Trang nhà > Văn chương > Cổ học > Nguyễn Văn Lý - Kẻ sĩ - Nhà văn hoá đất Thăng long (3)

Nguyễn Văn Lý - Kẻ sĩ - Nhà văn hoá đất Thăng long (3)

Chủ Nhật 18, Tháng Bảy 2010

2.2. Chí Hiên, một cánh cửa riêng cho cái tôi nhà thơ.

Qua lời trình bày của Nguyễn Trọng Hợp ở phần Lệ ngôn, có thể biết rõ Nguyễn Văn Lý đã để lại một số khá lớn thơ không đưa vào tuyển tập Đông Khê. Có lẽ những bài thơ ấy hiện được chép ở Chí Hiên thi tập, ông chưa kịp chính lý, chưa xem lại, cũng chưa có ai sắp xếp, chúng mới là những bản thảo hoàn chỉnh lần đầu.

Đọc phần thơ này của ông, quả thấy tác giả có một chút “buông thả”, dù đề vịnh, ký tặng bạn bè hay tâm sự, bàn luận ông cũng nặng về tình cảm, chủ ý “tự trữ hung khâm” (chữ của Nguyễn Trọng Hợp). Ở đây có những chùm thơ giọng điệu có phần khác Đông Khê. Một trong số đó là những vần thơ liên quan đến “người đẹp”. Vốn theo quan niệm nho gia, kín đáo trong chuyện tình cảm riêng tư, nhưng ở tập thơ này của tác giả, nhiều bài thấp thoáng bóng giai nhân. Giai nhân có khi ẩn trong bông cúc (Ngắm cúc bâng khuâng - Đối cúc cảm hoài):

Quốc hương chân khả ái,
Huống nãi mỹ nhân di.
Mục hoà thanh phong chí,
Ấp bỉ triêu lộ ti (tư).
Tố tâm thảng vô phụ,
Giai hội thượng hữu kỳ.
Nguyện ngôn kết vi bội,
Mộng trung trường tương ti.

(Nữ hoàng của loài hoa,
Người đẹp đem tặng ta.
Ngắm nhìn trong gió mát,
Thấm đẫm giọt sương sa.
Trong trắng, lòng không phụ,
Trùng phùng, đâu khó mà!
Dải đồng tâm nguyện kết,
Trong mộng, hoài tương tư.)
(Nguyễn Trâm dịch)

Cũng có khi giai nhân tới trong mơ màng giấc mộng: Mộng lý nhân giai thu quá bán / Sầu trung tân nhạn vũ phi tà (Đêm mơ người đẹp, thu già nửa / Buồn ngắm mưa rơi, nhạn cánh chao), và tác giả “tự thú”: Thập niên tâm sự thuộc hoàng hoa (Lòng gửi hoa vàng đã mười năm). Người đẹp ở đây cũng có thể chỉ là hoa cúc! Nguyễn Văn Lý dành rất nhiều vần thơ vi diệu cho hoa cúc. Tất nhiên hoa cúc thường tượng trưng cho sự thanh cao, cho người ẩn dật, cho lý tưởng cuộc sống thanh khiết, nhưng với Nguyễn Văn Lý dường như còn có một sự liên quan nào khác chăng, mà mỗi lần nói, nhớ, nghĩ về cúc, về thu thường lại thấp thoáng bóng giai nhân? Sở tư do viễn đạo / Đa bệnh độc đăng đài (Người tưởng nhớ xa vắng / Gượng lên đài ngóng nhau – Hoài thu, bài 3), Li biên trích tống sổ chi hoàng / Sát đắc giai nhân uyển tại bàng (Ngắt mấy bông cúc bên giậu tặng tôi / Cứ như có người đẹp ở ngay bên cạnh mình – Vũ Cấp sự tống cúc hoa...). Giai nhân cũng luôn phảng phất trong sâu thẳm của cõi lòng: “Năm tháng ở Trường An cứ trôi đi vô vị / Bỗng chốc mà người đẹp cứ xa dần (Dạ vũ cảm hoài). Có một bài, cũng hiếm hoi, Chí Hiên nói hẳn đến “Điều mong nhớ” (Hữu sở tư):

Sóc phong xuy lão cúc hoa thiên,
Bất kiến hoài nhân nguyệt kỷ thiên.
Tha nhật tương phùng do tạc nhật,
Tàn niên hướng tận hựu tân niên.
Vân sơn na quản nhân tình biệt,
Mai liễu hoàn trưng thục khí tiên.
Yên cảnh hữu tâm yêu hãn mặc,
Dương xuân ưng báo khởi dư thiên.

(Gió bắc thổi xui hoa cúc lão,
Người thương chưa gặp mấy trăng tròn.
Gặp nhau độ trước như vừa gặp,
Năm sắp tàn rồi lại sắp năm.
Mây núi đoái chi tình cách biệt,
Liễu mai tranh trước khí hoà ôn.
Sẵn lòng mây khói mời nghiên bút,
Báo trước thơ xuân vịnh mấy vần.)
(Nguyễn Văn Thiệu dịch)

Và cuối cùng thì tập thơ cũng có 4 bài về người ca nữ: Đàn tranh hành, Tống ca giả, Thiếu ca kỹ và Lão ca kỹ. Riêng bài “Người ca nữ già” thể hiện sự thấu hiểu tâm lý con người và cũng thể hiện một tinh thần nhân văn sâu sắc ở tác giả:

Hoãn vũ thanh ca chỉ tự liên,
Nùng trang đạm mạt bất thành nghiên.
Bồi hồi cố ảnh không lâm kính,
Tàm quý văn thanh các vấn niên.
Vãng sự kỷ hồi thương mộng mị,
Vật tình đại để thuộc thuyền quyên.
Tỳ bà khúc bãi thanh sam thấp,
Nan đắc đa tình thị Lạc Thiên.

(Ca trong, múa dẻo, chỉ thương mình,
Phấn đậm, son mờ cũng chẳng xinh.
Soi bóng trước gương, lòng bối rối,
Nghe người hỏi tuổi, dạ buồn tênh.
Chuyện xưa mộng mị, thương bao nỗi,
Nhan sắc ngày nay, hận khách tình.
Xong khúc Tỳ bà, lệ đẫm áo,
Mấy ai Tư Mã, áo màu xanh!)
(Băng Thanh dịch)

Tâm trạng buồn sầu ở Chí Hiên xuất hiện với một tần số cao và dưới khá nhiều dạng vẻ. Buồn vì nhớ bạn nơi xa (nhớ Cao Bá Quát, nhớ cố nhân), buồn trong buổi chia tay, buồn vì xa nhà, buồn vì lẽ hưng phế trong cuộc đời, buồn vì sự nhàn rỗi vô vị của những ngày tháng sa đà ở kinh thành (cả những đêm trực Ban “Trên gác thảo chiếu chỉ vẫn chẳng có việc gì” – Tiền đề thất ngôn, cả khi dựng được ngôi nhà nhỏ “Vời vợi buồn vì tài làm quan kém cỏi” – Tân cấu tiểu viện), buồn thương kiếp mình nổi trôi, bồng bềnh nơi đất khách, buồn vì tương lai không tự chủ được, buồn vì năm tháng qua, mái tóc nhuốm bạc, tiếc tuổi xuân, buồn vì thời tiết Kinh đô Huế mưa dầm dề, “lụt đi lụt lại mãi không thôi”, buồn vì tình người đơn bạc, buồn vì cô đơn và cả nỗi buồn vô cớ... (Cái buồn ở đây có một sắc thái khác với nỗi sầu ở tập Đông Khê). Trong chính những vần thơ này, Chí Hiên mới có thể trải lòng mình một cách thành thực nhất. Thành thực, quá riêng tư, nên khó chia sẻ, do vậy khi công bố đã phải sửa. Mà sửa chữa đâu đã chỉ vì vẻ đẹp của bài thơ! Tiêu biểu cho hiện tượng đó là sự sửa chữa ở bài Ủy gia nội. Trong Chí Hiên thi tập, bài thơ như sau:

Tụ thời phiên thiểu khứ thời đa,
Ngũ thập niên lai lão tuế hoa.
Ưu hoạn kỷ hồi duy dục tử,
Bôn mang lưỡng độ cánh vô gia.
Nhất quan thanh bổng hoàn ngô dữ,
Thiên lý phương tâm nại nhĩ hà!
Khách cửu dĩ phao gia thất niệm,
Tối liêu sầu xứ thị xuân hoa.

Nguyễn Văn Thiệu dịch thơ:

Tôi bà luôn cách xa nhau,

Mười lăm năm đã bạc đầu bà ơi!
Lo toan con cái bà nuôi,

Bôn ba tôi vẫn ở nơi không nhà.
Lương quan thanh bạch ấy mà,
Tấm lòng thơm thảo, giúp bà được đâu.
Quê nhà quên lãng từ lâu,
Hoa xuân trêu cợt nỗi sầu tha hương.

Bài thơ đưa vào Đông Khê được sửa 3 câu:

Câu 1 sửa thành: Tụ thời hà nhật, khứ hà đa
(Ngày nào được xum họp, xa cách sao mà nhiều!),

Hai câu kết sửa thành: Tảo vãn đắc vi quy khứ hảo,
Kết lư duy thị hướng yên ba.

Dịch là: Được về, sớm muộn sao đâu / Nhà tranh sẽ dựng giữa bầu khói mây.

Tứ thơ ở Chí Hiên da diết, thể hiện nỗi buồn nhớ đến bão hoà, vừa “chai lì” cảm xúc, vừa đã thành nỗi hận, muốn đem “ném đi” (mà không được vì hoa xuân cứ trêu cợt), còn ở Đông Khê thì nỗi buồn nhớ, niềm khát khao đoàn tụ đã lắng xuống, trở nên thâm trầm. Tâm trạng tác giả phải chăng cũng như “Dòng sông đã qua mùa bão lũ” (ý thơ Xuân Quỳnh), yên ả một cách khổ đau? ... Ấy vậy mà trong Đông Khê thi tập A.1873 do Nguyễn Trọng Hợp tuyển vẫn không có bài này! (Không rõ đó là do rơi rụng khi sao chép hay do chủ ý của người làm Tuyển tập ?)

Nguyễn Văn Lý ít làm thơ về vợ, nhưng chỉ cần một bài thơ này đủ thấy tình cảm của ông dành cho bà sâu đậm, đằm thắm đến nhường nào. Bài thơ như một lời cảm ơn, lại như một lời tạ lỗi vì sự “vô tâm” bất đắc dĩ của người chồng không cách nào đỡ đần chia sẻ cho vợ. Nếu xếp những bài thơ có chủ đề về “nội tướng” của các văn nhân thời trung đại (Hoài nội, Tư khuê, ..) thành một cụm thơ thì bài Ủy gia nội của Nguyễn Văn Lý cũng là một trong những bài hay nhất.

Một vấn đề khác được thể hiện đậm nét trong Chí Hiên là tâm trạng muốn về. Nếu ở Đông Khê, mong muốn nghỉ quan được thể hiện nghiêm túc, như một nhận thức lý trí, thì ở Chí Hiên điều đó trở thành một tình cảm gần như thường trực. Khúc ca “Về đi thôi” là một “tuyệt điệu nghìn thu”, “Cứ ngủ đi là mơ thấy về nhà” (Dạ vũ cảm hoài). Ông nhớ nhà, nhớ quê, đối với ông cảnh thiên nhiên nào ở quê nhà cũng đẹp. Mùa xuân dương liễu xanh, mùa thu vườn nhà có luống cúc, ... Muốn về chẳng phải vì canh rau thuần gỏi cá vược ngon mà vì tấm “phương tâm”, vì lo lắng ở nhà không biết cái rét đầu đông ra sao?... Mười năm làm quan xa, Nguyễn Văn Lý cảm nhận được cái “danh hão”, trải nghiệm được một điều quan trọng: “trong chốn quan trường tốt nhất là không nói”. Ông nhận ra mình đã thận trọng hơn, đã biết “chỉ mong đủ mà không mong dư dật”. Những điều “thật lòng” như thế, khó có thể để vua đọc được, cho nên ở những bài này dù lời thơ rất hay, tứ thơ sâu sắc, tình thơ nồng đậm mà thanh thoát, nhưng cũng vẫn không được chính tác giả tuyển vào tập Đông Khê. Tuy nhiên cũng còn một hiện tượng lạ nữa, đó là trong tập này có khoảng hai chục bài nói về các cuộc được “tòng giá”, đi Thuận An, lên núi Thúy Hoa, đến Vọng Hải đài, thăm cửa biển Tư Dung ... đều không được đưa vào Đông Khê thi tập. Những bài thơ này, lời thơ trong sáng, mượt mà, cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, lòng người tin tưởng, phấn chấn, đúng là quang cảnh buổi thịnh thời. Nguyễn Văn Lý không muốn khoe cái vinh dự nhà vua đã dành cho mình hay đã có một cách nhìn khác về triều chính, đã nhận ra sự thức ngộ muộn màng, như Miên Thẩm đã chỉ ra “kim thị tạc phi”?

Thơ trong Chí Hiên thi tập là phần thơ trữ tình, chuyển tải rất nhiều tâm sự của Nguyễn Văn Lý. Trừ những bài thơ đã dẫn, phần còn lại ý tứ cứ mơ hồ, nhẹ nhàng, bàng bạc mà có sức lan toả trong lòng người đọc, ví như bài: “Dạo bước dưới trăng nơi quán trọ” (Lữ trung bộ nguyệt):

Thu sắc xâm nhân bức,
Đào thanh lạc chẩm tần.
Cố viên hồi thị nguyệt,
Đa thiểu niệm du nhân?
(Sắc thu thấm vào áo,
Bên gối sóng ầm ào.
Vầng trăng nơi vườn cũ,
Nhớ người đi chút nào?)

(Nguyễn Văn Thiệu dịch)

Cảnh thiên nhiên trong Chí Hiên thi thảo phần nhiều không phải cảnh để ngụ ý, cảnh mượn để tỏ chí, mà là phong cảnh thực được quan sát tinh tế, vì thế chúng mang vẻ đẹp cụ thể và độc đáo. Đó là cảnh hoang dã dữ dội mà ông “ghi được trên đỉnh Thạch Tân” (Thạch Tân lĩnh ký kiến):

Nhật vãn sóc phong cao,
Thâm lâm văn hổ hào.
Thổ nhân hô điểm chúc,
Dã tượng quá tiền cao.

(Trời tối trên cao, gió bấc thổi mạnh,
Nghe tiếng hổ gầm trong rừng sâu.
Người thổ dân hô đốt đuốc,
Voi rừng đi qua gò phía trước).

Đó là mùa lụt mà chỉ ở Huế mới “đan đi dậm lại” đến thế:

Lạo khứ hoàn lai vị khẳng hưu,
Vô gian na quản thế nhân sầu.
Sơn vũ tà phi mãnh như chú,
Hải phong đảo quyển(26) thâm bất lưu.
Xá bắc xá nam đô thị thủy,
Ngã tiền ngã hậu kỷ hồi thu.
Thao thao nhược vấn quy hà xứ?
Nhất phiến nhàn vân phóng hựu thu.

(Lụt đi lụt lại mãi không thôi,
Chẳng quản lầm than của kiếp người.
Mưa núi chéo bay như trút đổ,
Cuồng phong cuộn xoáy nước khôn trôi.
Nhà nam nhà bắc mênh mông cả,
Thu trước, sau ta mấy độ rồi.
Lớp lớp về đâu như có hỏi,
Tụ tan một áng, lửng lơ chơi)
(Nguyễn Văn Thiệu dịch)

Nhưng sức lôi cuốn nhất của Chí Hiên thi thảo là vẻ đẹp của cái “đạm”. Cảnh sắc trong trẻo, tình người bâng khuâng, lãng đãng trong thời gian và không gian. Hầu như ở phần lớn các bài thơ trong tập, người đọc có thể bắt gặp những tứ thơ không nồng sắc nhưng cứ vấn vương không thể dứt. Ví như: Tâm sự miên man chỉ có ngọn đèn soi tỏ, tiếng chày đập vải nhà ai cứ đập mãi không thôi (Thất tịch cảm hoài thù Phạm Đôn Nhân); Năm tháng ở Trường An cứ trôi đi vô vị, Bỗng chốc mà người đẹp cứ xa dần (Dạ vũ cảm hoài); Chợt nhớ xuân vườn cũ / Dương liễu dáng non tơ / Bốn mùa xuân đẹp nhất / Vạn dặm, người vẫn xa. (Xuân cảm). Bóng râm mùa xuân nhàn nhạt như thế, Ý xuân thảy đều sâu xa đến thế (Xuân tứ); Cúc mùa thu sao mà gày thế? Mưa mùa thu sao mà nhiều đến thế? Hỏi thu, thu không trả lời, ngắm cúc, cúc không nói. Người tưởng nhớ còn ở nơi xa, nỗi lòng này biết ngỏ cùng ai! (Đối cúc ức Dương Đình nhân trình Mai Xuyên)... Nói như Nguyễn Trọng Hợp, thơ của tiên sinh “chủ yếu là bày tỏ nỗi lòng, dù “già” hay “trẻ” cũng tự làm nên phong cách một nhà, cho nên các bậc công khanh đều trân trọng” (Lệ ngôn).

2.3. Đông Khê văn tập - cái nhìn sắc sảo và bản lĩnh của Nguyễn Văn Lý đối với một số vấn đề văn hoá dân tộc.

So với thơ, về văn, Nguyễn Văn Lý không sáng tác nhiều. Hiện nay ngoài gia phả và gia huấn là những tài liệu riêng của gia đình, ông chỉ còn tập Đông Khê văn tập. Theo thống kê của Thư mục đề yếu, tập văn có 75 bài, gồm 9 bài Tựa, 35 bài văn tế, 12 bức thư, 16 bài bi ký, bi minh, 3 bài khuyến văn. Tuy số lượng tác phẩm không nhiều, nhưng tập sách có thể cho thấy ở Chí Đình không chỉ một tâm hồn thơ, một nhân cách người thày, một kẻ sĩ cứng cỏi mà còn một bản lĩnh học giả tâm huyết với văn hoá dân tộc. Đề Tựa cho tập Bắc thành chí lược, ông đã chỉ ra sự thiếu vắng của khoa học địa chí nước nhà, cho nên ông đánh giá cao tầm nhìn và công sức của Tổng trấn Bắc thành Lê Chất cùng tập thể các nhà nho thực hiện công trình dưới sự chỉ đạo của “họ Lê”. Bất chấp bấy giờ Lê Chất đang chịu án, chưa được rửa oan, Nguyễn Văn Lý vẫn viết: “Họ Lê chỉ là tướng võ mà chí nghiệp rộng xa như thế đấy.” Đánh giá cao giá trị khoa học của bộ sách, ông chủ định hiệu chỉnh, bổ sung và phổ biến bộ sách: “Tự tay sao chép, trong bản sao này cũng có chỗ thay đổi sửa chữa lại, cũng có chỗ bổ sung phần thiếu sót, cốt để hoàn thành chí nguyện của Lê công cho sau này, và cũng để tỏ rõ làm điều hay, thì không bao giờ có thể mất được. Nay trấn đổi gọi tỉnh nhưng tôi vẫn giữ trấn cũ, là có ý tồn cổ, các bạn đồng chí biết điều gì thêm vào cho sách hay hơn, khiến cho sách được hoàn toàn, truyền cho đời, không phải không có ích vậy”. Chỉ qua lời Tựa, có thể thấy Nguyễn Văn Lý có một trình độ học vấn thâm hậu, một tinh thần làm việc khoa học và đặc biệt là tinh thần trách nhiệm, lòng tự hào và tình yêu sâu sắc với nền văn hoá nước nhà. Những lời Tựa tập thơ cho Lý Văn Phức, bia Văn chỉ Thọ Xương, bia chùa Non Tiên ... đều có thể minh chứng cho nhận xét trên, bởi ông thẩm thơ rất tinh tế và cũng rất tinh tế khi hiểu lòng người. Bên cạnh đó, với các bài Tựa Phượng Sơn từ chí lược (của Nguyễn Bảo), Lư mộ hậu tập (của Bùi Huy Phồn), Tứ lễ lược tập (của Bùi Tú Linh), Đinh Công Vĩ còn cho rằng Nguyễn Văn Lý “là người có đầu óc sưu tầm, hiểu rộng về dân tộc học, tôn giáo, địa phương chí, người sống thực tế, gần dân”(27). Ngoài ra, trong tập gia phả (Thọ Xương Đông Tác Nguyễn tộc tông phả), Nguyễn Văn Lý cũng ghi chép nhiều sự tích các nhân vật trong họ. Có một số ghi chép đã mang tính chất một truyện ký ngắn, nhân vật được ghi chép có dáng dấp một chân dung khá rõ nét. Truyện bà Viên, Tự truyện là một ví dụ. Văn chương trong phần này tuy giản dị nhưng rõ rành, khúc chiết, nhiều đoạn cũng có hình tượng và đặc biệt tính tư tưởng của truyện bao giờ cũng được tác giả chú ý. Nếu viết gia phả mục đích chính là để giáo dục con cháu thì Nguyễn Văn Lý chắc chắn đã rất thành công...

Đông Khê văn tập chưa được tìm hiểu kỹ, tập sách xứng đáng được lưu ý trong thể loại văn xuôi nước nhà đầu thế kỷ XIX.

***

Nguyễn Văn Lý là một người thày mẫu mực, “mát tay”, một kẻ sĩ cứng cỏi, tâm huyết, ưu quốc ái dân, một nhà văn hoá đã góp sức không nhỏ cho việc chấn hưng học phong Thăng Long. Dù không phải là người xuất sắc nhất trong thế hệ của ông, không ồn ào, không phô trương nhưng sự đóng góp lặng lẽ của ông cho văn học, văn hoá nước nhà bằng những vần thơ giản dị, bằng nhân cách và tài năng một người Thầy đất Thăng Long - Hà Nội, đã khiến ông có một vị trí không thể bỏ qua khi chúng ta nhắc đến giai đoạn văn học thế kỉ XIX. Quan niệm thời Nguyễn Văn Lý, cũng là chung cả thời trung đại, văn chương không tách rời con người, không tách rời sự nghiệp, đức nghiệp dòng họ. Nhìn vào sự rạng rỡ đương thời, người ta nghĩ đến ơn trạch, phúc ấm của tổ tiên – nghĩ về ngọn nguồn gốc gác, và cũng nhìn vào ngọn nguồn gốc gác để hiểu và bình giá văn nghiệp dòng họ. Họ Nguyễn Đông Tác từ thế kỷ XV đã rực rỡ về huân nghiệp, nhưng rồi cùng với sự thăng trầm của lịch sử, dòng họ cũng đã từng đứng trước nguy cơ bị mai một. Nhưng chính nhờ đã tạo được một văn nghiệp nên đã có chứng tích về văn hiến để luôn luôn hiện diện với mọi thời đại. Nhà chí sĩ Nguyễn Hữu Cầu, một người con ưu tú của dòng họ, một nhân vật xuất sắc của Đông Kinh nghĩa thục đã khẳng định: “Chính bằng nghệ thuật và khoa học mà các dân tộc trở nên bất diệt”(28). Vận mệnh các dòng họ cũng có phần như vậy. Nguyễn Văn Lý là một nhân vật quan trọng của văn nghiệp dòng họ Nguyễn Đông Tác, một văn nghiệp đã đóng góp phần mình vào bề dày của văn học – văn hoá Thăng Long.

Nguyễn Văn Lý có một sự nghiệp văn chương dầy dặn. Ông vẫn coi trọng nguyên tắc “thơ ngôn chí”, nhưng như Phan Trứ đã nói “Chí Đình chí để ở chỗ cứu người”, mà “chí lại chính là nơi tâm hướng đến”, nó được thể hiện ra ở “tiếng thơ”, tức là phong cách. Cho nên Phan Trứ cho rằng Chí Đình đã đóng góp vào phong khí thơ đương thời một giọng thơ “đa thanh”: “Thơ của Chí Đình cổ mà đẹp, hoa lệ mà nhã; nghị luận là tấm lòng cổ nhân; phẩm đề là nét bút hoạ công. Những bài bình đạm của ông thì trẻ mới học cũng hiểu, những bài sâu sắc của ông thì các bậc lão nho cũng không hiểu hết được. Thơ của ông có vẻ duyên dáng của thiếu nữ chơi xuân, có vẻ hào hùng của tráng niên xông trận. Nói một cách đại quát đó là bậc thượng thặng của thi học”. Đó là một nhận xét tổng quát chính xác và sắc sảo. Đứng trên quan niệm truyền thống mà xét thì thơ của ông cũng thuộc loại chuẩn mực. Lê Đôn cho rằng thơ Đông Khê “thuật hoài thì trầm uất nồng đạm mà không viển vông, thương cảm thì buồn khổ sầu muộn nhưng không oán thán, thù tặng thì mỹ lệ mà điển nhã, phẩm đề thì phong phú mà hùng hồn. Đại để là không thiên lệch mà tự có khuôn thước riêng một nhà.” Phan Cử còn nhấn mạnh tính chất sử, quan niệm không cố ý gọt giũa ở thơ Nguyễn Văn Lý. Ông cho rằng thơ của Chí Am liên quan đến tính tình, đến cương thường, thể hiện tấm lòng đối với cổ nhân, với dân tộc, cũng thể hiện tài năng và học vấn của nhà thơ. Có thể vì chính những điều đó mà Miên Thẩm quả quyết đọc thơ Chí Am như người “gạt cát luôn luôn được vàng, đẽo đá bỗng nhiên thấy ngọc”. Đó là sự trân trọng của người đương thời đối với tác phẩm của Nguyễn Văn Lý, hậu thế khó có thể nói được gì hơn!

Với nhân cách, đức nghiệp, công nghiệp và văn nghiệp như vậy, Nguyễn Văn Lý xứng đáng là một trong những nhà thơ, nhà văn hoá, trí thức tiêu biểu của Thăng Long.

Trần Thị Băng Thanh

Ô Đồng Lầm, tháng 6 -2010

CHÚ THÍCH

(26) Hai câu này nếu đảo lại trật tự 4 chữ thành: Tà phi sơn vũ và Đảo quyển hải phong mới đúng niêm luật, không rõ có phải sai sót khi sao chép?

(27) Mạch văn dòng Nguyễn Đông Tác, nhìn từ cội nguồn tới Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý trong sách Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý và dòng họ Nguyễn Đông Tác, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2000, tr. 139.

(28) Trích từ bài Một đại sĩ phu của Nguyễn Văn Tố trong sách Nguyễn Hữu Cầu, chí sĩ yêu nước Đông Kinh nghĩa thục, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2007, tr. 13.


Xem online : Nguyễn Văn Lý - Kẻ sĩ - Nhà văn hoá đất Thăng long (1)