LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Trang nhà > Nhân văn > Hồi tưởng > Nguyễn Văn Xuân: Hạnh phúc cuối cho một đời văn

Nguyễn Văn Xuân: Hạnh phúc cuối cho một đời văn

Chủ Nhật 14, Tháng Sáu 2009

Từ trang viết đến trang đời của nhà văn Nguyễn Văn Xuân nhất quán một cách sống độc lập. Viết văn, xuất bản sách, viết báo, dạy học... nhưng ông chưa hề riêng thuộc về ai theo chủ nghĩa của hai chữ "biên chế". Ông thuộc về bạn đọc, thuộc về tất cả chúng ta.

Vào lúc 21 giờ ngày 4-7-2007, nhà văn Nguyễn Văn Xuân qua đời tại nhà riêng ở thành phố Đà Nẵng, hưởng thọ 86 tuổi. Điện thoại tin nhắn, email liên quan đến chuyến đi cuối cùng của nhà văn chiếm dung lượng lớn trên các cổng thông tin. Chuyện một người chia tay cuộc đời vào tuổi 86 tưởng sẽ không gây ngạc nhiên, xôn xao đến thế.

Có lẽ do trong tâm tưởng đồng nghiệp và bạn đọc luôn có một hình ảnh Nguyễn Văn Xuân không chịu tác động của thời gian. Vì ông luôn bên cạnh thế hệ trẻ? Vì ông vẫn sắc sảo, canh tân trong suy nghĩ? Có lẽ cả hai.

Tâm trạng ngạc nhiên, xao xuyến, thương tiếc của đồng nghiệp và bạn đọc đối với nhà văn Nguyễn Văn Xuân là hạnh phúc cuối dành cho một đời văn.

Cuộc đời cầm bút của nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân xứng đáng để đón nhận hạnh phúc ấy.

Ông sinh năm 1921 tại Quảng Nam. Viết truyện ngắn từ rất sớm. Được báo Thế giới ở Hà Nội trao giải thưởng về truyện ngắn khi ông mới 16 tuổi. Và trên tuần báo văn học phổ biến nhất thời bấy giờ, Tiểu thuyết Thứ Bảy, tên tuổi Nguyễn Văn Xuân trở nên quen thuộc với bạn đọc trong nước.

Năm 1956 ông xuất bản Bão rừng - cuốn tiểu thuyết Việt Nam đầu tiên viết về các đồn điền cà phê ở Tây Nguyên mà nhân vật chính là một kỳ nữ. Sau này, ông có lần trao đổi với tôi: "Gần đây chuyện cây cà phê và người trồng cà phê ở Tây Nguyên rất hay, cứ như "huyền thoại", thế mà chẳng có tiểu thuyết tầm cỡ nào dành cho nó, hay là tại tôi không đọc hết?".

Vùng cát Quảng Nam được nhiều người biết đến qua tác phẩm Dịch cát (1966) của Nguyễn Văn Xuân. Tập truyện ngắn Hương máu (1969) của ông có thể xem là tiểu thuyết chương hồi về phong trào Cần vương và Duy tân đầu thế kỷ 20 vì các truyện gần như đan xen, nối kết.

Truyện ngắn phản ánh tâm thức xã hội miền Nam trước 1975 của Nguyễn Văn Xuân đăng rải rác trên các tạp chí cũng được bạn đọc đương thời chú ý, trong đó có truyện Con hiện sinh đến bây giờ vẫn còn nhiều người nhớ. Nhưng dường như không thoả mãn trong lĩnh vực sáng tác, ông dành hầu hết thời gian cho nghiên cứu. Lần lượt ra đời Khi những lưu dân trở lại (1967), Phong trào Duy tân (1970), Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc (1974)...

Các tác phẩm nghiên cứu của Nguyễn Văn Xuân có thể xem là sách tham khảo để hiểu cặn kẽ hơn sáng tác của chính Nguyễn Văn Xuân, hay ngược lại. Trong đó, có lẽ cũng như bạn đọc, ông tâm đắc nhất là cuốn Phong trào Duy tân.

Những năm gần đây, dù tuổi đã cao, bạn đọc thỉnh thoảng vẫn gặp những bài viết của Nguyễn Văn Xuân về đất nước, con người (phần lớn là đất Quảng và các tỉnh miền Trung), các vấn đề văn hoá, văn nghệ. Thế rồi nghiên cứu lại không làm thoả mãn, thậm chí nhớ tiếc sáng tác, ông lẳng lặng bỏ 10 năm cuối đời để viết tiểu thuyết quái nữ, và khi xuất bản được đổi tên là Kỳ nữ họ Tống (2002).

Tất nhiên nhân vật chính là nữ rồi, lại "quái" nữa. Nói cho cùng, trong sáng tác của ông thường có hai nhân vật chính: anh hùng và thuyền quyên. Hôm ra mắt cuốn Kỳ nữ họ Tống, ông bảo tôi: "Cũng kỳ thiệt, hai người đàn bà của tôi trong Bão rừng và Kỳ nữ họ Tống đều đẹp, đa dâm và biết dùng "vốn tự có" để khuynh đảo thiên hạ. E trong thâm tâm tôi thích loại đàn bà này chăng?"

Thử thách có thể giúp một cây bút đạt đến đỉnh cao của bản thân. Nhưng thử thách đôi khi cũng làm lãng phí tài nguyên một cây bút. Về trường hợp của nhà văn Nguyễn Văn Xuân, đặc biệt trong lĩnh vực lịch sử, văn hoá địa phương, có thể nói đã có sự lãng phí như thế. Tâm sức và thời gian dành cho cơm áo đời thường của một trụ cột gia đình đã không cho phép nhà văn thực hiện được những công trình cưu mang, hoài bão hàng nửa thế kỷ. Cuốn biên khảo Phong trào Duy tân được bạn đọc đánh giá cao kia thực ra chỉ là một phần trong toàn bộ kế hoạch nghiên cứu đồ sộ và hữu ích của ông.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân thường khuyên bạn trẻ hãy tìm cách lưu trữ, tiếp xúc trực tiếp bản gốc khi nghiên cứu một đề tài. Với bề dày vốn sống, quá trình tích lũy uyên bác và nồng nhiệt về các lĩnh vực văn hoá, lịch sử Đà Nẵng, Quảng Nam, Huế, Tây Nguyên, bản thân ông cũng là một "bản gốc", là cuốn "tự điển sống" của chúng ta.

Nhưng chính quyền địa phương, các nhà xuất bản, các tờ báo đã không có kế hoạch đầu tư đúng mức để khai thác kịp thời "bản gốc" ấy, trước khi nhà văn ra "người thiên cổ".

Không riêng Quảng Nam - Đà Nẵng, địa phương nào cũng có những "bản gốc" cần ưu ái đầu tư và khai thác như thế. Cuộc chia ly không bất ngờ với nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân càng làm chúng ta giật mình về thời gian, về sự lãng phí "bản gốc".

(ND)