Trang nhà > Sáng tạo > Đổi mới > Nhật Bản sẽ biến đổi thành “quốc gia của dân nhập cư” ?

Nhật Bản sẽ biến đổi thành “quốc gia của dân nhập cư” ?

Thứ Tư 23, Tháng Bảy 2008

Ảnh: trẻ em Nhật tập chịu rét (AFP)

Thế kỷ XXI đang chứng kiến cuộc cải cách mở cửa lần thứ hai của nước Nhật – lần này họ mở cửa để đón nhận hàng chục triệu dân nhập cư từ nước ngoài.

Giới tinh hoa nước Nhật nói đây là một lựa chọn có tính tất yếu lịch sử. Báo chí phương Tây thì nói nước Nhật đang làm cuộc Duy Tân Minh Trị lần thứ hai – có điều đây là một cuộc cách mạng dân số. Hàng nghìn năm qua, nước Nhật chỉ có một dân tộc thuần nhất, và họ tự hào về điều đó. Bây giờ họ táo bạo vứt bỏ tư duy cũ, mạnh dạn”thay máu” dân tộc mình, tất cả chỉ vì sự sống còn của quốc gia này. Người Nhật vốn có truyền thống ham học hỏi cái mới; thế kỷ XIX họ đã dẫn đầu châu Á trong việc học tập văn minh phương Tây, bây giờ họ lại đi tiên phong lần nữa. Quyết định táo bạo này liệu có đúng hay không ?

Ngày 20-6-2008 vừa qua, hơn 80 Nghị sĩ Quốc hội thuộc đảng Tự do Dân chủ (LDP, đảng cầm quyền) Nhật trình lên Chính phủ đề án mở rộng diện nhận dân nhập cư từ nước ngoài, kiến nghị trước năm 2050 thực hiện tăng số người nước ngoài (NNN) định cư tại Nhật lên tới mức 10 triệu người. Thủ tướng Fukuda rất tán thành bản kiến nghị này và nói sẽ tích cực đẩy mạnh thực hiện việc chuyển đổi Nhật thành một “quốc gia của dân nhập cư”.

Truyền thống lo xa

Người Nhật vốn có truyền thống lo xa. Từ xưa, chính quyền và các nhà trí thức Nhật thường xuyên nhắc nhở dân chúng thấy rõ những nguy cơ như nước biển dâng sẽ nhấn chìm đảo quốc này, tình trạng thiếu tài nguyên, môi trường sinh tồn khó khăn, động đất và bão như cơm bữa … để mỗi người đều có ý thức tự lo xa. Ngay cả khi kinh tế phát triển cực kỳ ngoạn mục, người Nhật cũng chẳng hề tuyên truyền, huênh hoang tự ca ngợi mình; ngược lại, họ càng tỉnh táo, bình tĩnh hơn, luôn tự kiểm điểm bản thân và suy nghĩ lo xa – một điểm độc đáo làm cho người Nhật khác với nhiều dân tộc phương Đông và luôn dẫn đầu châu Á kể từ cuối thế kỷ XIX.

Đầu thập niên 70 thế kỷ XX, Nhật Bản vượt qua các nước Tây Âu, nhảy lên vị trí cường quốc kinh tế số 2 thế giới, nhưng hồi ấy người Nhật lại chẳng bàn bạc gì về kỳ tích này; ngược lại họ bàn nhiều về đề tài “Nhật Bản chìm đắm” – tên một tiểu thuyết khoa học viễn tưởng hai tập xuất bản năm 1975 của nhà văn Sakyo Komatsu [1]. Sách in mỗi tập 2 triệu bản, sau cải biên thành phim, thu hút gần 9 triệu lượt người xem, làm chấn động đảo quốc này. Ba chục năm sau, kinh tế Nhật lại tăng trưởng 5 năm liền, rất đáng phấn khởi, thế mà họ lại bỏ ra 2 tỷ Yên tái dựng phim “Nhật Bản chìm đắm”, có sử dụng công nghệ máy tính, lại được chính quyền và quân đội giúp dựng nhiều cảnh hấp dẫn hơn. Phim chiếu tại 316 rạp chiếu bóng trong cả nước; chỉ sau 3 ngày đã thu được 9 tỷ Yên tiền bán vé, một lần nữa làm chấn động xã hội Nhật. Đồng thời còn xuất bản một loạt tác phẩm tuyên truyền về các nguy cơ Nhật Bản đang đối mặt.

Giờ đây, người Nhật lại đang lo âu suy nghĩ về một nguy cơ mới có thể thực sự làm cho quốc gia này suy vong chứ không phải là chuyện viễn tưởng nữa.

Nhật Bản đang đứng trước nguy cơ dân số giảm dần, xã hội ngày càng già hóa và thiếu lực lượng lao động – cái gọi là “cuộc khủng hoảng dân số” này sẽ đe dọa sự tồn tại của nước Nhật với tư cách một quốc gia trên trái đất.

Khi Đại chiến II chấm dứt, Nhật có 80 triệu dân, năm 2004 lên tới đỉnh cao 128 triệu, từ năm sau số dân bắt đầu giảm. Theo tính toán, tới năm 2050 sẽ chỉ còn dưới 90 triệu và năm 2100 còn 64 triệu. Đó là do tỷ lệ sinh giảm mạnh trong nửa thế kỷ qua, thời gian 1950-1955 bằng 1,43%, thời gian 1990-1995 còn 0,31%, dù Nhà nước ra sức khuyến khích sinh đẻ, nhưng ngày càng có nhiều người lập gia đình muộn và thích sống độc thân. Tỷ lệ trẻ em thấp hiện tại sẽ là sự thiếu hụt lao động trong tương lai. Năm 2000, có 2/3 dân số Nhật ở độ tuổi lao động (từ 15 tới 64 tuổi); tới năm 2050 tỉ lệ này sẽ chỉ còn 50%.

Từ nửa cuối thập niên 80, nước Nhật chuyển sang tình trạng xã hội già hóa. “Sách Trắng xã hội cao tuổi” cho biết: đến 1-10-2007 Nhật có 27,46 triệu người già trên 65 tuổi, chiếm 21,5% số dân cả nước. Năm 2050 tỷ lệ người già sẽ lên tới 40,5%. Nếu năm 1960 đổ đồng 11 người đi làm nuôi 1 người nghỉ hưu thì chỉ tiêu này năm 2005 là 3,3 người; đến năm 2050 chỉ còn 1,3 người.

Để giải quyết nạn số người ở độ tuổi lao động giảm dần, người Nhật phải lựa chọn giữa hai con đường: một là tăng hiệu suất lao động, tăng giờ làm và kéo dài tuổi nghỉ hưu của người lao động; và một là nhập lao động nước ngoài (LĐNN).

Hiện nay số giờ lao động trung bình của người Nhật là 2100 giờ/năm; so với người Đức 1690 giờ và người Pháp 1650 giờ. Song họ không thể cứ mãi mãi làm việc cật lực như vậy. Quy luật chung là đời sống càng cao, người ta càng muốn nghỉ ngơi nhiều hơn. Kéo dài tuổi hưu trí cũng chỉ thêm được tối đa 5 năm và không thích hợp cho lao động nặng nhọc. Việc chế tạo người máy có giá thành quá cao và nhiều công việc không thể làm thay người. Rõ ràng, con đường thứ nhất là không hợp lý hợp tình.

Xã hội già hóa thiếu sức sống “sẽ không chỉ tác động tới nền kinh tế, công nghiệp hay xã hội, mà còn ảnh hưởng tới sự tồn tại của Nhật Bản với tư cách một quốc gia’’– báo cáo năm 2006 của Hội đồng chính sách sụt giảm tỉ lệ sinh của Nhật viết. Ngoài ra, chính sách an sinh xã hội sẽ khủng hoảng trầm trong vì thiếu người chăm sóc hàng chục triệu cụ già.

Quy mô khổng lồ của nền kinh tế Nhật đòi hỏi một lực lượng lao động cực lớn tham gia quá trình làm ra sản phẩm và dịch vụ; nếu số dân giảm, số người lao động giảm còn một nửa thì rõ ràng nền kinh tế sẽ có nguy cơ sụp đổ.

Khi số dân giảm, số người già (là những người ít tiêu dùng) tăng lên thì tiêu dùng trong nước sẽ giảm, làm cho sản xuất không thể phát triển vì hàng làm ra không tiêu thụ được. Nông thôn Nhật nhiều vùng hiện chỉ còn người già; trường học thiếu học sinh; dịch vụ giải trí không có khách; cửa hàng chỉ còn bán những thứ cần cho người già.

Giải pháp thoát khỏi khủng hoảng

Kết quả nghiên cứu nhiều năm của giới tinh anh Nhật cho thấy: để đối phó với nguy cơ nói trên, nước này chỉ còn một con đường duy nhất là tiếp nhận hàng chục triệu NNN tới định cư vĩnh viễn tại Nhật, biến nước này trở thành một “quốc gia quốc tế” được thế giới công nhận. Người Nhật gọi đó là chính sách “Di dân lập quốc”.

Muốn vậy phải mở cửa hơn nữa, nới rộng các điều lệ nhập cư. Điều này không dễ đối với nước Nhật, quốc gia chỉ có một dân tộc và nằm giữa biển, vốn không có nhiều dịp tiếp súc với NNN và thực sự không ưa sự tiếp súc đó. Một điều tra tháng 7-2007 cho thấy chỉ có 10% dân muốn tiếp súc với NNN sống cùng địa phương. Tại vùng phụ cận Tokyo, nơi có nhiều người Brazil, Peru và Trung Quốc đã sống ở đây trung bình 7-8 năm, 76% người Nhật nói họ muốn càng ít tiếp súc với NNN càng tốt. Trước đây không ít chính khách Nhật cho rằng việc nhập LĐNN là lợi bất cập hại vì sẽ tác động xấu tới thuần phong mỹ tục của xã hội Nhật vốn rất trọng các truyền thống đạo đức cổ xưa.

Thực ra, do thiếu lao động, từ thập niên 80 Nhật buộc phải tiếp nhận LĐNN, chủ yếu là lao động có kỹ thuật. Năm 2005, ở Nhật có khoảng gần 2 triệu NNN không có quốc tịch Nhật nhưng có thị thực nhập cảnh (visa) từ 3 tháng trở lên, chiếm 1,6% số dân nước này. Tỷ lệ dân nhập cư như vậy là rất thấp so với 4% ở Anh (số liệu năm 2003); 5,5% ở Pháp (1999); 9,7% ở Đức (2002); 12,1% ở Mỹ (2001, kể cả bất hợp pháp) và 21,8% ở Australia (2001). Các doanh nghiệp lớn ở Nhật sớm nhận thức được nhu câu nhận LĐNN. Báo cáo năm 2000 của Bộ Kinh tế và Xã hội Nhật nhận xét: để có thể duy trì số lượng người trong độ tuổi lao động như mức năm 1995 (87,2 triệu), trong giai đoạn từ 1995 đến 2050, Nhật cần có 33,5 triệu người nhập cư.

Tiếp nhận NNN không đơn thuần chỉ để bổ sung nguồn nhân công đang hao hụt mà còn là để bù đắp sự giảm số dân và duy trì mức tiêu dùng trong nước.

Để đối phó nạn giảm số dân, chính phủ cần ra sức nâng cao tỷ lệ sinh con và cung cấp đầy đủ dịch vụ nuôi dạy trẻ; nhưng việc này cần thời gian thực hiện rất lâu. Bởi vậy, ngoài việc tiếp nhận dân nhập cư từ nước khác ra, Nhật không còn biện pháp hữu hiệu nào khác để giải quyết cuộc khủng hoảng dân số.

Bản kiến nghị nêu rõ: - trong vòng 3 năm Quốc hội Nhật cần thông qua “Luật Nhập cư”, thành lập “Vụ Nhập cư” do Bộ trưởng Nội vụ chuyên trách; - trong vòng một năm cần tuyên bố trước thế giới là Nhật đã chuyển thành “Quốc gia dân nhập cư”.

Nhật sẽ xóa bỏ giới hạn giữa “lao động phổ thông” với “lao động kỹ thuật”. Trước đây Nhật chỉ nhận lao động có kỹ thuật. Từ nay sẽ xây dựng chính sách mới về tiếp nhận NNN, lập quy chế mới về đào tạo họ. Sẽ dạy nghề cho người nhập cư nhằm đồng thời giải quyết nạn thiếu nhân công và nạn thiếu học sinh của các trường học.

Sẽ mở các trung tâm văn hóa Nhật và trung tâm dạy tiếng Nhật trên khắp thế giới; sẽ đơn giản hóa thủ tục xin học ở Nhật; hoan nghênh NNN biết tiếng Nhật tới Nhật sống lâu dài. Ngày 1-5-2008, Nhật tuyên bố bắt đầu “Chính sách 300 nghìn lưu học sinh (LHS) nước ngoài”, và trước năm 2025 thực hiện mục tiêu có một triệu LHS.

NNN định cư vĩnh viễn tại Nhật khi sinh con thì đứa trẻ lập tức được cấp quốc tịch Nhật cho tới khi đủ 22 tuổi thì cho phép có hai quốc tịch; rút ngắn niên hạn tham gia chế độ dưỡng lão đối với NNN để khi về già họ có thể kịp thời nhận được lương hưu.

Phát động “Phong trào giáo dục xây dựng quốc gia dân nhập cư”

Nước Nhật thiếu kinh nghiệm tiếp nhận người nhập cư, đa số dân lại có thói quen tránh tiếp xúc với NNN. Bởi vậy, cần phải giáo dục cho dân chúng Nhật nhận thức được việc tiếp nhận NNN là để giải cứu nguy cơ của chính nước mình; cần xây dựng một xã hội sống chung nhiều dân tộc, cần biết tôn trọng các dân tộc khác, sống hoàn toàn bình đẳng với họ, tôn trọng văn hóa của các cộng đồng thiểu số. 

Gần đây nhiều cơ quan truyền thông Nhật đã nhận thức được việc chuyển nước mình thành “quốc gia của dân nhập cư” là một tất yếu lịch sử và bắt đầu tuyên truyền cho “Phong trào giáo dục xây dựng quốc gia của dân nhập cư” do Chính phủ phát động. Báo đài đang ra sức nêu cao nhận thức NNN “là vũ khí cuối cùng cứu vãn tình trạng thị trường tiêu dùng sút kém hiện nay”, dân nhập cư là nguồn cung cấp lao động cấp cao cho Nhật. Nhiều báo đài cũng nhấn mạnh việc hạn chế nhập cư sẽ làm cho ngành y tế và chăm sóc người già ở Nhật bị phá sản vì không có người làm việc này. Báo Asahi Simbun ngày 29-6 vừa rồi đăng nhiều kỳ đề tài “Đã tới lúc phải lựa chọn con đường mở cửa đất nước”, bài đầu tiên là “Chuẩn bị tâm lý để đi tới một xã hội của người nhập cư”. Gần đây nhiều nghị sĩ đã chuyển sang ủng hộ chính sách “Quốc gia nhập cư”.

Chính sách dân số mới của Nhật, quyết tâm của Chính phủ Nhật tìm mọi cách làm cho dân nhập cư từ nước ngoài có thể sống thoải mái về tinh thần và vật chất ở Nhật nhất định sẽ thu hút nhiều người nước ngoài tới định cư. Mới đây nước Nhật vừa long trọng kỷ niệm 100 năm di dân sang Brazil [2], và thấy việc di cư đó rất có lợi cho họ. Thập niên 30-40 thế kỷ trước, Nhật cũng đưa không ít dân sang TQ định cư. Nghe nói sau khi quân Nhật vào Việt Nam, chính quyền Nhật từng đưa một số phụ nữ họ sang ta để lấy chồng người Việt trong giới quan chức, trí thức. Rõ ràng, nhiều nước phương Tây đã đi đầu trong việc nhận dân nước ngoài tới nhập cư và kết quả cho thấy lợi nhiều hơn hại [3].

*

* *

Trong thế kỷ XXI, số dân thế giới sẽ lên tới 10 tỷ người, tăng chủ yếu tại các nước đang phát triển. Rõ ràng sẽ xuất hiện làn sóng di cư từ các nước này sang các nước phát triển. Không ít nước thuộc thế giới thứ ba đã biết nắm lấy cơ hội này, chủ động đưa dân di cư sang các nước giàu.

Việt Nam hiện đang cần xuất khẩu nhiều lao động phổ thông, nhất là lao động nông thôn dư thừa sau khi dành ruộng đất cho công nghiệp hóa và đô thị hóa, dĩ nhiên không nên bỏ qua dịp thuận lợi khi nước Nhật mở cửa đón NNN; chúng ta cần nghiên cứu các chính sách nhập cư của Nhật để từ đó tìm cách đưa thật nhiều người Việt sang Nhật định cư nhằm “thay máu” dân tộc mình như nước Nhật từng dám làm. Thời gian qua, TQ đã tăng cường đưa người sang đảo quốc nhỏ bé này; hiện có 606.889 người TQ sống có đăng ký tại Nhật, đông nhất (chiếm 28,2%) trong cộng đồng người nước ngoài ở đảo quốc này, vượt qua cộng đồng người Triều Tiên (cả hai miền nam bắc Triều), và đang tăng với tốc độ cao. Hàng năm có hơn 10 nghìn phụ nữ TQ lấy chồng Nhật; số lượng cô dâu TQ tăng nhanh, trong hai chục năm qua các cặp vợ TQ chồng Nhật này đã sinh được 60.779 con. Không thể nói đó là sự tăng trưởng ngẫu nhiên; người TQ biết nhìn xa lắm ! Lẽ nào Việt Nam luôn chỉ đi sau họ (thí dụ: chúng ta đã giúp được gì cho các cô gái Việt Nam muốn lấy chồng nước ngoài) ?

Nguyễn Hải Hoành

Tài liệu tham khảo:
- Japan Moves To New Immigration Policy. www.theimpudentobserver.com.;
- A new framework for Japan’s immigration policies. Hidenon Sakanaka;
- The coming internationalization: Can Japan assimilate its immigrants? Arudou Bebito;
- một số websites nước ngoài.


Xem online : Ba cái đáng sợ của người Nhật


[1Tên sách tiếng Nhật: Nihon chinbotsu, tiếng Anh: Sinking of Japan; chủ đề xoay quanh việc một đảo lớn của Nhật bỗng dưng sau một đêm bị nước biển nhấn chìm, các đảo khác trong cả nước cũng có cùng nguy cơ; nhà nước và nhân dân ra sức điều tra nguyên nhân và đối phó, ứng cứu. 4 đảo lớn chiếm 98% diện tích trong tổng số hơn 6800 hòn đảo của Nhật.

[2Ngày 18-6-1908, tốp người Nhật đầu tiên di cư đến Brazil để làm thuê trong các đồn điền cà phê. Năm 1940 đã có 164 nghìn người Nhật sống tại đây; nay lên đến 1,5 triệu (kể cả con lai với người bản xứ); là cộng đồng người Nhật lớn nhất ở nước ngoài. Không ít người Nhật thành công ở Nam Mỹ: một người từng được bầu làm Tổng thống Peru; nhiều người thành công lớn về kiến trúc, nghệ thuật.

[3Một số nước vốn có tinh thần dân tộc rất cao như Đức cũng buộc phải nhận hàng triệu dân Thổ Nhĩ Kỳ (hiện chiếm hơn 2% dân số Đức) và hiện nay đang sống hòa hợp với họ dù họ mang lại khá nhiều rắc rối. Nước Mỹ đang vất vả đối phó với dòng người nhập cư từ Mexico, nhưng nếu không có số nhân công Mexico ấy thì ai sẽ làm những việc người Mỹ ngày nay không muốn làm và không làm xuể, như thu hoạch mùa màng … Thói xấu bài ngoại hiện đang lan sang Nga, nơi số dân đang giảm mạnh; chắc là Nga sẽ cũng phải đi theo con đường mở cửa nhận dân nhập cư. Thực tế cho thấy giảm số dân không phải là cách tốt nhất để giảm tỷ lệ thất nghiệp.