn lòng mây khói mời nghiên bút,
Báo trước thơ xuân vịnh mấy vần.)
(Nguyễn Văn Thiệu dịch)

Và cuối cùng thì tập thơ cũng có 4 bài về người ca nữ: Đàn tranh hành, Tống ca giả, Thiếu ca kỹ và Lão ca kỹ. Riêng bài “Người ca nữ già” thể hiện sự thấu hiểu tâm lý con người và cũng thể hiện một tinh thần nhân văn sâu sắc ở tác giả:
Hoãn vũ thanh ca chỉ tự liên,
Nùng trang đạm mạt bất thành nghiên.
Bồi hồi cố ảnh không lâm kính,
Tàm quý văn thanh các vấn niên.
Vãng sự kỷ hồi thương mộng mị,
Vật tình đại để thuộc thuyền quyên.
Tỳ bà khúc bãi thanh sam thấp,
Nan đắc đa tình thị Lạc Thiên.

(Ca trong múa dẻo, chỉ thương mình,
Phấn đậm son mờ cũng chẳng xinh.
Soi bóng trước gương lòng bối rối,
Nghe người hỏi tuổi dạ buồn tênh.
Chuyện xưa mộng mị thương bao nỗi,
Nhan sắc ngày nay hận khách tình.
Xong khúc Tỳ bà lệ đẫm áo,
Mấy ai Tư Mã, áo màu xanh!)
(Băng Thanh dịch)

Tâm trạng buồn sầu ở Chí Hiên xuất hiện với một tần số cao và dưới khá nhiều dạng vẻ. Buồn vì nhớ bạn nơi xa (nhớ Cao Bá Quát, nhớ cố nhân), buồn trong buổi chia tay, buồn vì xa nhà, buồn vì lẽ hưng phế trong cuộc đời, buồn vì sự nhàn rỗi vô vị của những ngày tháng sa đà ở kinh thành (cả những đêm trực Ban “Trên gác thảo chiếu chỉ vẫn chẳng có việc gì” – Tiền đề thất ngôn, cả khi dựng được ngôi nhà nhỏ “Vời vợi buồn vì tài làm quan kém cỏi” – Tân cấu tiểu viện), buồn thương kiếp mình nổi trôi, bồng bềnh nơi đất khách, buồn vì tương lai không tự chủ được, buồn vì năm tháng qua, mái tóc nhuốm bạc, tiếc tuổi xuân, buồn vì thời tiết Kinh đô Huế mưa dầm dề, “lụt đi lụt lại mãi không thôi”, buồn vì tình người đơn bạc, buồn vì cô đơn và cả nỗi buồn vô cớ... (Cái buồn ở đây có một sắc thái khác với nỗi sầu ở tập Đông Khê). Trong chính những vần thơ này, Chí Hiên mới có thể trải lòng mình một cách thành thực nhất. Thành thực, quá riêng tư, nên khó chia sẻ, do vậy khi công bố đã phải sửa. Mà sửa chữa đâu đã chỉ vì vẻ đẹp của bài thơ! Tiêu biểu cho hiện tượng đó là sự sửa chữa ở bài Ủy gia nội. Trong Chí Hiên thi tập, bài thơ như sau:
Tụ thời phiên thiểu khứ thời đa,
Ngũ thập niên lai lão tuế hoa.
Ưu hoạn kỷ hồi duy dục tử,
Bôn mang lưỡng độ cánh vô gia.
Nhất quan thanh bổng hoàn ngô dữ,
Thiên lý phương tâm nại nhĩ hà!
Khách cửu dĩ phao gia thất niệm,
Tối liêu sầu xứ thị xuân hoa.

Nguyễn Văn Thiệu dịch thơ:
Tôi bà luôn cách xa nhau,
Mười lăm năm đã bạc đầu bà ơi!
Lo toan con cái bà nuôi,
Bôn ba tôi vẫn ở nơi không nhà.
Lương quan thanh bạch ấy mà,
Tấm lòng thơm thảo, giúp bà được đâu.
Quê nhà quên lãng từ lâu,
Hoa xuân trêu cợt nỗi sầu tha hương.

Bài thơ đưa vào Đông Khê được sửa 3 câu:
Câu 1 sửa thành: Tụ thời hà nhật, khứ hà đa (Ngày nào được xum họp, xa cách sao mà nhiều!),
Hai câu kết sửa thành: Tảo vãn đắc vi quy khứ hảo,
Kết lư duy thị hướng yên ba.

Dịch là: Được về, sớm muộn sao đâu / Nhà tranh sẽ dựng giữa bầu khói mây.

Tứ thơ ở Chí Hiên da diết, thể hiện nỗi buồn nhớ đến bão hòa, vừa “chai lì” cảm xúc, vừa đã thành nỗi hận, muốn đem “ném đi” (mà không được vì hoa xuân cứ trêu cợt), còn ở Đông Khê thì nỗi buồn nhớ, niềm khát khao đoàn tụ đã lắng xuống, trở nên thâm trầm. Tâm trạng tác giả phải chăng cũng như “Dòng sông đã qua mùa bão lũ” (ý thơ Xuân Quỳnh), yên ả một cách khổ đau? ... Ấy vậy mà trong Đông Khê thi tập A.1873 do Nguyễn Trọng Hợp tuyển vẫn không có bài này! (Không rõ đó là do rơi rụng khi sao chép hay do chủ ý của người làm Tuyển tập ?)

Nguyễn Văn Lý ít làm thơ về vợ, nhưng chỉ cần một bài thơ này đủ thấy tình cảm của ông dành cho bà sâu đậm, đằm thắm đến nhường nào. Bài thơ như một lời cảm ơn, lại như một lời tạ lỗi vì sự “vô tâm” bất đắc dĩ của người chồng không cách nào đỡ đần chia sẻ cho vợ. Nếu xếp những bài thơ có chủ đề về “nội tướng” của các văn nhân thời trung đại (Hoài nội, Tư khuê, ..) thành một cụm thơ thì bài Ủy gia nội của Nguyễn Văn Lý cũng là một trong những bài hay nhất.

Một vấn đề khác được thể hiện đậm nét trong Chí Hiên là tâm trạng muốn về. Nếu ở Đông Khê, mong muốn nghỉ quan được thể hiện nghiêm túc, như một nhận thức lý trí, thì ở Chí Hiên điều đó trở thành một tình cảm gần như thường trực. Khúc ca “Về đi thôi” là một “tuyệt điệu nghìn thu”, “Cứ ngủ đi là mơ thấy về nhà” (Dạ vũ cảm hoài). Ông nhớ nhà, nhớ quê, đối với ông cảnh thiên nhiên nào ở quê nhà cũng đẹp. Mùa xuân dương liễu xanh, mùa thu vườn nhà có luống cúc, ... Muốn về chẳng phải vì canh rau thuần gỏi cá vược ngon mà vì tấm “phương tâm”, vì lo lắng ở nhà không biết cái rét đầu đông ra sao?... Mười năm làm quan xa, Nguyễn Văn Lý cảm nhận được cái “danh hão”, trải nghiệm được một điều quan trọng: “trong chốn quan trường tốt nhất là không nói”. Ông nhận ra mình đã thận trọng hơn, đã biết “chỉ mong đủ mà không mong dư dật”. Những điều “thật lòng” như thế, khó có thể để vua đọc được, cho nên ở những bài này dù lời thơ rất hay, tứ thơ sâu sắc, tình thơ nồng đậm mà thanh thoát, nhưng cũng vẫn không được chính tác giả tuyển vào tập Đông Khê. Tuy nhiên cũng còn một hiện tượng lạ nữa, đó là trong tập này có khoảng hai chục bài nói về các cuộc được “tòng giá”, đi Thuận An, lên núi Thúy Hoa, đến Vọng Hải đài, thăm cửa biển Tư Dung ... đều không được đưa vào Đông Khê thi tập. Những bài thơ này, lời thơ trong sáng, mượt mà, cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, lòng người tin tưởng, phấn chấn, đúng là quang cảnh buổi thịnh thời. Nguyễn Văn Lý không muốn khoe cái vinh dự nhà vua đã dành cho mình hay đã có một cách nhìn khác về triều chính, đã nhận ra sự thức ngộ muộn màng, như Miên Thẩm đã chỉ ra “kim thị tạc phi”?

Thơ trong Chí Hiên thi tập là phần thơ trữ tình, chuyển tải rất nhiều tâm sự của Nguyễn Văn Lý. Trừ những bài thơ đã dẫn, phần còn lại ý tứ cứ mơ hồ, nhẹ nhàng, bàng bạc mà có sức lan tỏa trong lòng người đọc, ví như bài: “Dạo bước dưới trăng nơi quán trọ” (Lữ trung bộ nguyệt):
Thu sắc xâm nhân bức,
Đào thanh lạc chẩm tần.
Cố viên hồi thị nguyệt,
Đa thiểu niệm du nhân?

(Sắc thu thấm vào áo,
Bên gối sóng ầm ào.
Vầng trăng nơi vườn cũ,
Nhớ người đi chút nào?)
(Nguyễn Văn Thiệu dịch)

Cảnh thiên nhiên trong Chí Hiên thi thảo phần nhiều không phải cảnh để ngụ ý, cảnh mượn để tỏ chí, mà là phong cảnh thực được quan sát tinh tế, vì thế chúng mang vẻ đẹp cụ thể và độc đáo. Đó là cảnh hoang dã dữ dội mà ông “ghi được trên đỉnh Thạch Tân” (Thạch Tân lĩnh ký kiến):
Nhật vãn sóc phong cao,
Thâm lâm văn hổ hào.
Thổ nhân hô điểm chúc,
Dã tượng quá tiền cao.

(Trời tối trên cao, gió bấc thổi mạnh,
Nghe tiếng hổ gầm trong rừng sâu.
Người thổ dân hô đốt đuốc,
Voi rừng đi qua gò phía trước).

Đó là mùa lụt mà chỉ ở Huế mới “đan đi dậm lại” đến thế:
Lạo khứ hoàn lai vị khẳng hưu,
Vô gian na quản thế nhân sầu.
Sơn vũ tà phi mãnh như chú,
Hải phong đảo quyển(23) thâm bất lưu.
Xá bắc xá nam đô thị thủy,
Ngã tiền ngã hậu kỷ hồi thu.
Thao thao nhược vấn quy hà xứ?
Nhất phiến nhàn vân phóng hựu thu.

(Lụt đi lụt lại mãi không thôi,
Chẳng quản lầm than của kiếp người.
Mưa núi chéo bay như trút đổ,
Cuồng phong cuộn xoáy nước khôn trôi.
Nhà nam nhà bắc mênh mông cả,
Thu trước, sau ta mấy độ rồi.
Lớp lớp về đâu như có hỏi,
Tụ tan một áng, lửng lơ chơi)
(Nguyễn Văn Thiệu dịch)

Nhưng sức lôi cuốn nhất của Chí Hiên thi thảo là vẻ đẹp của cái “đạm”. Cảnh sắc trong trẻo, tình người bâng khuâng, lãng đãng trong thời gian và không gian. Hầu như ở phần lớn các bài thơ trong tập, người đọc có thể bắt gặp những tứ thơ không nồng sắc nhưng cứ vấn vương không thể dứt. Ví như: Tâm sự miên man chỉ có ngọn đèn soi tỏ, tiếng chày đập vải nhà ai cứ đập mãi không thôi (Thất tịch cảm hoài thù Phạm Đôn Nhân); Năm tháng ở Trường An cứ trôi đi vô vị, Bỗng chốc mà người đẹp cứ xa dần (Dạ vũ cảm hoài); Chợt nhớ xuân vườn cũ / Dương liễu dáng non tơ / Bốn mùa xuân đẹp nhất / Vạn dặm, người vẫn xa. (Xuân cảm). Bóng râm mùa xuân nhàn nhạt như thế, Ý xuân thảy đều sâu xa đến thế (Xuân tứ); Cúc mùa thu sao mà gày thế? Mưa mùa thu sao mà nhiều đến thế? Hỏi thu, thu không trả lời, ngắm cúc, cúc không nói. Người tưởng nhớ còn ở nơi xa, nỗi lòng này biết ngỏ cùng ai! (Đối cúc ức Dương Đình nhân trình Mai Xuyên)... Nói như Nguyễn Trọng Hợp, thơ của tiên sinh “chủ yếu là bày tỏ nỗi lòng, dù “già” hay “trẻ” cũng tự làm nên phong cách một nhà, cho nên các bậc công khanh đều trân trọng” (Lệ ngôn).

2.3. Đông Khê văn tập - cái nhìn sắc sảo và bản lĩnh của Nguyễn Văn Lý đối với một số vấn đề văn hóa dân tộc

So với thơ, về văn, Nguyễn Văn Lý không sáng tác nhiều. Hiện nay ngoài gia phả và gia huấn là những tài liệu riêng của gia đình, ông chỉ còn tập Đông Khê văn tập. Theo thống kê của Thư mục đề yếu, tập văn có 75 bài, gồm 9 bài Tựa, 35 bài văn tế, 12 bức thư, 16 bài bi ký, bi minh, 3 bài khuyến văn. Tuy số lượng tác phẩm không nhiều, nhưng tập sách có thể cho thấy ở Chí Đình không chỉ một tâm hồn thơ, một nhân cách người thày, một kẻ sĩ cứng cỏi mà còn một bản lĩnh học giả tâm huyết với văn hóa dân tộc. Đề Tựa cho tập Bắc thành chí lược, ông đã chỉ ra sự thiếu vắng của khoa học địa chí nước nhà, cho nên ông đánh giá cao tầm nhìn và công sức của Tổng trấn Bắc thành Lê Chất cùng tập thể các nhà nho thực hiện công trình dưới sự chỉ đạo của “họ Lê”. Bất chấp bấy giờ Lê Chất đang chịu án, chưa được rửa oan, Nguyễn Văn Lý vẫn viết: “Họ Lê chỉ là tướng võ mà chí nghiệp rộng xa như thế đấy.” Đánh giá cao giá trị khoa học của bộ sách, ông chủ định hiệu chỉnh, bổ sung và phổ biến bộ sách: “Tự tay sao chép, trong bản sao này cũng có chỗ thay đổi sửa chữa lại, cũng có chỗ bổ sung phần thiếu sót, cốt để hoàn thành chí nguyện của Lê công cho sau này, và cũng để tỏ rõ làm điều hay, thì không bao giờ có thể mất được. Nay trấn đổi gọi tỉnh nhưng tôi vẫn giữ trấn cũ, là có ý tồn cổ, các bạn đồng chí biết điều gì thêm vào cho sách hay hơn, khiến cho sách được hoàn toàn, truyền cho đời, không phải không có ích vậy”. Chỉ qua lời Tựa, có thể thấy Nguyễn Văn Lý có một trình độ học vấn thâm hậu, một tinh thần làm việc khoa học và đặc biệt là tinh thần trách nhiệm, lòng tự hào và tình yêu sâu sắc với nền văn hóa nước nhà. Những lời Tựa tập thơ cho Lý Văn Phức, bia Văn chỉ Thọ Xương, bia chùa Non Tiên ... đều có thể minh chứng cho nhận xét trên, bởi ông thẩm thơ rất tinh tế và cũng rất tinh tế khi hiểu lòng người. Bên cạnh đó, với các bài Tựa Phượng Sơn từ chí lược (của Nguyễn Bảo), Lư mộ hậu tập (của Bùi Huy Phồn), Tứ lễ lược tập (của Bùi Tú Linh), Đinh Công Vĩ còn cho rằng Nguyễn Văn Lý “là người có đầu óc sưu tầm, hiểu rộng về dân tộc học, tôn giáo, địa phương chí, người sống thực tế, gần dân”(24). Ngoài ra, trong tập gia phả (Thọ Xương Đông Tác Nguyễn tộc tông phả), Nguyễn Văn Lý cũng ghi chép nhiều sự tích các nhân vật trong họ. Có một số ghi chép đã mang tính chất một truyện ký ngắn, nhân vật được ghi chép có dáng dấp một chân dung khá rõ nét. Truyện bà Viên, Tự truyện là một ví dụ. Văn chương trong phần này tuy giản dị nhưng rõ rành, khúc chiết, nhiều đoạn cũng có hình tượng và đặc biệt tính tư tưởng của truyện bao giờ cũng được tác giả chú ý. Nếu viết gia phả mục đích chính là để giáo dục con cháu thì Nguyễn Văn Lý chắc chắn đã rất thành công...

Đông Khê văn tập chưa được tìm hiểu kỹ, tập sách xứng đáng được lưu ý trong thể loại
văn xuôi nước nhà đầu thế kỷ XIX.
*
* * *
Nguyễn Văn Lý là một người thày mẫu mực, “mát tay”, một kẻ sĩ cứng cỏi, tâm huyết, ưu quốc ái dân, một nhà văn hóa đã góp sức không nhỏ cho việc chấn hưng học phong Thăng Long. Dù không phải là người xuất sắc nhất trong thế hệ của ông, không ồn ào, không phô trương nhưng sự đóng góp lặng lẽ của ông cho văn học, văn hóa nước nhà bằng những vần thơ giản dị, bằng nhân cách và tài năng một người Thầy đất Thăng Long - Hà Nội, đã khiến ông có một vị trí không thể bỏ qua khi chúng ta nhắc đến giai đoạn văn học thế kỉ XIX. Quan niệm thời Nguyễn Văn Lý, cũng là chung cả thời trung đại, văn chương không tách rời con người, không tách rời sự nghiệp, đức nghiệp dòng họ. Nhìn vào sự rạng rỡ đương thời, người ta nghĩ đến ơn trạch, phúc ấm của tổ tiên – nghĩ về ngọn nguồn gốc gác, và cũng nhìn vào ngọn nguồn gốc gác để hiểu và bình giá văn nghiệp dòng họ. Họ Nguyễn Đông Tác từ thế kỷ XV đã rực rỡ về huân nghiệp, nhưng rồi cùng với sự thăng trầm của lịch sử, dòng họ cũng đã từng đứng trước nguy cơ bị mai một. Nhưng chính nhờ đã tạo được một văn nghiệp nên đã có chứng tích về văn hiến để luôn luôn hiện diện với mọi thời đại. Nhà chí sĩ Nguyễn Hữu Cầu, một người con ưu tú của dòng họ, một nhân vật xuất sắc của Đông Kinh nghĩa thục đã khẳng định: “Chính bằng nghệ thuật và khoa học mà các dân tộc trở nên bất diệt”(25). Vận mệnh các dòng họ cũng có phần như vậy. Nguyễn Văn Lý là một nhân vật quan trọng của văn nghiệp dòng họ Nguyễn Đông Tác, một văn nghiệp đã đóng góp phần mình vào bề dày của văn học – văn hóa Thăng Long.

Nguyễn Văn Lý có một sự nghiệp văn chương dầy dặn. Ông vẫn coi trọng nguyên tắc “thơ ngôn chí”, nhưng như Phan Trứ đã nói “Chí Đình chí để ở chỗ cứu người”, mà “chí lại chính là nơi tâm hướng đến”, nó được thể hiện ra ở “tiếng thơ”, tức là phong cách. Cho nên Phan Trứ cho rằng Chí Đình đã đóng góp vào phong khí thơ đương thời một giọng thơ “đa thanh”: “Thơ của Chí Đình cổ mà đẹp, hoa lệ mà nhã; nghị luận là tấm lòng cổ nhân; phẩm đề là nét bút họa công. Những bài bình đạm của ông thì trẻ mới học cũng hiểu, những bài sâu săc của ông thì các bậc lão nho cũng không hiểu hết được. Thơ của ông có vẻ duyên dáng của thiếu nữ chơi xuân, có vẻ hào hùng của tráng niên xông trận. Nói một cách đại quát đó là bậc thượng thặng của thi học”. Đó là một nhận xét tổng quát chính xác và sắc sảo. Đứng trên quan niệm truyền thống mà xét thì thơ của ông cũng thuộc loại chuẩn mực. Lê Đôn cho rằng thơ Đông Khê “thuật hoài thì trầm uất nồng đạm mà không viển vông, thương cảm thì buồn khổ sầu muộn nhưng không oán thán, thù tặng thì mỹ lệ mà điển nhã, phẩm đề thì phong phú mà hùng hồn. Đại để là không thiên lệch mà tự có khuôn thước riêng một nhà.” Phan Cử còn nhấn mạnh tính chất sử, quan niệm không cố ý gọt giũa ở thơ Nguyễn Văn Lý. Ông cho rằng thơ của Chí Am liên quan đến tính tình, đến cương thường, thể hiện tấm lòng đối với cổ nhân, với dân tộc, cũng thể hiện tài năng và học vấn của nhà thơ. Có thể vì chính những điều đó mà Miên Thẩm quả quyết đọc thơ Chí Am như người “gạt cát luôn luôn được vàng, đẽo đá bỗng nhiên thấy ngọc”. Đó là sự trân trọng của người đương thời đối với tác phẩm của Nguyễn Văn Lý, hậu thế khó có thể nói được gì hơn!

Với nhân cách, đức nghiệp, công nghiệp và văn nghiệp như vậy, Nguyễn Văn Lý xứng đáng là một trong những nhà thơ, nhà văn hóa, trí thức tiêu biểu của Thăng Long.

TRẦN THỊ BĂNG THANH
Ô Đồng Lầm, tháng 6 -2010

(1) Nay là Trung Tự, phường Phương Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Hiện ở đây vẫn còn nhà thờ, hậu duệ ngành trưởng trực hệ đời thứ 5 vẫn thờ tự. Những chi tiết về tiểu sử trong phần này đều căn cứ vào Chí Am tự truyện và các ghi chép khác trong Thọ Xương Đông Tác Nguyễn tộc tông phả, sách của gia đình.
(2) Phan Hy Hiến tên là Cử, bạn đồng song với Nguyễn Văn Lý. Chữ Hiến trong Thư mục đề yếu ở mục từ 426, tr. 255 viết là Du, mục từ 1119, tr. 628 (cùng Tập I) viết là Mặc.
(3) Ngụy Trưng: người Khúc Thành, tên tự là Huyền Thành, làm quan Gián nghị Đại phu đời Đường Thái Tông, tính tình cương trực, dám can ngăn, từng dâng hơn 200 bài tấu, lời lẽ quyết liệt. Thái Tông rất kính trọng, phong Trịnh Quốc công. Khi mất được tặng tên thụy là Văn Trinh
(4) Dẫn theo Thiều Chửu trong Phả họ Nguyễn Đông tác in năm 1939
(5) Tác giả Ngô Cao Lãng; Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995; tr.118. Sư thần: vừa là thày vừa là bề tôi.
(6) Kiến văn tiểu lục; Nxb. Văn hóa – Thông tin, 2007. Câu trên Lê Quý Đôn nhận xét về phú đời Trần, Thiên chương, tr. 252
(7) Theo thống kê của Nguyễn Thị Lan thì trong thời trung đại, họ Nguyễn Đông Tác có 3 người đỗ đại khoa (2 Tiến sĩ văn, 1 Tiến sĩ võ), 13 Cử nhân, 18 Tú tài nho hoc, 5 Tú tài võ. Xem Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý-Dòng họ Nguyễn Đông Tác. Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2000; tr.78. Về tước phong, theo Gia phả có: 1 Đại vương Phúc thần, 2 Phụ quốc Thượng tướng quân, 3 tước công, 6 tước hầu, 14 tước bá, 2 tước nam.
(8) Đại Nam chính biên liệt truyện (nhị tập), NXB Thuận Hóa, Huế, 1997, quyển 31, tr.144
(9) Nguyễn Văn Lý bị cách chức cho về quê (“miễn quy điền”) tháng 5, nhưng có lẽ ông chưa kịp về quê, vì đến tháng 7 đã có mặt nhậm chức ở Huế rồi (theo Chí Am tự truyện).
(10 ) Theo Vũ Thế Khôi trong Vũ Tông Phan, Tuyển tập thơ văn, Trung tâm ngôn ngữ Văn hóa Đông Tây xuất bản, Hà Nội, 2001, thì Nguyễn Văn Lý điểm duyệt tập Thăng Long hoài cổ mà Vũ Tông Phan sáng tác trong khoảng từ 1833 đến 1841. Trong khi điểm duyệt, muốn sửa chữ nào Nguyễn Văn Lý chỉ ghi “thỉnh cải” (xin sửa) bên lề mà không sửa hẳn vào nguyên tác.
(11) ) Chuyển dẫn theo Nguyễn Minh Tường trong Cao Bá Quát, Danh sĩ đất Thăng Long, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010.
(12) Trong bài Quan cựu Quốc Tử Giám, Vũ Tông Phan có ghi chú: “Giám ở đông nam thành, do đời vua thứ ba triều Lý dựng lên, các triều đại Trần Lê tiếp nhau tu sửa. Nay thành nơi chất đầy đồ tế lễ bằng đồng và thiếc. Cổ thụ um tùm. Trước điện Khải Thánh có đặt 4 cái nghiên đá, tương truyền là nơi giảng tập của nhà Quốc học. Đầu đời Gia Long Tổng trấn là Quận công (Nguyễn Văn) Thành cho dựng một lầu trước chính điện, có biển đề Khuê Văn Các. Phía trước là cửa tam quan, xưa treo biển Thái Học Môn, đến năm Tân Tỵ (1821) đổi là Văn Miếu Môn ... Đầu đời Minh Mạng tôi còn trẻ có du học nơi đây. Nay đã bãi bỏ thành ruộng vườn.” Vũ Tông Phan - Tuyển tập thơ văn, Sđd.
(13) Bia đặt tại Phố Bạch Mai. Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội. Văn chỉ huyện Thọ Xương dựng năm Minh Mệnh 13 (1832), tu sửa năm Bính Thân (1836). Bia ghi tên những người thi đỗ của huyện Thọ Xương. Theo Tuyển tập Văn bia Hà Nội, Quyển II, Bài 62. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978.
(13) Tuyển tập Văn bia Hà Nội, Quyển II, Bài 62, Sđd.
(14) Vũ Tông Phan, Tuyển tập thơ văn, tr.232. Sđd
(15) Những tư liệu nghiên cứu và nhận định về Thiện đàn dẫn trong phần này có nguồn chủ yếu từ bài Văn thơ Nôm giáng bút với việc kêu gọi lòng yêu nước và chấn hưng văn hóa dân tộc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện,trong Nghiên cứu chữ Nôm Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006.
(16) Khảo sát sơ bộ, bản này khác A.1873 và cùng loại với bản được lưu giữ ở gia đình và có bổ sung thêm. Hiện chưa có điều kiện để khảo sát xem giữa A.2439 và bản lưu giữ ở gia đình có mối liên hệ ra sao? Có cùng 1 bản gốc, hay 1 trong 2 bản là bản sao của bản kia?
(17) Xin xem phần Thăng Long hoài cổ trong Vũ Tông Phan ... Sđd, từ tr. 115 đến 145.
(18) Về việc đi sứ, ý kiến các nhà nghiên cứu còn chưa nhất trí, cụ Tảo Trang cho rằng Nguyễn Văn Lý có đi sứ, vào khoảng sau khi bị cách chức mấy tháng (xin xem bài Nguyễn Văn Lý –Người con của Kinh thành, đã in trong Chí Đình Nguyễn Văn Lý – Tuyển tập thơ văn, Nxb. Khoa học xã hội, 2011).
(19) ) Vĩnh Thúc: một vị quan nhà Tống thời Tống Nhân Tông, trong bài thơ điếu Tống Nhân Tông của ông có câu: Cơ nghiệp bách niên truyền thánh tử / Kiềm lê tứ kỷ lạc xuân đài (Cơ nghiệp trăm năm truyền cho người con thánh / Dân đen bốn kỷ (48 năm) được vui cảnh đài xuân). Nguyễn Văn Lý muốn mượn ý ấy để ca ngợi vua Minh Mệnh.
(20) ) Ngu Khê: tên suối, do Liễu Tông Nguyên đặt, ông còn có Ngu Khâu, Ngu Tuyền. Ý là tôn trọng sự chất phác, cổ sơ. Liễu Tông Nguyên là 1 trong 8 đại gia đời Đường Tống, từng làm quan đến Giám sát ngự sử, sau bị gièm pha, bị trích làm Thứ sử Liễu Châu
(21) Lấy ý từ câu “Tuyết nê hồng trảo”, nghĩa là dấu chân chim hồng in trên tuyết. Đây chỉ việc tác giả đã đến địa phương này được ba năm.
(22) Quách Thị Thu Hiền: Nguyễn Văn Lý - Lịch sử văn học, Tập V, Q. 3. Bản thảo của Viện Văn học
(23) ) Anh Nguyễn Ngọc Bình, hậu duệ của cụ Nghè Đông Tác có lý khi nói rằng bài thơ này không chỉ tả con chim oanh mùa xuân. Tác giả còn gửi gắm ý tứ thương hại cho thân phận kẻ ăn nhờ ở đậu, dựa dẫm mà không tự biết nỗi nhục trong đó, vẫn bận rộn mua vui
(24) Lấy ý một câu thơ của nhà thơ Đỗ Phủ gửi Lý Bạch, nói tình cảm nhớ nhung khi hai người xa cách
(25) Quách Thị Thu Hiền. Bâì đã dẫn.
(23) Hai câu này nếu đảo lại trật tự 4 chữ thành: Tà phi sơn vũ và Đảo quyển hải phong mới đúng niêm luật, không rõ có phải sai sót khi sao chép?
(24) Mạch văn dòng Nguyễn Đông Tác, nhìn từ cội nguồn tới Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý trong sách Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý và dòng họ Nguyễn Đông Tác, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2000, tr.139.
(25) Trích từ bài Một đại sĩ phu của Nguyễn Văn Tố trong sách Nguyễn Hữu Cầu, chí sĩ yêu nước Đông Kinh nghĩa thục, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2007, tr.13.