Trang nhà > Văn chương > Thi ca > PABLO NERUDA (1904-1973)

PABLO NERUDA (1904-1973)

Thứ Năm 14, Tháng Tám 2008

Neruda nổi tiếng trên văn đàn thế giới với phong cách độc đáo, siêu thực, lãng mạn, chắt lọc tinh hoa của văn học dân gian, nội dung gắn chặt với sự nghiệp đấu tranh chống đế quốc, giải phóng nhân dân Mỹ La tinh và bảo vệ hoà bình thế giới.
Pablo Neruda, tên thật là Neftali Ricardo Reves Basualto (1904-1973) xuất thân trong một gia đình công nhân đường sắt ở Chile. Ông làm thơ từ năm 13 tuổi; 16 tuổi có thơ đăng báo. Năm 1924 xuất bản tập 20 bài thơ tình yêu và một bài ca tuyệt vọng. Năm 1937 tập thơ Tây Ban Nha trong lòng tôi của ông được bí mật in ở Tây Ban Nha, ca ngợi cuộc cách mạng kiên cường chống phát xít Franco của nhân dân nước này, nơi ông từng làm Lãnh sự. Năm 1942, ông viết Bài ca gửi Stalingrad và năm sau bài Tình ca mới gửi Stalingrad, ca ngợi nhân dân Liên Xô chiến đấu chống phát xít Đức. Được ca ngợi nhiều là các bài thơ Tướng Canto, Một Thập kỷ mới: 1958-1967. Năm 1950, ông hoàn thành Tổng tập thi ca, một tác phẩm quan trọng gồm 248 bài thơ, được coi là sử thi cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân châu Mỹ La tinh. Tập Một trăm bài thơ trữ tình viết dành cho người vợ yêu quý của ông, là những vần thơ bất hủ ca ngợi tình yêu vợ, yêu tổ quốc Chile. Neruda nổi tiếng trên văn đàn thế giới với phong cách độc đáo, siêu thực, lãng mạn, chắt lọc tinh hoa của văn học dân gian, nội dung gắn chặt với sự nghiệp đấu tranh chống đế quốc, giải phóng nhân dân Mỹ La tinh và bảo vệ hoà bình thế giới. Ông còn là nhà lãnh đạo đảng Cộng sản Chile, năm 1953 đã được tặng Giải thưởng Quốc tế Lê Nin.
Giải Nobel
Ngày 21 tháng 10 năm 1971, Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thuỵ Điển tuyên bố giải Nobel văn học năm nay tặng cho nhà thơ Pablo Neruda. Đây là người Chile thứ hai, người Mỹ La tinh thứ ba được nhận vinh dự này. Lúc ấy Neruda đang chữa bệnh ở Pháp. Đương kim Tổng thống Chile Salvador Allende Gossens ra tuyên bố: đây không chỉ là thắng lợi của đất nước và nhân dân Chile mà cũng là của toàn thể dân chúng châu Mỹ La tinh.
Từ năm 1962, năm nào Neruda cũng được đề cử vào danh sách xét tặng giải Nobel văn học. Cứ đến tháng 10 là báo chí khắp nơi đều đưa tin phỏng đoán khả năng Neruda trúng giải này. Tới ngày công bố danh sách, các nhà báo lại kéo đến nhà ông, mang theo hoa và rượu ngon chờ tin mừng. Thế nhưng đến phút cuối cùng, mọi người đều ngán ngẩm khi không thấy tên ông trong danh sách công bố trên đài. Nghe nói vì trong Uỷ ban xét giải Nobel văn học có một vị luôn phản đối Neruda vì cho rằng ông có liên quan đến vụ ám hại cựu lãnh tụ đảng Cộng sản Bôn xê vích Liên Xô Trotsky (năm 1924 bị ĐCSLX khai trừ và trục xuất, năm 1940 bị ám sát chết ở Mexico). Mãi cho tới năm 1968, một nhà phiên dịch Thuỵ Điển bạn thân của Neruda được bầu vào Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thuỵ Điển và được chọn vào Uỷ ban xét giải Nobel. Nhờ có sự hậu thuẫn của ông này nên Neruda mới trúng giải Nobel văn học 1971.
Neruda biết rằng hầu hết các nhà văn trên thế giới đều mong có ngày được nhận giải thưởng vô cùng vinh dự này; mặt khác, sau ngót chục lần được đề cử mà lần nào cũng làm bao nhiêu người mừng hụt, ông cảm thấy chán chường và mệt mỏi, thậm chí tức bực. Dù sao, ông vẫn hy vọng chờ đến tháng 10 sang năm. Tối hôm 20 tháng 10 năm 1971, người bạn Thuỵ Điển tốt bụng đến thăm Neruda đang nằm trong bệnh viện ở Paris để làm một cuộc phẫu thuật, nhưng vì tôn trọng nguyên tắc làm việc nên ông này không hề cho Neruda biết danh sách trúng cử. Cho tới sáng hôm sau, khi thấy bạn bè đổ xô tới chúc mừng, Neruda mới biết ông đã được tặng giải thưởng hằng mơ ước. Cả đến danh hoạ Picaso tuy đã 90 tuổi cũng mừng như một đứa trẻ.
Thế nhưng khi Neruda chuẩn bị lên đường đi Stockholm lĩnh thưởng thì bỗng dưng xảy ra một việc khiến cho cảnh sát Thuỵ Điển hết sức lo ngại. Neruda hai lần nhận được thư của một người da đen tự xưng là “Đại biểu Phong trào chống thực dân của xứ Guyana Georgetown thuộc Hà lan”. Bức thư đầu tiên viết đại ý: “Tôi đã yêu cầu Sứ quán Thuỵ Điển cấp cho tôi một Giấy mời dự lễ trao giải thưởng Nobel văn học cho ngài tại Stockholm. Người ở Sứ quán bảo tôi phải chuẩn bị một chiếc áo đuôi tôm – loại lễ phục nhất thiết phải mặc trong nghi lễ này; nhưng tôi không có tiền mua áo đuôi tôm và cũng quyết không chịu mặc áo đi mượn, vì mặc quần áo cũ sẽ làm mất thể diện của một người châu Mỹ tự do. Cho nên tôi báo ngài biết là tôi sẽ quyên góp tiền để sang Stockholm tổ chức một buổi họp báo vạch mặt tính chất đế quốc, tính chất phản nhân dân của lễ trao giải Nobel, và sẽ dùng hành động này để tỏ lòng kính trọng đối với ngài – nhà thơ giầu tinh thần chống đế quốc và giầu tính nhân dân nhất.” Bức thư thứ hai viết, tác giả đã đến Stochkholm nhưng không tổ chức được cuộc họp báo dự định. Nhưng người kia cảnh cáo Neruda là không được mặc áo đuôi tôm đi dự nghi lễ; nếu không thì người đó sẽ dùng kéo để công khai cắt đứt đuôi áo của Neruda.
Neruda nộp hai bức thư ấy cho Bộ Ngoại giao Thuỵ Điển. Toàn bộ cảnh sát Stockholm được huy động để bảo đảm nghi lễ tiến hành an toàn. Một hôm trong bữa ăn trưa, Neruda kể lại cho Otlo Silva, người bạn cùng đi Stockholm và là nhà văn phái tả nổi tiếng người Venezuela biết câu chuyện buồn cười trên. Ai ngờ Silva bất chợt vỗ trán mình và bảo; “Pablo, mấy bức thư ấy là do mình viết đấy, mình chỉ định trêu cậu một tý thôi.” Neruda đành phải báo cho Bộ Ngoại giao Thuỵ Điển biết việc đó. Nhưng lúc này cảnh sát đã lùng sục khắp ngõ ngách ở Stockholm để đi tìm một người da đen không hề tồn tại.
Ngày huỷ diệt
Giải Nobel là khoảnh khắc loé sáng cuối cùng của Neruda, vì lúc ấy ông đã lâm bệnh nặng, bị ung thư tiền liệt tuyến. Điều tồi tệ hơn là tuy đã mổ, nhưng tế bào ung thư đã di căn toàn thân. Mọi người đều dấu không cho ông biết bệnh tình thật. Các thầy thuốc cho rằng Neruda chỉ sống được vài năm nữa.
Tháng 11 năm 1972, Neruda đồng ý về nước nghỉ phép, nhưng ông yêu cầu không cho ai biết bệnh trạng của ông, tuy rằng thực ra ông cũng chưa biết mình mắc bệnh hiểm nghèo gì. Tin Neruda về nước không công bố, nhưng vẫn có rất nhiều người ra sân bay đón ông. Dù sao, cuộc đón tiếp không lấy gì làm long trọng, thiếu biển người và biển hoa như mọi lần. Nhà thơ cũng không diễn thuyết sôi nổi xúc động mà lập tức lên xe đi về đảo Đen, nơi có căn nhà của ông. Mọi người đều cảm thấy có điều gì trống vắng lạnh lẽo, ai nấy tỏ ra lo lắng.
Hồi ấy tình hình Chile đang vô cùng căng thẳng. Tổng thống Allende lên cầm quyền được một năm đầu, kinh tế Chile phát triển tốt, xã hội ổn định. Song đồng thời với các cải cách mạnh dạn của vị Tổng thống theo chủ nghĩa xã hội này, quyền lợi của giai cấp tư sản và điền chủ bị tước đoạt, tầng lớp trung lưu và tiểu tư sản cũng thấy bị xáo động. Nhiều người mang theo cổ phiếu, vàng bạc, tiền mặt đua nhau chạy ra nước ngoài. Nguồn vốn đầu tư trong nước bị rút dần hoặc chạy sang nước khác. Đến năm 1972, kinh tế đình đốn không còn tăng trưởng nữa, ngược lại bắt đầu tụt dốc, dự trữ ngoại tệ nhanh chóng giảm dần, thâm hụt ngân sách nhà nước tăng lên, lạm phát cao tới 508%. Mỹ không những thực hành cấm vận Chile mà còn xúi giục các tổ chức tiền tệ quốc tế không cho Chile vay tiền. Đồng thời phái hữu bắt đầu bí mật tập họp lực lượng vũ trang chống lại Chính phủ Allende, gây ra các vụ khủng bố.
Mùa xuân năm 1973, chúng tổ chức dán các tờ báo chữ lớn khắp đường phố ngõ ngách ở thủ đô Santiago với nội dung chống Chính phủ Allende, chống cộng sản, chống Liên Xô và Cu ba. Chúng tung ra các tin đồn thất thiệt nói xấu chính quyền, đe doạ dân chúng là sắp có một cuộc tắm máu. Neruda như thấy tổ quốc mình đang trải qua những ngày năm 30 ở châu Âu khi phát xít Hitler sắp lên nắm chính quyền. Các cuộc bãi công và biểu tình liên tiếp nổ ra. Cuối tháng 11.1971, mấy nghìn phụ nữ xuống đường gõ nồi chảo phản đối nạn tăng giá cả, lạm phát, thiếu lương thực. Tháng 10.1972, nổ ra cuộc bãi công toàn quốc của công nhân viên các ngành giao thông vận tải, y tế, ngân hàng v.v…phản đối việc quốc hữu hoá ngành giao thông vận tải, khiến cho nền kinh tế tê liệt. Năm sau, các cuộc bãi công biểu tình liên tiếp xảy ra với quy mô cả nước; cuối cùng một toán binh sĩ tổ chức bạo động. Phái hữu Chile lợi dụng tâm lý bất mãn của quần chúng, quy kết tình trạng rối loạn này là do sai lầm của Chính phủ thực hành đường lối XHCN, chúng xúi giục nhân dân lật đổ chính quyền Allende và Mặt trận Đoàn kết nhân dân.
Khi Neruda dự cuộc mit tinh hoan nghênh ông về Chile, số người đến không còn đông như mọi khi, dù đây là lần đầu tiên ông xuất hiện và diễn thuyết trước quần chúng sau khi được tặng giải Nobel. Cảnh sát có vũ trang canh gác giám sát cuộc họp này.Tình hình Chile như thùng thuốc súng sắp nổ. Neruda không còn thời gian suy xét tới việc an toàn cá nhân mình, ông quyết tâm gióng hồi chuông báo động nhân dân biết là không được để tổ quốc mình tái diễn tấn thảm kịch phát xít Franco năm xưa cướp chính quyền ở Tây Ban Nha mà chính ông đã chứng kiến. Neruda kêu gọi mọi người đoàn kết kiên quyết chống bọn phát xít Chile phục hồi. Rất tiếc là những lời tâm huyết tràn đầy nhiệt tình cách mạng của ông không còn được thính giả hoan hô rầm rộ như trước kia.
Để thức tỉnh quần chúng nhân dân chớ ngồi yên cho kẻ thù đảy đất nước xuống vực thẳm, Neruda viết một bản trường ca bằng những lời thơ mạnh mẽ hiếm thấy, mỗi chữ mỗi câu phun ngọn lửa căm phẫn vào bọn đế quốc và phát xít, toát lên nỗi lo lắng về tương lai tổ quốc. Không ai có thể tưởng tượng những vần thơ kiên cường, hùng tráng ấy là do một ông già đang sắp chết vì bệnh hiểm nghèo viết nên. Bài trường ca ấy đã kích động các chiến sĩ cánh tả Chile noi theo lời kêu gọi của ông xông lên chống lại bè lũ đế quốc và phản động.
Ngày 20 tháng 5 năm 1973, “Lời kêu gọi gửi toàn thể văn nghệ sĩ và giới trí thức” do chính Neruda viết được dán lên khắp đường phố Santiago. Neruda hô hào toàn dân Chile đứng lên hành động ngăn chặn âm mưu lật đổ chính quyền của bọn phản động. Dù đang ốm nặng, nhưng ông suốt ngày tiếp các nhà báo để bàn về một chủ đề duy nhất: hiện tại và tương lai của tổ quốc.
Sáng sớm ngày 11 tháng 9 năm 1973, đảo Đen vẫn như mọi ngày, yên tĩnh trong tiếng sóng biển vỗ bờ, Neruda chuẩn bị một ngày làm việc bận rộn. Khi bật máy thu thanh, ông rất lấy làm lạ là chỉ bắt được sóng của mỗi một đài phát thanh tỉnh Mendoza, còn đài các tỉnh khác đều im lặng. Kỳ lạ nữa là đài chỉ phát ra những tiếng nổ ùng oàng và tiếng súng tạch tạch. Bỗng dưng lẫn trong tiếng nổ ấy thi thoảng lại vang lên tiếng nói của Tổng thống Allende: “Xin khẳng định đây là lần cuối cùng tôi nói chuyện với các bạn, hỡi những người lao động Chile. Trước tình hình hiện nay, tôi chỉ có thể tuyên bố tôi không từ chức. Trong giây phút bước ngoặt lịch sử này, tôi sẽ dùng tính mạng mình để báo đáp lại lòng trung thành của nhân dân. Xin nói với các bạn rằng, tôi tin chắc là những hạt giống chúng tôi đã gieo rắc trong lòng người dân Chile xứng đáng được hàng triệu người Chile tự hào. Những hạt giống ấy sẽ bất tử. Hiện nay kẻ địch có lực lượng mạnh, chúng sẽ áp đảo chúng tôi, nhưng tội ác và vũ lực không thể ngăn cản được bước tiến của xã hội. Lịch sử là của chúng ta, nhân dân làm nên lịch sử …”
Đây là lời nói cuối cùng của Tổng thống Allende để lại cho nhân dân và đất nước Chile. Neruda cố gắng vặn núm máy thu thanh, nhưng không còn nghe thấy gì nữa.
Thực ra, ngay từ đêm qua bọn phản loạn do các viên tư lệnh quân đội và cảnh sát Chile bí mật tổ chức đã tập kết về Santiago. Sáng hôm 11, chúng chiếm thành phố lớn thứ hai Chile là Valparaiso, sau đó chiếm thủ đô Santiago, bao vây phủ Tổng thống. Viên tướng phái hữu Pinochet đứng đầu Uỷ ban Quân chính do chúng lập nên, ra lệnh cho Allende từ chức và hứa cung cấp máy bay đưa ông và gia đình ra nước ngoài tỵ nạn. Tổng thống Allende từ chối đề nghị đó, ông cho nhân viên và người nhà sơ tán, sau đó tự mình đội mũ sắt xách súng AK dẫn đầu đội bảo vệ dinh Tổng thống chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Quân đội phản động có xe tăng trọng pháo tiến vào chiếm dinh Tổng thống. Allende hy sinh oanh liệt. Về sau, bè lũ Pinochet tung tin vu cáo là ông tự tử.
Qua đài phát thanh nước ngoài, Neruda biết tin nói trên. Ông vô cùng xúc động. 40 năm qua, ông và Allende đã sát cánh bên nhau đấu tranh vì một nước Chile độc lập tự do của người lao động, xây dựng một chính quyền phái tả chống đế quốc. Cuộc đảo chính phản động của Pinochet đã làm cho cố gắng của họ tan thành mây khói. Ông không thể nào chấp nhận kết quả này, ông biết đây cũng là kết cục của đời mình. Neruda không còn hy vọng sống tới ngày thấy chủ nghĩa xã hội được thực hiện trên đất nước Chile. Ông tuyệt vọng bảo vợ: “Tất cả đều chấm dứt rồi, em ạ ! Đây là chủ nghĩa phát xít. ”
Chiều hôm ấy, mặc dù sốt cao, ông vẫn ôm lấy máy thu thanh chờ tin tức mới. Từ máy thu hình, đã 6 lần ông nhìn thấy cảnh dinh Tổng thống bị quân đảo chính chiếm.
Ngày 19 tháng 9, Neruda trở bệnh nặng, phải đưa vào bệnh viện. Trên đường đi, hai lần xe bị cảnh sát dừng khám xét. Neruda đã khóc.
Tổng thống Mexico chỉ thị cho Đại sứ nước mình tại Santiago tìm mọi cách đưa Neruda sang Mexico để bảo đảm an toàn cho nhà thơ vĩ đại của châu Mỹ La tinh, và cho một chiếc máy bay riêng sang Chile đón Neruda. Vợ con và bạn hữu đều khuyên ông nên tránh sang Mexico, nhưng Neruda kiên quyết từ chối. Ông nói ông sẽ như chiến hữu của mình là Allende, quyết chết cũng không rời tổ quốc. Dù mọi người cố giấu không cho ông biết tình hình thực tế, nhưng cuối cùng Neruda cũng biết được là hàng nghìn người Chile đã bị sát hại sau khi Pinochet lên cầm quyền, trong đó có nhiều nhà trí thức, nghệ sĩ chiến hữu của Neruda. Nằm trong bệnh viện, ông nghe rõ tiếng máy bay lên thẳng quần đảo tấn công các chiến sĩ chống lại quân đảo chính. Neruda cảm thấy ngày cuối cùng của mình đã đến.
22 giờ 30 phút ngày 23 tháng 9 năm 1973, Pablo Neruda trút hơi thở cuối cùng trong nỗi lòng tuyệt vọng, vĩnh biệt thế giới mà ông chưa thể thay đổi được. Nhân dân tiến bộ toàn thế giới thương tiếc ông, nhà thơ vĩ đại của châu Mỹ La tinh.
Nguyên Hải