Trang nhà > Nghệ thuật > Âm nhạc > Nhật ký Lỗ Khê: Một truyền thống dân gian đang tàn lụi nhưng giai điệu còn (...)

Lo Khe Journal: A Folk Tradition Fades, but the Melody Lingers On

Nhật ký Lỗ Khê: Một truyền thống dân gian đang tàn lụi nhưng giai điệu còn vương

Thứ Năm 1, Tháng Giêng 2009

Dân làng Lỗ Khê (xã Liên Hà, Đông Anh, Hà Nội) còn giữ được một bản Thần tích tổ Ca trù Lỗ Khê được Đông các đại học sĩ Đào Cử phụng soạn vào năm Hồng Đức thứ 7 (1476) và đến năm thứ 6 niên hiệu Vĩnh Hựu (1740) lại được quan Quản giám bách thần tri điện Hùng lĩnh thiếu khanh Nguyễn Hiền sao lại.

Đêm đã về khuya, khi sự yên ắng của xóm làng và sự trống vắng trong cái chòi bằng gạch của mình đã quá sức chịu đựng, bà Phạm thị Mùi bắt đầu hát, những bài hát quen thuộc của tổ tiên bà, chúng đưa bà trở về với quá khứ vàng son. Sau khi chồng qua đời và con cái đều đã lớn, bà Mùi, năm nay 85 tuổi, chỉ còn lại một mình trong bóng tối trên chiếc phản gỗ với người bạn duy nhất là quá khứ. Bà hát về những ông vua bà hoàng, bà hát về tình yêu và nỗi cô đơn, về những cuộc chiến chinh và những thời thái bình, dùng đầu ngón tay gõ theo những tiết tấu khoan thai của bài hát.

— “Ban ngày thì không sao”, bà nói, “vì có nhiều người xung quanh. Nhưng đêm đến, tôi không sao tránh được nỗi buồn. Đó là lúc tôi hát. Nếu có sức, tôi có thể hát suốt cả đêm.”

Có lẽ bà phải cần nhiều đêm như thế để hát hết những bài bản bà biết. Bà Mùi là một trong những nghệ nhân cuối cùng còn sống của Ca Trù, một hình thức ngâm thơ có lịch sử hơn 600 năm, đã có thời rất phổ biến, gợi cảm hứng cho nhiều vần thơ nổi tiếng, thu hút khá nhiều người đến với những cuộc thi hát.

JPEG - 29.3 kb
Hội thảo quốc tế 2006 về ca trù

Nó là một trong những hình thức nghệ thuật truyền thống đang bị mai một mà Việt Nam đang nỗ lực bảo tồn khi thế giới văn minh hiện đại đã phủ bóng lên chúng.

Đã có thời bà Mùi được những vị quan lớn cho mời vào cung để hát, đó là thời bà còn trẻ trung và xinh đẹp, khi bà còn biết chơi chữ và mua vui cho quan khách. Giờ đây, khán giả của bà đã đi hết. Và bà biết rằng một khi bà nhắm mắt xuôi tay, nghệ thuật của bà cũng theo bà mà đi.

— “Chẳng còn lại ai như tôi cả”, bà nói, “Có quá nhiều thứ để dạy, quá nhiều thứ phải bảo tồn, quá nhiều việc phải làm, quá nhiều làn điệu khác nhau. Cho dù nếu tôi có thể dạy, tôi cũng chẳng bao giờ có thể dạy hết được. Và ai sẽ nghe Ca Trù đây?”

Ba thập kỷ chiến tranh đã cách ly Việt Nam khỏi những biến động về văn hoá, những thứ hiện đang lan tràn trên đất nước này. Nhưng chiến tranh cũng đã đẩy nhanh quá trình suy vong của nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống.

— “Đó là thời chiến tranh”, bà Nguyễn Thị Sen, con gái bà Mùi, 43 tuổi, hiện sống gần đó, nói “Chẳng ai nghĩ đến chuyện hát hò. Nếu không có chiến tranh, Ca Trù có lẽ sẽ còn phổ biến hiện nay. Bom rồi đạn, còn đâu chỗ cho Ca Trù. Nó đã chết 30 năm trước rồi.”

Bản thân bà Mùi cũng đã thôi biểu diễn, vất vả với cuộc mưu sinh. “Tôi cứ nghĩ là tôi quên hết rồi. Nhưng tôi nhận ra là tôi còn nhớ”, bà nói. Chiến tranh cũng là đứt mạch của một gia đình có truyền thống 4 đời làm ca nương, bắt đầu từ thời bà cố của bà Mùi. Bà Sen, con gái bà Mùi, chưa bao giờ có cơ hội học hát Ca Trù, và giờ đây, bà là một nông dân như bao phụ nữ khác trong cái làng này, suốt ngày bận bịu với lợn gà trâu bò.

— “Tôi có thể hát được một vài làn điệu. Nhưng mà chỉ là để cho mỗi một mình tôi thôi,” bà nói, “Nó cũng giống như làm ruộng ý mà. Nếu tôi gieo hạt thì rồi nó sẽ nẩy mầm.”

Rồi sau đó, cách đây 4 năm, một điều kỳ diệu đã xẩy đến với bà Mùi. Lan, đứa cháu 12 tuổi của bà, khi đang ngồi cạnh mâm cơm giữa nhà, đã dùng đũa gõ nhịp ca trù và bắt đầu tự hát.

Lan, năm nay 16 tuổi, nói: “Cháu cũng chẳng hiểu tại sao nữa. Cháu nghe bà cháu hát và cháu thuộc. Dễ ý mà”

Trong căn nhà tồi tàn tối tăm, với mùi bùn đất lưu cữu, nơi những người đàn bà lớn tuổi với những chiếc khăn vấn đầu màu đen tụ tập nói chuyện, Lan như là một tia sáng nhỏ với chiếc áo trắng và nụ cuời trên môi.

— “Ôi! Cháu mệt quá”, Lan nói một cách hạnh phúc khi cô bước vào nhà, sà xuống cạnh bà Mùi với sự tự tin của một đứa cháu vốn được cưng chiều. “Đường sá thật là khủng khiếp”. Cô mới trở về bằng xe máy, một tiếng đồng hồ trên con đường bụi bặm băng qua những cánh đồng từ Hà nội ồn ã, nơi cô biểu diễn một vài tiết mục Ca Trù cho một hội chợ.

Cách đây chưa lâu, cô nói, cô đã từ chối biểu diễn trong trường học bởi vì chẳng có đứa bạn cùng lớp nào của cô thích nghe thứ âm nhạc cũ kỹ này cả. “Bọn nó chỉ thích nghe nhạc Pop thôi”, cô nói tiếp, “Chỉ có người già mới thích nghe cháu hát.”

Và cũng không nhiều người như thế. Có lẽ chỉ có khoảng gần 30 người lớn tuổi tụ tập trong một ngôi đền ở Hà nội vào các ngày Chủ nhật cuối cùng hằng tháng để thưởng thức ca trù. Thỉnh thoảng bà Mùi cũng đến đó biểu diễn. Nhưng những gì chứng kiến ở đó cho bà rất ít hy vọng.

— “Hãy nói tôi nghe, liệu loại âm nhạc này sẽ còn mãi?”, bà nói, “Nếu như nó bền, tôi sẽ cố gắng hơn nữa để dạy cho lớp trẻ. Nhưng tôi sợ rằng nó sẽ không còn được lâu bền nữa đâu. Mà thậm chí nếu tôi dạy cho những đứa bé nhất, liệu những ai rồi đây sẽ là khán giả của chúng?”

Lan, đứa cháu của bà, chuẩn bị cau trầu cho bà và những người bạn. Cô bổ cau, trộn chúng với vôi trắng và gói chúng bằng những chiếc lá cay nồng. Khi những vị khách lớn tuổi đã lăn ra ngủ trên chiếc phản gỗ, bà Mùi bắt đầu lặng lẽ hát, bà hát một làn điệu cổ nói về rượu, về sự giao duyên và niềm vui của mối thâm tình.

— “Đợi đã! Đợi đã bà ơi!”, đứa cháu hét lên, vội vàng chạy đến tủ lấy vở và bút. “Được rồi bà ạ! Bà hát lại đi!”

Khi bà Mùi hát, Lan bắt đầu ghi chép, môi cô mấp máy trong sự tập trung cao độ.

— “Chậm lại tí bà ơi! Bà hát nhanh quá!” cô yêu cầu.

Nhưng bà Mùi không dừng lại. “Bà phải hát như thế này! Đó là cách duy nhất để bà có thể nhớ lời!” Bà Mùi nói.

Và cuối cùng, khi bài hát kết thúc, Lan đặt quyển vở xuống chiếc bàn cạnh cơi trầu. Và khi những vị khách lớn tuổi vẫn đang chợp mắt trên chiếc giường bên cạnh, hai bà cháu ngồi đó, mãn nguyện, họ cùng nhau mỉm cười.

Một ngọn gió chiều se lạnh lùa qua khung cửa sổ nhỏ. Trên những đồng lúa phù nhiêu xanh mướt xung quang làng, lẫn trong tiếng rả rích của ếch nhái là thấp thoáng những người nông dân với chiếc nón trên đầu.

Phía trên họ là những chiếc xe tải và xe buýt nối đuôi nhau trên con đường bụi bặm tiến về Hà Nội và tiếng còi của chúng theo gió vẳng lại từ phía xa.

Nguyễn Tố Nguyên dịch


Xem online : New York Times, March 22, 2001