Logo of this site

Home > Vui sống > Cổ vật > Những đồng tiền thời Trần và hệ quả

Những đồng tiền thời Trần và hệ quả

Tuesday 17 August 2010

Nhà Trần chỉ kéo dài 176 năm (1225 - 1400), nhưng cho đúc và sử dụng đồng tiền nhiều hơn, rộng rãi hơn thời Lý...

Những lần đúc tiền

Những hoạt động nội thương và ngoại thương được xây dựng đặt tiền đề cơ sở từ thời Lý đến triều Trần đã phát huy tác dụng. Trong 13 vua đời Trần có 5 đời vua cho đúc tiền, có vua cho đúc nhiều lần với số lượng lớn. Đó là những thời điểm bước ngoặt trong đời sống kinh tế cộng đồng, số tiền đúc ra đã góp phần làm ổn định xã hội, tăng cường ngân khố quốc gia, tạo nên sức mạnh cho nền kinh tế.

  • 1. Trần Thái Tông (1226 - 1258) lên ngôi kế thừa di sản cuối mùa của vương triều Lý với nền kinh tế suy đốn, kho tàng trống rỗng vì loạn lạc. Để phục hưng kinh tế sau khi ổn định xã hội, Trần Thái Tông cho điều chỉnh giá trị đồng tiền và đúc tiền lưu hành.

Sử cũ ghi lại năm 1226: "Xuống chiếu cho dân gian dùng tiền "tỉnh bách" mỗi tiền là 69 đồng. Tiền nộp cho Nhà nước (tiền thượng cung) thì mỗi tiền là 70 đồng" (trích Đại Việt sử ký toàn thư tập II, tr 9). Hơn 30 năm cầm quyền với 3 niên hiệu, Trần Thái Tông đã nhiều lần cho đúc tiền mang 3 niên hiệu của thời đại. Hiện nay khảo cổ học còn tìm thấy 3 niên hiệu tiền thời Trần Thái Tông.

— Niên hiệu Kiến Trung (1226 - 1232) là tiền Kiến Trung thông bảo. Tiền đúc hình tròn, đường kính 2,1 - 2,14cm. Vành biên hơi rộng, phẳng. Giữa lỗ vuông có gờ nổi. Mặt trước chữ viết đối xứng qua tâm. Cách đọc tròn theo chiều kim đồng hồ. Mặt sau phẳng.

Chính Bình thông bảo

— Niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình (1232 - 1251) đúc tiền Chính Bình thông bảo. Tiền đúc hình tròn. Vành biên rộng phẳng, giữa có lỗ vuông. Mặt trước chữ viết đối xứng qua tâm. Cách đọc vòng tròn theo chiều kim đồng hồ. Mặt sau trơn phẳng.

— Niên hiệu Nguyên Phong (1251 - 1258) đúc tiền Nguyên Phong thông bảo. Tiền đúc hình tròn. Vành biên rộng, giữa có lỗ vuông. Mặt trước chữ viết đối xứng qua tâm. Chữ có hai loại chữ chân và chữ thảo, điều này cho thấy đồng tiền này có hai lần đúc hoặc khi đúc sử dụng hai khuôn khác nhau. Cách đọc vòng tròn theo chiều kim đồng hồ. Mặt sau trơn phẳng.

  • 2. Trần Thánh Tông (1258 - 1278) ở ngôi 20 năm có hai niên hiệu là Thiệu Long và Bảo Phù. Hiện nay mới tìm được tiền Thiệu Long thông bảo. Tiền đúc hình tròn, vành biên rộng phẳng, giữa có lỗ vuông. Mặt trước chữ viết đối xứng qua tâm, cách đọc vòng tròn theo chiều kim đồng hồ. Mặt sau phẳng nhẵn. Đây là đồng tiền duy nhất được đúc dưới thời Trần Thánh Tông.
  • 3. Các đời vua Trần Nhân Tông (1278 - 1293), Trần Anh Tông (1293 - 1314) không thấy sử cũ ghi lại việc đúc tiền tệ và cũng chưa tìm được đồng tiền đúc vào thời này.

Đến thời vua Trần Minh Tông (1314 - 1329), nhà Trần lại tiến hành đúc tiền cho lưu thông ngoài xã hội. Niên hiệu Khai Thái (1324 - 1329) nhà Trần cho đúc tiền Khai Thái nguyên bảo. Tiền đúc hình tròn, đường kính 2,37cm, vành biên rộng phẳng, giữa có hình vuông có gờ, lỗ hơi tròn. Mặt trước chữ viết đối xứng qua tâm, cách đọc trên trước, dưới sau và phải trước, trái sau. Mặt sau tiền Khai Thái nguyên bảo có hai loại, một loại mặt sau trơn phẳng và một loại mặt sau trơn nhưng có chữ Trần. Thực tế Thượng hoàng Minh Tông tiếp tục trị vì cả trong đời vua con Trần Hiến Tông (1329 - 1341, chết non ở tuổi 23).

Đại Trị nguyên bảo

  • 4. Trần Dụ Tông (1341 - 1369) là vua Trần đúc nhiều tiền nhất, nhiều lần đúc với số lượng lớn. Niên hiệu Thiệu Phong (1341 - 1357) có hai lần đúc tiền: Thiệu Phong nguyên bảo và Thiệu Phong thông bảo.

Tiền Thiệu Phong nguyên bảo có đến 4 loại khác nhau. Điều này cho thấy có khả năng Nhà nước có 4 xưởng đúc tiền khác nhau, hoặc 4 lần đúc loại tiền này với thời gian khác nhau. Tiền Thiệu Phong thông bảo có đến 20 loại khác nhau đã cho thấy nhu cầu sử dụng tiền và đúc tiền rất rầm rộ, trước nhu cầu đòi hỏi của sự phát triển kinh tế.

Niên hiệu Đại Trị (1358 - 1369) Trần Dụ Tông lại cho đúc liên tiếp các đồng tiền Đại Trị nguyên bảo; Đại Trị thông bảo. Tiền Đại trị nguyên bảo có đến 5 loại tiền với các lối chữ viết khác nhau.

Tiền Đại Trị thông bảo còn phong phú hơn với nhiều loại. Những đồng tiền này cơ bản có kích thước giống nhau, đường kính 2,35 - 2,38cm. Mặt trước viết chữ, cách đọc trên dưới, phải trái.

Đại Trị thông bảo

  • 5. Dương Nhật Lễ lên ngôi lấy niên hiệu Đại Định (1369 - 1370), ông đã cho đúc tiền Đại Định thông bảo. Tiền Đại Định thông bảo được đúc hình dáng và kích thước như các đồng tiền thời Trần khác.

Tiền hình tròn, giữa có lỗ vuông. Mặt trước chữ viết đối xứng qua tâm, cách đọc trên trước dưới sau, phải trước trái sau, nét chữ sắc sảo. Mặt sau để trơn nhẵn.

  • 6. Trần Nghệ Tông (1370 - 1372), niên hiệu Thiệu Khánh ông cho đúc tiền Thiệu Khánh thông bảo. Đồng tiền này được sử liệu ghi chép, nhưng cho đến nay còn lại rất hiếm hoi.

Đại Định thông bảo

Nội, ngoại thương phát triển

Có tiền, kinh tế hàng hoá phát triển, các ngành sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, mua bán ngoại thương được đẩy mạnh. Đồng tiền được sử dụng mua bán ruộng đất. Năm 1253, Nhà nước "bán ruộng công, mỗi diện là 5 quan tiền (bấy giờ mẫu gọi là diện) cho phép nhân dân mua làm ruộng tư". Năm 1266, "Xuống chiếu cho vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập dân phiêu tán không có sản nghiệp làm nô tì để khai khẩn ruộng bỏ hoang thành lập điền trang".

Tiền góp phần phát triển hoạt động kinh doanh thương nghiệp trong nước. Hệ thống chợ phát triển rộng rãi khắp nơi, từ kinh kỳ đến thôn quê. Sứ nhà Nguyên Trần Phu cho biết: "Chợ ở thôn xóm hai tháng họp một lần, trăm thứ hàng hoá tụ họp ở đây. Cứ năm dặm thì dựng một cái nhà, bốn mặt đều đặt chõng để làm nơi họp chợ". Hoạt động thương mại góp phần kích thích nền sản xuất hàng hoá phát triển.

Tiền được sử dụng trong hoạt động ngoại thương buôn bán với thương nhân nước ngoài. Ngoài thương cảng Vân Đồn (Quảng Ninh) xuất hiện từ thời Lý do Nhà nước kiểm soát thì các thương cảng ven biển cũng hoạt động khá sôi nổi như cảng Diễn Châu (Nghệ An), Hội Thống (Hà Tĩnh).

An Nam tức sự của Trần Phu cho biết: "Phủ Thanh Hoá... cách thành Giao Châu hơn hai trăm dặm. Các thuyền phiên hải ngoại tụ tập ở đấy, họp chợ ngay trên thuyền rất đông... với lái buôn các nước Xiêm, Java, Lộ Hạc, Hồi Hột; đặc biệt là các thương nhân Trung Quốc".

Sự tác quái của đồng tiền

Để kích thích nền thương nghiệp phát triển, nhà Trần luôn cho đúc tiền bổ sung. Nhiều ngành nghề liên quan đến tiền xuất hiện như đánh bạc, cầm cố, cho vay nặng lãi, mua bán chức tước, phạt lỗi quan lại... chứng tỏ đồng tiền đã phát huy tác dụng và chi phối đời sống xã hội khá sâu sắc. Đồng tiền cũng góp phần làm tha hoá một bộ phận cư dân cho đến vua quan trong xã hội.

Năm 1362, vua "gọi các nhà giàu trong nước như ở làng Đình Bảng thuộc Bắc Giang, làng Nga Đình thuộc Quốc Oai vào cung đánh bạc. Có tiếng bạc đặt tới 300 quan tiền, ba tiếng thì đã tới gần nghìn quan rồi".

Các quan cũng đua nhau đánh bạc "thua vài chục quan là vò đầu bứt tóc khổ sở". Quan hệ tiền tệ đã kích thích sự phát triển nền kinh tế trong các lĩnh vực công và ngược lại sự tác quái của đồng tiền cũng xuất hiện chi phối đời sống của con người.

Cuối thời Trần vào thế kỷ XIV, xã hội phong kiến lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng. Kinh tế dần suy yếu. Thiên tai địch hoạ luôn xảy ra, các cuộc chiến tranh với Chiêm Thành và Ai Lao kéo dài liên miên làm cho vương triều Trần dần suy yếu. Hồ Quý Ly dần tập hợp lực lượng, thâu tóm quyền hành, tạo ra những uy thế đầu tiên để dần nắm lấy chính quyền.

Năm 1400, Hồ Quý Ly truất ngôi vua Trần Thiếu Đế, tự lập làm vua, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên, đổi quốc hiệu là Đại Ngu. Trong 7 năm ở ngôi, Quý Ly đã thực hiện nhiều cuộc cải cách kinh tế, trong đó có cải cách tiền tệ, dùng tiền giấy, đánh dấu một chương mới trong lịch sử tiền tệ Việt Nam.

Theo Lê Đình Phụng (BEE)


View online : Thái Bình hưng bảo: đồng tiền đầu tiên của Việt Nam