Xem lẹ

Trang nhà > Xã hội > Kinh tế > Ổn định hệ thống ngân hàng: Bài học từ Trung Quốc và Mỹ

Ổn định hệ thống ngân hàng: Bài học từ Trung Quốc và Mỹ

Thứ Tư 25, Tháng Sáu 2008

Hệ thống ngân hàng là huyết mạch của một nền kinh tế. Huyết mạch có thông, ổn định thì kinh tế mới mạnh. Nền tảng ổn định vững mạnh của hệ thống ngân hàng là lòng tin của người ký thác tiền gửi đối với ngân hàng: họ nhận được lãi suất theo thỏa thuận và không phải chịu rủi ro cho đồng tiền mà họ đã ký thác, tức là sẽ nhận lại được đầy đủ số tiền đã gửi cộng với lãi suất đã định.

Như vậy, chức năng của ngân hàng thương mại là kinh doanh đồng tiền ký thác với mục tiêu làm ra lợi nhuận chấp nhận được với độ rủi ro thấp nhất, để đảm bảo khả năng hoàn trả đủ cả vốn và lãi cho người gửi tiền và tích lũy để tự phát triển.

Đó cũng là quy tắc cơ bản nhất cho một hoạt động ngân hàng thương mại, là chuẩn để giúp ngân hàng thương mại định hướng hoạt động.

Trung Quốc đã vượt qua một giai đoạn thử thách trong những năm 1995-2000. Chính sách thả lỏng tín dụng và đầu tư công vượt mức đã gây ra lạm phát lên đến 25%/năm; hệ thống ngân hàng bị khủng hoảng cụ thể là tỷ lệ nợ khó đòi của một số ngân hàng quốc doanh so với tổng nợ lên đến gần 50%. Do đó, bài học của Trung Quốc và cả của Mỹ đáng để chúng ta suy ngẫm.

Bài học Trung Quốc

Sau gần 20 năm phát triển “nóng” (từ 1978 đến 1995), Trung Quốc đã đạt được những thành quả nhất định và mạnh dạn thả lỏng tín dụng, tăng đầu tư công để mong đạt được một bước tăng trưởng nhảy vọt, chuẩn bị cho giai đoạn hội nhập toàn cầu toàn diện khi gia nhập vào WTO ngay đầu thiên niên kỷ mới. Nhiều tiền sinh ra nhiều tật, những chính sách này đã phát sinh ra vô số tiêu cực trong đầu tư, từ phía ngân hàng và các tổng công ty nhà nước.

Phần lớn tín dụng đã được đổ vào lĩnh vực nhà đất, gây nên phong trào đầu cơ và cơn sốt giá nhà đất, dẫn đến lạm phát lên đến 25%/năm. Đứng trước nguy cơ khủng hoảng có thể làm cho Trung Quốc tụt hậu nhiều năm, mất cơ hội hội nhập và cạnh tranh quốc tế, lãnh đạo Nhà nước Trung Quốc đã quyết liệt siết chặt tín dụng, giới hạn triệt để đầu tư vào nhà đất và đặc biệt là đã dứt khoát giải thể gần 150 ngàn doanh nghiệp quốc doanh.

Với chủ trương đúng và chính sách phù hợp, đồng nhất, cùng với sự năng động của thành phần kinh tế tư nhân, Trung Quốc đã kịp thời khôi phục sự ổn định, tiếp tục tăng trưởng và kịp đón bắt những cơ hội phát triển sau khi ký vào WTO. Bài học của những năm 1995-2000 đã giúp Trung Quốc có những chính sách tiền tệ và tài khóa đúng mực, được phối hợp hài hòa để tăng trưởng ổn định với mức lạm phát một con số ngay cả trong giai đoạn hiện nay, khi kinh tế thế giới bị suy thoái do ảnh hưởng của kinh tế Mỹ.

Bài học từ Trung Quốc đã được đánh giá cao và đáng được chú ý. Trung Quốc đã thể hiện khả năng biết khi nào cần điều chỉnh chính sách, có ý chí chính trị cao và khả năng lãnh đạo để làm được những điều cần làm một cách đúng đắn.

Bài học Mỹ

Vào thập niên 1920, Luật Ngân hàng ở Mỹ còn lỏng lẻo nên các ngân hàng thương mại dùng tiền ký gửi đầu tư mạo hiểm vào những lĩnh vực kinh doanh có mức lợi nhuận cao nhưng đầy rủi ro. Đầu tư bừa bãi để lấy phần trăm hoa hồng, cộng với chính sách tiền tệ phóng túng đã sinh ra tình trạng siêu lạm phát, dẫn đến sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Mỹ năm 1929, tiếp theo là một thời kỳ khủng hoảng vĩ đại nhất trong lịch sử nước Mỹ.

Năm 1932, Tổng thống Franklin Roosevelt nhậm chức và cùng Quốc hội Mỹ cho ra đời đạo luật ngân hàng (Glass-Steagal Act) năm 1933, chủ yếu để cứu nền kinh tế Mỹ nằm trong chương trình 100 ngày đầu của chính phủ Roosevelt. Đạo luật này phân biệt khắt khe giữa hoạt động của ngân hàng thương mại và hoạt động của ngân hàng đầu tư.

Ngân hàng thương mại chỉ được hoạt động trong lĩnh vực cho vay những hoạt động kinh doanh truyền thống, ít rủi ro nhất và có đầy đủ chế chấp cụ thể một cách tương xứng. Ngân hàng thương mại trả lãi suất ký gửi là X% thì cho vay lại chỉ ở mức X + 2 (hoặc 3%) mà thôi để đảm bảo tính an toàn và giữ vững niềm tin của người dân đã gửi tiền tiết kiệm.

Hoạt động của ngân hàng đầu tư là những hoạt động kinh doanh với độ rủi ro cao nên các nhà đầu tư vào các loại quỹ hoặc ngân hàng đầu tư phải được biết như vậy và chấp nhận rủi ro. Sự tách biệt giữa hoạt động ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư là để làm rạch ròi mức độ rủi ro, tránh sự mập mờ dễ gây ra sự ngộ nhận cho người dân khi gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng. Sự tách biệt này cũng là để minh bạch hóa các hoạt động ngân hàng vì đó là nền tảng của cả một hệ thống ngân hàng ổn định, tạo nên sức mạnh cho hệ thống tài chính và kinh tế phát triển bền vững.

Đạo luật Glass-Steagal đã giúp cho kinh tế xã hội Mỹ phát triển mạnh trong suốt 50 năm và trở thành một mô hình tài chính ngân hàng mẫu mực cho cả thế giới.

Đến đầu thập niên 1980, khi Reagan nhậm chức tổng thống, Chính phủ Mỹ chủ trương phát triển kinh tế thị trường tối đa, đồng thời cho phép các ngân hàng nhận tiền gửi tiết kiệm mở rộng các hoạt động cho vay để nhiều người đầu tư vào thị trường bất động sản. Chính sách này chỉ vài năm sau đã dẫn đến khủng hoảng ngân hàng đầu tiên, bắt buộc Chính phủ phải can thiệp, tổn hao công quỹ đến hơn 300 tỉ USD mới giải quyết được tạm ổn.

Trong thập niên 1990, chính quyền của Tổng thống Clinton đã thành công trong các chính sách kinh tế, trả được tất cả các công nợ lớn do chính quyền Reagan để lại, bắt đầu một thời kỳ phát triển dài nhất trong lịch sử nước Mỹ. Nhưng chính sự thành công này đã nảy sinh ra mầm mống cho sự khủng hoảng kinh tế của nước Mỹ ngày hôm nay. Say men chiến thắng và cũng đầy lòng tham, các đại gia của Mỹ và cả những nhà hoạch định chính sách đã lãng quên những quy tắc cơ bản của ngành ngân hàng và nhiệm vụ quản lý rủi ro tài chính.

Các đại gia tài chính - ngân hàng đã tiến hành những chiến dịch vận động hành lang để ngân hàng được phép tham gia vào các lĩnh vực đầu tư rủi ro mà trước đây bị cấm bởi đạo luật Glass-Steagal. Số tiền lobby từ các đặc quyền tài chính ngân hàng chi trong năm 1998 lên đến 200 triệu USD! Năm 1999, Tổng thống Clinton trước khi mãn nhiệm kỳ đã ký đạo luật Gramm-Leach-Bliley chính thức khai tử Glass-Steagal. Năm sau, cựu Bộ trưởng Tài chính trong chính quyền Clinton là Robert Rubin chuyển sang làm chủ tịch Tập đoàn CitiGroup - một trong những tập đoàn đã chủ động chiến dịch lobby cho đạo luật ngân hàng mới.

Ngân hàng Mỹ từ đó được tài trợ các loại chứng khoán, kể cả các loại tài sản (phần lớn là bất động sản) đã được chứng khoán hóa qua các thủ thuật “bốc giá”. Chính sách tín dụng thoải mái với lãi suất cực kỳ thấp dưới thời Tổng thống Bush đã tạo ra sự tăng trưởng ảo từ những đầu tư vô tội vạ, dẫn đến sự phát triển nóng trong lĩnh vực nhà đất để rồi hệ thống tài chính - ngân hàng Mỹ không cõng được gánh nặng do chính mình tạo ra, đòi hỏi Nhà nước Mỹ phải cấp cứu. Câu chuyện của Mỹ vẫn chưa có hồi kết. Kinh tế Mỹ sẽ còn suy thoái một thời gian dài.

Nhìn lại Việt Nam

Kinh tế của một nước dù là lớn, đã phát triển, hay của một nước nhỏ, đang phát triển, đều phải chịu chi phối bởi những quy luật giống nhau. Sức khỏe của một nước cũng như sức khỏe của con người. Có biết sống đúng (vệ sinh, dinh dưỡng, ngừa bệnh) thì mới có thể lực tốt để phát triển. Xem ra, tình trạng suy thoái kinh tế của Việt Nam và Mỹ đang có nhiều sự trùng hợp: nhập siêu, đồng tiền mất giá, thị trường chứng khoán suy sụp, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, tăng trưởng sụt giảm, một số ngân hàng có nguy cơ mất tính thanh khoản.

Việt Nam còn bị vấn nạn lạm phát cao, làm cho các phương thuốc điều trị mất tác dụng hiệu quả. Nói chung căn bệnh của Việt Nam đã được xác định rõ: cơ cấu xuất nhập khẩu thiên về nhập khẩu. Lý do là phần lớn các công ty nhập khẩu lớn (nhiều đơn vị thuộc Nhà nước) nhập hàng để kinh doanh nội địa, nơi họ có độc quyền và không có cạnh tranh, lại không đóng góp nhiều cho xuất khẩu so với mức nhập của họ.

Trong khi đó, các nhà xuất khẩu (phần lớn là nông nghiệp và công nghiệp nhẹ) không có lợi thế tương đối về mặt tín dụng và giá trị gia tăng lại không tăng nhanh vì hạ tầng cơ sở còn quá yếu, không được đầu tư đúng mức. Đầu tư công tăng nhanh, quá lớn, hiệu quả thấp, chính sách tín dụng tiền tệ thiếu kỷ luật, không tuân thủ nguyên tắc tiền tệ cơ bản (cung tiền không thể tăng nhanh vượt mức mức độ tăng trưởng GDP) là những nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát. Nhưng, nếu cơ cấu ngân hàng không được điều chỉnh cấp bách và kịp thời sẽ làm cho cả nền kinh tế đột quỵ, chứ không riêng gì ba lĩnh vực tài chính, ngân hàng và chứng khoán.

Ngân hàng nhà nước đã có những báo động đỏ và báo động vàng cho một số ngân hàng thương mại cổ phần. Giải quyết tính thanh khoản của ngân hàng chỉ là biện pháp cấp thời có tính tình thế. Vấn đề cơ bản là các ngân hàng thương mại phải hoạt động theo chuẩn bắt buộc của ngành ngân hàng và điều đó đòi hỏi tái cấu trúc triệt để từ gốc.

Theo TRẦN SĨ CHƯƠNG (Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần)