Logo of this site

Home > Nhân văn > Hồi tưởng > Nhà văn Hà Ân: Người kể chuyện xưa

Nhà văn Hà Ân: Người kể chuyện xưa

Sunday 28 September 2008

Lần đầu tiên gặp nhà văn Hà Ân, cách đây đã bốn năm - để tìm hiểu rồi thực hiện một bộ phim tài liệu truyền hình về ông - phải thú thực, tôi hơi... thất vọng! Vì ông có một hình hài diện mạo thật khác xa với "bản phác thảo" chân dung mà tôi vốn dựng sẵn cho mình, trong tưởng tượng của mình, về một Hà Ân - tác giả của những trang truyện kể lịch sử đầy bóng kiếm, hoa đao, vó ngựa chốn biên thùy, buồm căng nơi biển lớn, tiếng thét Sát Thát chất chứa căm hờn của đoàn quân xung trận v.v...

Ông lại càng khác đến... một trời một vực nếu so với những gì nhà phê bình văn học Đoàn Hương đã tả (tôi nhớ không chính xác lắm, trong Lời giới thiệu cuốn Quận He khởi nghĩa thì phải) nào là cao lớn vạm vỡ, da ngăm đen, mái tóc gợn sóng, mặt vuông chữ điền, tiếng nói sang sảng.

Khác lắm. Ông gầy gò nhỏ bé, da mồi tóc bạc, đứng lên ngồi xuống hay đi lại đều khó khăn. Ông nói năng cũng khó khăn như thế. Đã vậy, một bên vai ông lại cứ nghiêng nghiêng, vai bên kia nhô lên nhọn hoắt dưới lần áo mỏng. Hỏi ra mới biết, ông vừa trải qua một cơn bạo bệnh, tưởng chết.

Dẫu sao thì cái ấn tượng ban đầu ấy với Hà Ân vẫn khiến tôi phải tự nhắc mình lần nữa, là không bao giờ được quên lời cảnh báo của tiểu thuyết gia người Pháp, Marcel Proust: rằng chẳng có cái nguyên tắc bất di bất dịch nào bắt buộc con người nhà văn trong tác phẩm phải là bản dập của con người nhà văn ngoài đời thực.

Thế nhưng, khi câu chuyện giữa chúng tôi "bắt" vào đề tài lịch sử và công việc viết truyện kể lịch sử, Hà Ân dường như bỗng vượt thoát khỏi cái hình hài già héo hiện tại của mình. Ông sôi nổi, nồng nhiệt và đầy hóm hỉnh.

Ông khiến tôi phải trộm nghĩ, mỗi nhà văn có một cái "tạng" riêng, và năng lực sáng tạo của mỗi người sẽ được giải phóng đến tận độ khi cái "tạng" riêng ấy tìm ra đúng mảnh đất thích hợp với nó. Với "tạng văn" Hà Ân, những thời đại trong quá khứ của dân tộc Việt Nam - mà ta vẫn quen gọi bằng một từ không mấy chính xác là "lịch sử" - có lẽ là mảnh đất thích hợp nhất.

Ông gần như chỉ viết về đề tài lịch sử. Trong khoảng thời gian từ năm 1962 đến năm 1995, ông đã viết tới ngót hai mươi cuốn truyện lịch sử, và không ít cuốn trong số đó đã nhiều lần tái bản, nhất là những cuốn viết về công cuộc kháng Nguyên oanh liệt của vương triều Trần (Bên bờ Thiên Mạc, Trăng nước Chương Dương, Trên sông truyền hịch, Người Thăng Long).

Hà Ân yêu thích lịch sử, điều đó đã hẳn. Nhưng nếu lí giải sự yêu thích này chỉ bằng (tôi nhấn mạnh) những công thức đã phần nào "bị yêu đến sờn mòn" của chúng ta, rằng nó bắt nguồn từ "niềm tự hào dân tộc", rằng nó đặt cứu cánh ở việc "giáo dục nhận thức và tình cảm cho thế hệ trẻ, để các em thêm hiểu và yêu quí cha ông", thì e là còn rất phiến diện.

Những nhà văn chuyên về đề tài lịch sử như Hà Ân, thực chất là những phi hành gia đã mạo hiểm lên tàu con thoi, ngược thời gian để trở về quá khứ: họ tìm kiếm sự thoả mãn cá nhân trong hành vi ngược nguồn mạo hiểm đó. Họ đổ bộ xuống những vùng đất trống, những vùng đất mà cơn lũ của những tháng năm, những thế kỉ đã cuốn phăng đi tất cả.

Nơi đó, bằng một ít tàn tích nửa thật nửa giả gom nhặt được, họ phải nối kết chúng, nhào nặn chúng, thổi hồn cho chúng, làm sống lại những bóng ma (sống được hay không và sinh động đến đâu, lại là chuyện khác).

Nói cách khác, so với những nhà văn viết về đề tài hiện đại, về cái ngày hôm nay còn tươi roi rói, người viết truyện lịch sử phải huy động một nguồn năng lượng tưởng tượng lớn hơn gấp nhiều lần. Vì vậy, phần nào đó, họ đã thế vai Chúa Trời trong tư cách người sáng tạo ra cả một thế giới. Và đây có thể chính là động lực lớn nhất để đưa Hà Ân, và những người như ông, tới tình yêu với lịch sử.

Dĩ nhiên, để tránh rơi quá sâu vào một thứ "chủ nghĩa duy tâm" nào đó, cũng xin nhắc rằng Hà Ân từng có thời gian (từ 1964 đến 1967) làm chuyên viên nghiên cứu lí luận của Bảo tàng Quân đội - một công việc đòi hỏi phải va chạm thường xuyên với hàng núi các tư liệu lịch sử, và biết đâu đấy, như vẫn thường xảy ra, tình yêu lại bắt đầu từ chính những tình thế bất khả kháng?

Tôi đã đọc phần tự bạch của Hà Ân trong cuốn Kỉ yếu Hội Nhà văn Việt Nam, ông có nói tới yêu cầu đặt ra đối với người sáng tác văn học về đề tài lịch sử: "Tiểu thuyết lịch sử đòi hỏi người viết phải có kiến thức rộng rãi chính xác của sử gia và có tưởng tượng sáng tạo vô cùng phong phú của tiểu thuyết gia".

Quan niệm không sai, nhưng cũng không có gì đặc biệt: đã có nhiều người và sẽ còn có nhiều người phát biểu như vậy. Tôi cố gặng hỏi chi tiết hơn nữa về chuyện "bếp núc" của một nhà văn chuyên viết truyện lịch sử, ông cười cười rồi lần đến bên chiếc tủ kê ở góc nhà, mở ra.

Đầy cả một khoang dưới tủ là những cuốn sách có bìa bọc bằng vỏ bao ximăng đã cũ, vàng vàng, đen đen, xộc xệch. "Đấy, muốn viết truyện lịch sử cho thật hấp dẫn, cần phải đọc những thứ này. Ông ấy mở ra rất nhiều điều thú vị", ông nói.

Tôi lật xem một vài cuốn: thì ra là "chưởng" Kim Dung! Xạ điêu anh hùng truyện, Thần điêu hiệp lữ, Tiếu ngạo giang hồ, Thiên Long bát bộ, Phi hồ ngoại truyện... trong tủ của Hà Ân có khoảng sáu, bảy bộ sách đã rách nát của Kim Dung tiên sinh - tên khai sinh là Tra Lương Dung - vị "minh chủ" tuyệt đối của thể loại tiểu thuyết kiếm hiệp. Hà Ân kể, sau ngày giải phóng miền Nam, ông vào Sài Gòn, vớ được "chưởng" Kim Dung, đọc rồi mê luôn.

Đến lúc trở về Hà Nội, ông đã phải tìm đủ cách để mang theo số sách này. Sau đó, trong nhiều năm, cái thư viện "chưởng" ở căn gác số 24 Nguyễn Quang Bích của ông đã phục vụ không ít những độc giả là văn gia thuộc vào loại "khét tiếng" của làng văn Hà thành. Vị nào đọc Kim Dung xong cũng tấm tắc khen cả. Có vị còn mượn đọc - từ "chuyên môn" gọi là "luyện chưởng" - tới vài lần cho "đã".

Thông tin này với tôi thực ra không lạ, vì "chưởng" Kim Dung từ lâu đã "phủ sóng" trên toàn thế giới; những hội thảo quốc tế về tác phẩm của Kim Dung, rồi sự xuất hiện của những nhà Kim Dung học ở nhiều quốc gia khác nhau, đó chính là những bằng cứ cho thấy "chưởng" Kim Dung có một sức hấp dẫn lớn đến thế nào.

Nhưng lạ một cái là ở ta, những lời thán phục của giới viết văn trước "chưởng" Kim Dung hầu như chỉ được thốt lên giữa lúc trà dư tửu hậu hay những khi thân hữu hàn huyên.

Không phải vì sợ - đã qua lâu rồi cái thời "chưởng" bị coi là hắc thư - mà có lẽ vì một nỗi ám ảnh, hoặc một lối nghĩ "khụng khiệng" dai dẳng: "chưởng", dẫu hấp dẫn đến thế nào thì cũng chỉ là sách giải trí, chỉ là một loại á văn học (paraliterature) mà thôi!

Nói dài dòng như vậy để thấy, với lời "thú nhận" kể trên, Hà Ân tỏ ra là một nhà văn đã vượt qua được định kiến để trở nên thành thực, thành thực với người và với chính mình. Mà, ngẫm cho kĩ thì phát ngôn của ông không phải là không có cơ sở.

Ai đã đọc truyện lịch sử của Hà Ân hẳn sẽ thấy trong truyện có khá nhiều trang miêu tả các nhân vật thi triển võ nghệ (cụ đô Uẩn, người lính cận vệ của An Sinh vương Trần Liễu, chẳng hạn) rất sinh động, rất hấp dẫn - mà những miêu tả kiểu này thì rõ ràng Kim Dung là một mẫu mực.

Hoặc, ở một nhân vật mà Hà Ân tâm đắc - Đỗ Vĩ, người được Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn sử dụng như một "điệp viên" của Đại Việt trên đất Nguyên - cứ nghĩ mà xem, ta sẽ nhận ra thấp thoáng bóng dáng của nhân vật quái kiệt Đào hoa đảo chủ, Đông tà Hoàng Dược Sư trong Xạ điêu anh hùng truyện và Thần điêu hiệp lữ: con người tài hoa rất mực, đàn ngọt, thơ hay, vẽ giỏi, võ nghệ siêu việt, mà hành tung thì luôn phiêu hốt bất định!

Nhắc tới nhân vật Đỗ Vĩ, cũng tức là nhắc tới một kỉ niệm không thể nào quên trong đời văn của Hà Ân. Số là, năm 1980, ông công bố phần đầu cuốn Người Thăng Long, với nhân vật trung tâm là Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật.

Ông dự định sẽ cho ra mắt bạn đọc phần cuối, với nhân vật trung tâm là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng, vào năm 1986. Ông mê nhân vật lịch sử này bởi cứ nghĩ đó là tác giả của bài Phóng cuồng ca với những câu rất mực cuồng phóng, ngạo đời, và thực tế là ông đã hoàn thành phần cuối cuốn truyện trên nền tảng các sự kiện xoay quanh tâm điểm là Trần Quốc Tảng.

Ai ngờ lúc ông chuẩn bị mang bản thảo đi in thì Tạp chí Văn học lại xuất hiện một bài khảo cứu, xác định rằng Phóng cuồng ca là tác phẩm của Tuệ trung thượng sĩ Trần Tung.

Cái tình thế tuế toái này, Hà Ân đã nói trong Lời mở đầu cuốn Khúc khải hoàn dang dở (NXB Hà Nội, 2002): "Thế là sụp đổ hết. Tôi định cứ công bố tác phẩm như vậy bất chấp về nghiên cứu là như thế nào. Trong lịch sử văn học thế giới đã chẳng có hiện tượng Koestler viết Spartacus, trong mỗi chương truyện đều có một câu đề từ trích từ sử biên niên, nhưng trong chương ông viết ngược lại với câu đề từ?

Nhưng rồi tôi không làm điều đó vì nó ngược với cách thường viết của tôi, là các mấu cớ phải là chuyện có thực trong lịch sử. Phải bỏ phần đó và tôi viết lại phần cuối".

Chỉ đến khi "gặp" Đỗ Vĩ - với một câu ngắn ngủn được ghi trong sử Trung Quốc, rằng ngày ấy tháng ấy năm ấy bắt được nội gián nước Việt tên là Đỗ Vĩ, đem giết - thì Hà Ân mới thực sự hoàn thành và cho ra mắt được phần cuối của cuốn Người Thăng Long. Quãng thời gian giữa hai phần của cuốn sách là 20 năm!

(Dĩ nhiên, nếu so với nửa thế kỉ mà Goethe đã bỏ ra để thai nghén tác phẩm Faust thì 20 năm còn là ít. Nhưng quả thực, cũng không nhiều nhà văn viết một cuốn sách mà phải mất từng ấy thời gian). Hẳn, từ chi tiết này, sẽ có nhiều người khen rằng Hà Ân là người cẩn trọng khi viết truyện về đề tài lịch sử, rằng ông tôn trọng sự thực như nó vốn có v.v và v.v...

Tôi thì nghĩ rằng ông là người dám đi đến cùng trong xác tín của mình. Ông bỏ - chính xác là đốt - phần bản thảo đã viết, để rồi phải vật vã suốt 20 năm mới hoàn thành cuốn sách, chính là vì cái xác tín này.

Và, phải nhìn thấy những giọt lệ lăn dài trên gò má nhăn nheo của nhà văn già khi ông gặp lại nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Huệ Chi, người đã công bố bài khảo cứu "định mệnh" về văn bản Phóng cuồng ca trên Tạp chí Văn học năm nào - tôi đã cố tình sắp đặt ra cái "xen" gặp gỡ này, nhưng không yêu cầu ông phải khóc, tất nhiên - tôi mới cảm thấu được sự tâm huyết mà ông đã dồn trút vào tác phẩm của mình.

"Đứa con tinh thần" - người ta thường nói như vậy về sản phẩm sáng tạo của người viết văn - dẫu đứa con ấy không là mĩ nhân nghiêng nước nghiêng thành, không là anh hùng lừng lẫy chiến công, không là tài năng siêu quần xuất chúng, thì nó vẫn cứ là cái đã rút ra từ máu thịt, từ tâm não của nhà văn. Những giọt lệ của Hà Ân, do vậy, hẳn phải mang đủ vị của cả đau khổ và hạnh phúc trong một cuộc vượt cạn văn chương?

Bộ phim tài liệu truyền hình về nhà văn Hà Ân, phải thú thực, được thực hiện với khá nhiều cảnh theo "khuôn khổ truyền thống của truyền hình". Nghĩa là, đã là nhà văn, thì phải có cảnh ông trầm tư trước trang giấy rồi viết vài ba hàng chữ gì đó, mà nhất thiết là phải viết vào ban đêm.

Nhà văn già, thì phải tạo ấn tượng rằng ông hết sức cô đơn - như thể cứ hễ già là phải cô đơn? - bằng cảnh ông chống gậy một mình dò dẫm trên vỉa hè, rồi khó nhọc leo lên cầu thang, bóng người xiêu vẹo in trên tường, trong ánh đèn vàng vọt (cũng cảnh đêm, tất nhiên).

Đại loại thế, âu cũng là một dạng sáo ngữ của hình ảnh và là kết quả tất yếu của một tư duy đạo diễn chưa thành hình. Có thể, những sắp đặt kiểu ấy cũng tạo ra được một chút chủ nghĩa... mủi lòng nào đó cho những khán giả giàu tình cảm, và nhờ thế, biết đâu họ yêu nhà văn hơn?

Nhưng với cá nhân tôi, tôi lại nhớ nhiều tới những giờ phút được một mình trò chuyện với Hà Ân. Bằng cách ấy, và chỉ bằng cách ấy, tôi mới thấy được rằng mình có dịp hiểu ông nhiều hơn sau khi đã đọc những tác phẩm ông viết, cũng như đã đọc những gì người ta viết về ông.

Nhiều người thường định danh Hà Ân là "nhà tiểu thuyết lịch sử", còn tôi, một cách thật giản dị, tôi muốn nói về ôn một cách thật giản dị, tôi muốn nói về ông như một người kể chuyện xưa đầy hào hứng và thú vị của bạn đọc ngày hôm nay.

Hoài Nam (CAND)