Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Thi ca > Nhà thơ Đồng Đức Bốn (1948-2006)

Nhà thơ Đồng Đức Bốn (1948-2006)

Thứ Sáu 15, Tháng Hai 2008

Theo nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, thơ Đồng Đức Bốn chính là hơi thở, là hồn vía của cuộc sống hôm nay được ‘quản thúc” trong niêm luật cổ truyền lục bát. Khoảng mười năm trở lại đây, xuất hiện khá đông nhà thơ. Công cuộc đổi mới đã mang một diện mạo mới cho nền văn học nghệ thuật nước nhà. Thơ cũng nhiều lên, cũng sôi động. Trung bình mỗi ngày có 2 tập thơ được in ra. Cuộc sống lẫn lộn vàng thau, lẫn lộn vui buồn. Thơ cũng thế! Trong bối cảnh ấy, Đồng Đức Bốn nổi lên như một hiện tượng thơ đặc biệt.
Đồng Đức Bốn sinh năm 1948, quê Hải Phòng. Anh đã từng làm nhiều nghề kiếm sống, cuộc đời sóng gió phiêu bạt nhiều nơi. Những dấu vết ấy hằn sâu trong nhiều bài thơ của anh. Cho đến nay anh đã xuất bản 5 tập thơ.
Đồng Đức Bốn đã từng nhận nhiều giải thưởng trong các cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ, Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội và báo Tiền Phong. Anh là người sở trường làm thơ lục bát. Có lẽ anh là người làm thơ lục bát hay nhất trong khoảng 50 năm trở lại đây ở Việt Nam, kể từ khi Nguyễn Bính - một người chân quê, đồng thời cũng là một thi sĩ đệ nhất lãng tử giang hồ qua đời.
Thơ lục bát có cái khó là niêm luật cực kỳ chặt chẽ, và là một thể thơ nôm na cổ truyền đặc trưng Việt Nam. Người Việt Nam vị tình. Thơ lục bát cũng là một thể thơ vị tình. Nó gần gũi với lối sống, nếp nghĩ của người nông dân Việt Nam thật thà chất phác, thơ lục bát rất dễ làm nhưng chính vì thế mà cũng khó hay. Nhiều chữ quá, khôn chữ quá chính là căn bệnh mà
nhiều người làm thơ lục bát dễ mắc phải. Trong hàng vạn, hàng triệu người làm thơ lục bát thì đa phần đều ở diện “trí năng”, tức là làm thơ theo trí. Tác giả giống như một người đang chơi trò trí uẩn, sắp xếp các con chữ, các âm vận âm điệu, cố khuôn nó vào trong âm luật. Có thể thấy rõ sự dụng công của người làm thơ, càng dụng công bao nhiêu thơ càng thiếu tự nhiên, càng dở bấy nhiêu. Ở đây, diện tướng của người làm thơ hiện ra rất rõ, không sao trốn đi đâu được. Chính vì thế làm thơ lục bát mà không dụng công, dễ dàng như lời người nói quả là rất khó, rất hiếm. Có thể nói rằng trong hàng triệu người mới có một người, nó tựa như trò chơi xổ số trong văn chương và định mệnh. Đồng Đức Bốn là người tự dưng có duyên với riêng thể thơ lục bát. Đó là ân huệ trời đất dành riêng cho anh.

Chăn trâu đốt cỏ trên đồng
Rạ rơm thì ít gió đông thì nhiều.
Mải mê đuổi một con diều
Củ khoai nướng để cả chiều thành tro.
***
Đang trưa ăn mày vào chùa
Sư ra cho một lá bùa rồi đi.
Lá bùa chẳng biết làm gì
Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày.

Thơ lục bát của ĐĐB thường ngắn, có hai, bốn, hoặc sáu, hoặc tám đến mười hai câu giống như ca dao. Đôi khi, nó có vẻ như một lời nói bâng quơ bình thường:
Xong rồi chả biết đi đâu
Xích lô Bà Triệu ra cầu Chương Dương.
***
Chiều mưa phố Huế một mình
Biết đâu là chỗ ân tình đến chơi.
***
Gọi em một tiếng tưởng xong,
Không ngờ ai nấp trong lòng trộm nghe.
***
Cầm lòng bán cái vàng đi
Để mua những cái nhiều khi không vàng.
***
Chuồn chuồn cắn rốn biết bơi
Con tôi chết bởi lời người hát ru.
Con tôi chết ở ao tù
Mà lời người vẫn hát ru ngọt ngào.

Hình ảnh nông thôn hôm nay được ĐĐB vẽ lại trong nhiều bài thơ vừa giống vừa khác với những thôn Đoài, thôn Đông trong thơ Nguyễn Bính trước đây. Vẫn là cái ngậm ngùi của sự nghèo nàn và mất mát khiến lòng ta nhói đau, khiến lòng ta nhớ khôn nguôi “thương nhớ đồng quê”:
Nhà quê có cái giếng đình
Trúc xinh cứ đứng một mình lẳng lơ.
Nhà quê có mấy trai tơ
Quần bò, mũ cối giả vờ sang chơi.
Nhà quê chân lấm tay bùn
Mẹ đi cấy lúa rét run thân già.
Chợ làng mở dưới gốc đa
Nhà quê đem mấy con gà bán chơi.
Ối mẹ ơi đê đã vỡ rồi
Đồng ta trắng xoá cả trời nước trong.
Trâu bò thất thểu long đong
Trên bè tre rối bòng bong xoong nồi.
Ối mẹ ơi đê đã vỡ rồi
Mộ cha liệu có lên trời được không.
Sao chưa thấy chiếc thuyền rồng
Chở con với mẹ qua giông bão này.

Thơ ĐĐB khá giầu hình ảnh, và nói như nhà nghiên cứu phê bình văn học Vương Trí Nhàn: “Lục bát của Đồng Đức Bốn từ tốn, chậm rãi như lời nói vẩn vơ của một người vừa ngán sự đời, vừa không thôi chiêm nghiệm sự đời.” Thơ ĐĐB giầu nhịp điệu, có thể thấy rằng không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhạc sĩ đã nhận ra sự tài tình và đã có một tình cảm liên tài khi phổ nhạc cho thơ anh. Đấy là các nhạc sĩ Thuận Yến, Doãn Nho, Huy Thục, Đặng Hữu Phúc, An Thuyên, Nguyễn Tiến, Nguyễn Cường, Tuấn Phương, Đoàn Bông, Minh Quang... Đến nay, ĐĐB đã có chừng hơn 50 bài thơ được các nhạc sĩ phổ nhạc. Rất có thể đây là những bài hát phổ thơ hay nhất trong vòng hai mươi năm qua.

Cũng với tình cảm liên tài, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã viết bài “Bạn thơ” tặng riêng cho ĐĐB:
Bạn chừ đóng gạch nơi nao
Văn chương lấm láp vêu vao mặt người.
Bất ngờ bạn đến thăm tôi
Gửi cho mấy tập ôi trời là thơ.
Câu dài câu ngắn ngẩn ngơ
Những rơm với lửa, những tơ với tình.
Một người hoang dại một mình
Bơ vơ giữa phố mong thành thi nhân.
Lòng yêu yêu đến trong ngần
Đường xa thương vết chân trần bạn tôi.
Mong sao bạn bớt bùi ngùi
Cố làm thơ nữa để rồi gặp nhau…

Đồng Đức Bốn là một nhà thơ sáng tạo ra những cái mới trong thơ lục bát. Anh thuộc diện nhà thơ bảo tồn, bảo lưu các giá trị thơ ca truyền thống. Đấy là một điểm khá đặc biệt trong thời buổi thơ lẫn lộn trắng, đen, thật, giả, lẫn lộn chuyên nghiệp và nghiệp dư hôm nay. Thơ anh dị ứng với những cách tân bí hiểm trừu tượng. Sự hiện đại trong thơ Đồng Đức Bốn là ở nội lực bên trong của từng câu thơ. Thơ hiện đại của ĐĐB chính là hơi thở, là hồn vía của cuộc sống hôm nay được “quản thúc” trong niêm luật cổ truyền lục bát. Anh thật xứng đáng với danh hiệu thi nhân, một danh hiệu vẻ vang không dễ dàng gì. Đấy chính là giá trị quí báu mà ĐĐB cống hiến cho đời, cho cuộc sống.

Chùm thơ Đồng Đức Bốn

(rút trong tập Chăn trâu đốt lửa)
Chợ buồn
Chợ buồn đem bán những vui
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em.
Chợ buồn bán nhớ cho quên
Bán mưa cho nắng, bán đêm cho ngày.
Chợ buồn bán tỉnh cho say
Bán thương suốt một đời này cho yêu.
Tôi giờ xa cách bao nhiêu
Đem thơ đổi lấy những chiều tương tư.

Sông Thương ngày không em
Không em ra ngõ kéo diều
Nào ngờ đuợc mảnh trăng chiều trên tay,
Luồn kim vào nhớ để may
Chỉ yêu cứ đứt trên tay mình cầm.
Sông Thương như gỗ hóa trầm
Mùi hương để vết tím bầm trên da.
Sông Thương từ buổi em xa
Tay anh quờ xuống hóa ra bị chàm.
Em đi như chim về ngàn
Để rơi một cánh hoa tan nát chiều.

Tôi đi tìm một tình yêu

Trên dòng sông chứa rất nhiều ban mai.
Tôi đi trên dòng song gai
Lốt chân chim đậu trên vai thành hồ.
Không em từ bấy đến giờ
Bàn tay vẫn héo như cờ chịu tang.
Cầu gẫy mới phải đi đò
Cầu gẫy mới phải đi đò
Thế nên gặp gió thổi cho rét lòng.
Con đò nửa mặt trăng cong
Chênh vênh trên một dòng sông lở bồi.
Mái chèo cứ nhẹ thế thôi
Không là đứt ruột gan tôi bây giờ.
Mái chèo trên sóng làm thơ
Đỡ cho cánh vạc bơ vơ xuống dòng.
Chốc nữa thế nào cũng giong
Sang đò tôi đến giữa đồng là mưa.

Đời tôi
I
Tôi vừa lo được miếng cơm
Thì mất tí lửa tí rơm gầy lò.
Tôi vừa vượt bão mưa to
Chân đã phải lội đi mò sông sâu.
II
Mải mê tính chuyện không đâu
Qua song đã gẫy nhịp cầu chẳng lo.
Bòn mãi được mấy sợi tơ
Giăng ra bao kẻ đã vơ vào lòng.
Bây giờ còn có ai mong
Mà người mượn gió bẻ cong trăng ngà.

III

Đời tôi tan nát bơ vơ
Nhớ thương là đợi còn chờ là yêu.
Đời tôi như một con diều
Đứt dây để trống cả chiều ngẩn ngơ.

VI
Đời tôi mưa nắng ở đâu
Bây giờ vuốt gió trên đầu tóc rơi.
Đời tôi tình rách tả tơi
Bây giờ nhặt mảnh sao rơi vá vào.
Đời tôi giầu ở chiêm bao
Bây giờ ngồi hút thuốc lào với trăng.

Đường đi
I
Đường đi to nhỏ đường dài
Thẳm sâu xuống biển lai rai lên đèo.
Có gì không để tôi theo
Cả đời bạc tóc vẫn nghèo xác xơ.
Có gì không để tôi chờ
Đời người được mấy giấc mơ đã tàn.
***
Bao nhiêu hy vọng cũng tan
Mà sao vàng ở trong than vẫn ngời.
Bao nhiêu cái mặt con người
Đánh nhau mũ áo tả tơi vẫn còn.
Bảo rằng phía trước là son
Tôi đi đến hết đường mòn lại không

II
Cứ đi theo vết bùn nhơ
Bao giờ qua những bến bờ thương đau.
Bảo rằng khổ trước sướng sau
Mà trăm năm vẫn thấy nhau bọt bèo.

III
Bao nhiêu là nỗi đau qua
Gom vào thành những phù sa cho người.
Bao nhiêu là giọt mắt rơi
Làm mưa chứ chẳng làm trời nổi giông
Bàn chân đã xéo lên chông
Máu chảy không sợ thì không sợ gì.

Đàn tì bà bỏ quên
Bỏ quên thì cứ bỏ quên
Đàn tì bà đó cái tên vẫn còn.
Dây một gảy khúc chon von
Dây hai gảy khúc trăng tròn ngắm hoa.
Dây ba gảy lúc người ta
Đói cơm rách áo vẫn là của nhau
Dây tư gảy khúc buồn đau
Nhắc ai còn nhớ tới câu hẹn hò
Bốn dây thành một con đò
Chở tôi tới giữa đôi bờ Trương Chi.

Bây giờ

I
Bây giờ không thấy Thị Mầu
Nhưng con mắt ấy còn lâu mới già.
Mỗi lần cây cải nở hoa
Thì tôi lại nhớ người ta chưa về.
Mỗi lần cỏ dại trên đê
Chim ngói đi thả bùa mê khắp đồng.
Bây giờ em đi lấy chồng
Tôi giờ về lại bên sông tìm mình.
II
Bao nhiêu là thứ bùa mê
Cũng không bằng được nhà quê của mình.
Câu thơ nấp ở sân đình
Nhuộm trăng trăng sáng, nhuộm tình tình đau.
Nhuộm buồn những hạt mưa mau
Thành sao nở trắng vuờn cau trước nhà.
Nhuộm hương của các loài hoa
Thành mơn mởn tóc đuôi gà cho em.
Câu ca mẹ hát như đùa
Chẳng mong thì bão cũng đi
Chẳng chờ thì nắng đương thì vẫn sang.
Đất nâu tưởng đã cũ càng
Tiếng chim trong bụi tre làng cứ non.
Có đi trên quãng đường mòn
Mới tin rùa tháp vẫn còn linh thiêng.
Mỗi người có một cõi riêng
Cũng như tiếng trống tiếng chiêng hội mùa.
Câu ca mẹ hát như đùa
Mà làn nước mặn đồng chua đổi đời.


Đồng Đức Bốn: ’Mỗi bài thơ giải một độc tố’ Khác với hình dung về nhà thơ Đồng Đức Bốn đang lâm trọng bệnh khiến đồng nghiệp và những người yêu thơ ông lo sợ ông bỏ tất cả mà đi, nhà thơ vui vẻ nói khi vẫn khoác áo bệnh nhân: "Cơ thể tôi hút nhiều thuốc và tia xạ nên đã đẩy được khoảng 70% cái bệnh ra ngoài rồi. Tôi không thể chết được đâu". Không những lấy lại tinh thần để xứng đáng với nguồn thơ đang căng đầy (hai tháng nằm điều trị ông làm gần 50 bài thơ), Đồng Đức Bốn còn có vẻ tươi trẻ hơn. Rồi ông ngắm mình trong gương buồn rầu: "Tóc rụng hết cả rồi! Cái anh hóa chất này đến lạ". Nhà thơ Bằng Việt cho rằng Đồng Đức Bốn đã thể hiện được cái tài hoa, độc đáo của mình bằng những câu lục bát đậm chất quê mùa nhưng lại ẩn chứa nhiều triết lý về thế thái, nhân tình. Nếu như mỗi bài thơ của Nguyễn Bính là một thể thống nhất, trọn vẹn không thể phá vỡ, thì mỗi câu lục bát của Đồng Đức Bốn đứng độc lập vẫn có giá trị như những câu tục ngữ, ca dao đã sống nghìn đời nay. Bản thân Đồng Đức Bốn cũng rất tự hào, bởi trong giai đoạn thơ ca chuyển mình, thời kỳ mà “ra ngõ gặp nhà thơ”, ông vẫn chung thủy với thể thơ dân gian và đã tạo nét riêng cho mình, không lẫn vào đâu được. Nhiều đồng nghiệp không ngại ngần đánh giá cao thơ Đồng Đức Bốn, cho rằng chính ông đã làm mới thể thơ lục bát bằng chất tình trong trẻo, nỗi đau đáu với đời và cả cái ngông của một kẻ sĩ. Đồng Đức Bốn nói ông làm thơ vì buồn. Đời ông có quá nhiều cái buồn đến nỗi tưởng như sẽ ngã quỵ. Hai đứa con ông lần lượt bỏ ra đi trong bi kịch... Đấy là chưa kể nỗi đau của bè bạn, cuộc sống chung quanh. Đồng Đức Bốn sinh ra trong một gia đình thuần nông. Tuổi thơ của ông tràn ngập những buổi chiều lang thang trên đồng cỏ hoe vàng, bắt châu chấu về nướng ăn hay tát cá mang ra chợ bán kiếm tiền. Mẹ ông là người phụ nữ chân đất nhưng thuộc nhiều ca dao, tục ngữ và những khúc hát ru. Cha ông cũng tập tọng làm thơ nhưng không thành. Đồng Đức Bốn là sự hoàn thiện của hai tâm hồn. Ông làm thơ từ năm 17 tuổi. Song mầm thơ ở chàng thanh niên quê mùa ấy vừa nhú đã lụi. Mới làm được vài bài thì ông không thể viết thêm gì nữa. Cũng có thể do phận nghèo đẩy đưa, chàng thanh niên xung phong không thể vơ vẩn với gió trăng được mãi, anh phải lo vật lộn với cuộc sống, làm đủ thứ nghề từ thợ gò, sửa chữa ôtô và cả... ký kết những hợp đồng kinh tế. Hai mươi năm sau, chính nhà thơ thổ lộ rằng, ông gặp một cô gái Hà Nội và cô đã đeo đẳng suốt cuộc đời thơ ông. Song cô cũng chỉ là một mồi lửa làm bùng lên nguồn thơ bấy lâu bị chôn chặt trong ông mà thôi. Đồng Đức Bốn làm thơ trở lại và ngay lập tức tỏa sáng, gần như một hiện tượng hiếm thấy trong làng thơ lúc ấy. Ông bảo: “Con người tôi đã nếm trải đủ mọi đắng cay ở đời rồi. Bây giờ chỉ chạm vào cây là ra quả, chạm vào lá là thành sương, vào dòng sông thì hóa phù sa”. Vì thế, nhiều lúc ông làm thơ như lên đồng, chỉ 4-5 phút đã cho ra đời một bài thơ. “Đó là những khoảnh khắc tôi hoá thân vào trời đất”. Làm thơ giúp ông nghĩ về cuộc đời tốt đẹp hơn. Đến nay, ông đã làm khoảng 600 bài thơ lục bát và 200 bài theo thể thơ tự do, trong đó có nhiều bài đặc sắc được coi là tác phẩm để đời như Chăn trâu đốt lửa, Chuồn chuồn cắn rốn biết bơi, Nhà quê, Chợ buồn, Trở về với mẹ ta thôi... Ông cũng đã kịp đoạt 6 giải thưởng về thơ. Đồng Đức Bốn tự nhận, trong ông tồn tại song song hai con người. Một con người thực mạnh mẽ, quyết liệt và độc đoán, sẵn sàng “choảng nhau” nếu thấy cần thiết. Một con người thơ, dịu dàng, đằm thắm, nhân hậu và đa tình. Con người thứ nhất bươn chải với sóng gió, chịu nhiều bấp bênh của số phận vì vậy quá tường tận “mánh khóe” cuộc đời. Con người ấy có thể mang trong mình những bộ mặt khác nhau, có thể xoay vần theo sự chuyển biến của xã hội. Con người thứ hai, đến già vẫn hồn nhiên như thủa ban đầu: "Tôi lấy trăng liềm làm bím tóc cho". Thế nên đọc thơ ông, ít người nghĩ chàng thi sĩ nhà quê ấy lại là một doanh nhân khá thành đạt. Với những nỗ lực, ông đã thay đổi cuộc sống bần nông của đại gia đình, từ nghèo khó, bằng lao động, trí lực của mình trở thành sang trọng trong xã hội. Có lẽ do làm nhiều việc quá mà ông đổ bệnh lúc nào không biết. Cứ tưởng đó là triệu chứng của người “đã toan về già”, ai ngờ đó là căn bệnh ung thư, có thể khiến ông ra đi bất cứ lúc nào. Vào viện, Đồng Đức Bốn vẫn vô tư "mệt thì mình làm thơ, mỗi bài thơ giải một độc tố ra khỏi cơ thể", bởi ông đang cần sống, đang còn "nợ cả mùa thu"...

(tổng hợp theo nhiều nguồn khác nhau)


Những bài thơ cuối cùng “Thơ giờ đã thành tiếng ru Thì nên giữ để ngàn thu vẫn còn” (Chợ đời mua bán dại khôn) “Cho người ta với người ta Bao nhiêu thù hận bỏ qua hận thù Thế rồi lại đến mùa thu Gió như Phật vẫn ngồi tu trên trời” (Gió như Phật vẫn ngồi tu trên trời). “Bây giờ con chẳng có gì Cúi đầu lạy mẹ con đi về trời Chỉ xin mẹ một tiếng cười Và câu hát thủa mẹ ngồi ru con... *** Bây giờ trời đổ cơn mưa Xa xa đã tiếng chuông chùa gọi con” (Mẹ ơi). “Trở về với mẹ ta thôi Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ”. *** “Trở về với suối với sông Trở về với đất với không có gì” *** "Tôi giờ về với trăng sao Xin trời một trận mưa rào đón tôi”. (Xin trời một trận mưa rào đón tôi).

TIỂU SỬ
Đồng Đức Bốn sinh năm 1948 ở ngoại ô Hải Phòng. Năm 1966, ông gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong. Sau đó, ông làm thợ cơ khí (bậc 6/7) tại Xí nghiệp Cơ giới của Tổng Công ty Xây dựng Bạch Đằng, Xí nghiệp Cơ khí 20-7 rồi làm đại diện cho Công ty Xuất nhập khẩu gia cầm Hải Phòng tại Hà Nội. Ông bắt đầu sáng tác thơ vào cuối những năm 1980, sau trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Tác phẩm thơ:
* Con ngựa trắng và rừng quả đắng. NXB Văn học, 1992
* Chăn trâu đốt lửa. NXB Lao động, 1993
* Trở về với mẹ ta thôi. NXB Hội nhà văn, 2000
* Cuối cùng vẫn còn dòng sông. NXB Hội nhà văn, 2000
* Chuông chùa kêu trong mưa, 2002
* Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc, 2006

Do bệnh ung thư phổi, Đồng Đức Bốn mất ngày 14 tháng 2 năm 2006 tại nhà riêng ở thôn Song Mai, xã An Hồng, huyện An Hải, TP Hải Phòng, khi mới 58 tuổi. Hôm đưa đám, trời đổ một trận mưa rào.