Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Thi ca > Nhà thơ Tam Xuyên (1860-1913)

Nhà thơ Tam Xuyên (1860-1913)

Cập nhật: Đông Tỉnh

Thứ Năm 5, Tháng Ba 2015

Tiểu sử

Thi sĩ Tam Xuyên tên thật là Tôn Thất Mỹ. Ông đa tài, mới 19 tuổi đã đỗ cử nhân, 28 tuổi làm Án sát Thanh Hóa. Cha là Thượng thư Tôn Thất Phan, một trong 3 đại thần ký Hòa ước Patenôtre 1884, lại từng kết án giam hoàng tử Bửu Lân nên lo sợ mà chết sau khi Bửu Lân lên ngôi vua Thành Thái. Triều Huế rồi cũng nhân Tôn Thất Mỹ mắc một lỗi nhỏ liền cách chức và tước sạch mọi phẩm hàm.

JPEG - 159.8 kb
Mộng Liên - Tam Xuyên. Tranh: Mạnh Quỳnh, 1941

Xuống làm dân đen Tam Xuyên lao vào cuộc đời phiêu dạt nay đây mai đó, kiếm sống bằng thơ. Giai thoại về ông có khá nhiều. Sau đây là một bài thể tập danh, mỗi dòng có âm của một chữ cái tiếng Pháp (ê, t, e, x, f, d, y, m), trong cặp thực và cặp luận còn nêu thêm bốn dấu thanh Quốc ngữ [1]:
Những ngậm ngùi xuân, dáng ủ ê,
Vì ai khăng khít nỗi riêng tê (t).
Huyền vi máy tạo e lời lậu,
Sắc sảo câu thơ ít (x) chữ đề.
Nặng gánh tương tư ngày ép (f) uổng,
Hỏi nơi kỳ ngộ dạ đê (đ) mê.
Trăm năm cốt cách còn y cũ,
Giấy rách, khuyên em (m) giữ lấy lề.

Nhờ bài thơ mà Tam Xuyên dù đã tứ tuần vẫn bén duyên tiểu thư Nguyễn Thị Oanh, ái nữ 17 tuổi của Tri phủ Nguyễn Đình Mai. Ông dạy nàng đàn hát và đặt cho các biệt hiệu Hải Đường, Mộng Đường, Mộng Liên.

Một bạn thân và họ hàng với Tam Xuyên là nhà thơ Mộng Phật Tôn Thất Diệm (1853-1922) từng mô tả cặp uyên ương này như sau:
Ba sông phảng phất cảnh năm hồ,
Một chiếc thuyền con với một cô.
Lấy chữ xàng xê làm bạn tác,
Giở câu á ớ lại thầy trò.
Trăng hôm, gió sớm, lời tan hợp,
Nước biếc, non xanh, chuyện nhỏ to.
Ngoài áng công danh nhiều lạc thú,
Phong tình tân lục đóng thành pho.

Thậm chí trong tập Vang bóng một thời do Tân Dân xuất bản tại Hà Nội năm 1940, Nguyễn Tuân đã lấy vợ chồng ông làm nguyên mẫu cho truyện tình Đánh thơ.

Năm 1910 vua Duy Tân xét thấy hoàng thân Tôn Thất Mỹ bị xử quá nặng nên khôi phục nguyên hàm Hồng lô tự thiếu khanh nhưng không chu cấp gì. Đã 51 tuổi lại móm, Tam Xuyên bèn tự trào bằng bài tứ tuyệt kiểu “thủ vĩ ngâm” đầy chua chát:
Không răng đi nữa cũng không răng [2]
Chỉ có thua người một miếng ăn.
Miễn được nguyên hàm nhai nhóp nhép,
Không răng đi nữa cũng không răng!

Năm 54 tuổi, Tam Xuyên đột tử trên đường đưa Mộng Liên ra Quảng Bình, đồn rằng bị… “thượng mã phong” trên đỉnh đèo Ngang. Một trong các chứng cứ là đôi câu đối thâm thúy của Thượng thư Nguyễn Hữu Bài (1863-1935):
Ra Bắc vào Nam, trăng gió đề huề thơ một túi
Lên đèo xuống ải, mây mưa đánh đổi cuộc trăm năm.

Đám tang ông được tổ chức trọng thể và nhiều người đến viếng. Còn Mộng Liên lặng lẽ quy y vào chùa Diệu Đức, trở thành ni sư Thích Nữ Tâm Châu. Mộ bà nay vẫn còn nguyên tại tổ đình Trúc Lâm ở Huế.

Tác phẩm

Sinh thời, Tam Xuyên có thể xuất khẩu thành chương với nhiều thể loại khác nhau. Tuy nhiên do bản tính nhà nho lãng tử ông không tập hợp, lưu giữ hoặc xuất bản tác phẩm. Chỉ nhờ những người hâm mộ mà phần nào thơ ông vẫn còn. Rất lâu sau khi Tam Xuyên mất, con trưởng của ông là An Sơn Tôn Thất Sung đã sưu tầm thơ của cha và ghi thành Tam Xuyên thi tập. Việt Thường có đem một phần bản thảo này in vào sách Người xưa, xuất bản tại Hà Nội năm 1941. Ngoài các bài ở trên, sau đây xin trích thêm vài bài.

Buổi sáng
(Thể “vĩ tam thanh”)

Tai nghe gà gáy tẻ tè te,
Bóng ác vừa lên hé hẻ hè.
Non một chồng cao von vót vót,
Hoa năm sắc nở lóe lòe loe.
Chim tình bầu bạn kia kìa kỉa,
Ong nghĩa vua tôi nhé nhẻ nhè.
Danh lợi mặc người ti tí tị,
Ngủ trưa chửa dậy khỏe khòe khoe.

Câu cá
(Thể tập danh) [3]

Rìu rịt năm canh xét phận mình,
Khoan nhân đất nước rộng thênh thênh.
Đã cam cui cút miền thôn dã,
Đâu dám chàng màng đám lợi danh.
Ống chỉ dọc ngang cùng nước biếc,
Cái ve nghiêng ngửa giữa trời xanh.
Đắn đo cho biết mùi trong đục,
Mới gọi rằng tay mực thước sành.

Đáp cô Đoài
(Thể tập danh) [4]

Vẻ ngọc càng [5] say, rượu ít [6] nồng,
Kìa ai vòng khảm đúc [7] hình dung.
Cấn [8] nơi quán khách e dầy [9] dụa,
Chấn [10] bức mành hoa những ước [11] mong.
Chiếc lá tốn [12] công dòng bích thủy,
Dấu bèo ly [13] hận ngọn đông phong,
Ngắm em xem chợ lời khôn hỏi [14],
Ngoảnh mặt non đoài mảnh ráng [15] hồng.

Tặng cô Khế
(Thể tập danh) [16]

Song the mơ ước bấy lâu xa,
Khế khoát duyên nay cũng mặn mà.
Trông thấy của chua tình quấn quýt,
Gẫm nghe lời ngọt bước cần cà.
Chát lòng vội vã [17] sao cho đáng,
Đắng chuyện dây dưa chút gọi là.
Lạt dạ chưa cam tường cội rễ,
Vườn hồng cay nỗi khách lân la.

Đông Tỉnh


[1Vì cô Oanh tân thời biết cả tiếng Pháp và Quốc ngữ.

[2Răng: tiếng Huế nghĩa là “sao”.

[3Trong mỗi câu có tên một đồ nghề thợ mộc: Rìu, khoan, cui, chàng, chỉ, ve, đục, thước.

[4Giai thoại: Cô Đoài ở làng Thanh Thủy có thách: – Anh nào làm nổi bài thất ngôn bát cú mà mỗi dòng có tên một quẻ Dịch và một loại bánh, em xin theo trọn đời. Cho dù phải phận lẽ mọn, em cũng hài lòng.

[5Quẻ Càn phát âm theo giọng Huế

[6Bánh ít.

[7Quẻ Khảm. Bánh đúc.

[8Quẻ Cấn.

[9Bánh dầy.

[10Quẻ Chấn.

[11Bánh ướt.

[12Bánh lá. Quẻ Tốn

[13Bánh bèo. Quẻ Ly.

[14Quẻ Khôn. Bánh hỏi.

[15Quẻ Đoài. Bánh rán.

[16Mỗi câu không chỉ có tên một thứ quả (mơ, khế, quýt, cà, vả, dưa, cam, hồng) mà còn cả một vị nữa (the, mặn, chua, ngọt, chát, đắng, lạt, cay).

[17Quả vả, phát âm giọng Huế.