Home > Sử­ liệu > Danh nhân > Phan Châu Trinh (1872-1926)

Nhà cách tân

Phan Châu Trinh (1872-1926)

Tuesday 30 January 2007

Nhà cách mạng dân chủ vĩ đại của Việt Nam, người khởi xướng phong trào Duy tân đầu thế kỷ 20. Tự là Tử Cán, hiệu Tây Hồ, biệt hiệu là Hy Mã; quê ở làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, nay thuộc thôn Tây Hồ, xã Tam Lộc, thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

Thuở nhỏ, ông vừa học chữ vừa học võ. 1900, đỗ Cử nhân, sau đỗ Phó bảng, được triều đình Huế bổ làm quan Thừa biện Bộ Lễ. 1905, ông từ quan, cùng các bạn đồng chí là Trần Quí Cáp, Huỳnh Thúc Kháng đi vào Nam để tìm những người cùng chí hướng và xem xét tình hình. Năm 1906, ông bí mật đi Nhật, gặp Phan Bội Châu trao đổi ý kiến. Khi về nước, ông tích cực hoạt động với chủ trương: thức tỉnh lòng dân, đề cao dân quyền. Ông gửi một bản điều trần Đầu Pháp chính phủ thư cho Toàn quyền Beau. Ông dựa vào lý tưởng cách mạng Pháp để tiến hành cứu nước. Nhưng ông không tán thành chủ trương vũ trang bạo động của Phan Bội Châu lúc đương thời. Năm 1907, ông ra Hà Nội diễn thuyết tại Trường Đông Kinh Nghĩa Thục.

Năm 1908, phong trào Duy Tân lên mạnh mà đỉnh cao là vụ chống thuế ở miền Trung, thực dân Pháp cho rằng ông là người cầm đầu nên chúng lùng bắt được ông tại Hà Nội, xử đày ra Côn Đảo. Tổ chức nhân quyền Pháp đấu tranh can thiệp với chính phủ của họ, ông được trả tự do sớm hơn mức án nhưng lại bị quản thúc ở Mỹ Tho. Năm 1911, ông yêu cầu và được Toàn quyền Đông Dương chấp thuận cho qua Pháp. Ở Pháp, ông gặp Nguyễn Ái Quốc cùng một vài nhà yêu nước khác. Năm 1914, ông bị Pháp bắt giam 9 tháng vì chúng nghi ông có liên hệ với người Đức. Năm 1922, vua Khải Định sang Pháp dự đấu xảo Marseille, ông viết một bức thư dài vừa khuyên vua vừa buộc tội vua, gồm 7 điều (gọi là Thư thất điều), yêu cầu Khải Định về nước gấp đừng ở Pháp làm nhục quốc thể.

Năm 1925, ông trở về Sài Gòn tuyên truyền cho đường lối của ông, nhưng rồi lâm bệnh mất ngày 22/2 năm ất Sửu (4/4/1926) hưởng dương 53 tuổi, mộ an táng tại nghĩa địa Gò Công, làng Tân Sơn Nhất, Gia Định, (nay thuộc tp Hồ Chí Minh). Rất nhiều nhà chí sĩ cũng như các đồng chí của ông đều có thơ, liễn đối điếu ông, cả nước dấy lên phong trào đòi nhà cầm quyền cho tổ chức lễ tang truy điệu ông.

Phan Chu Trinh để lại các tác phẩm chính: Đầu Pháp chính phủ thư; Tỉnh quốc hồn ca I, II; Trung Kỳ dân biến thỉ mạt ký, Đông Dương chính trị luận; Tây Hồ và Santé thi tập; Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam; Thư thất điều; Đạo đức và lý luận Đông Tây; Quân trị chủ nghĩa và Dân trị chủ nghĩa; Giai nhơn kỳ ngộ diễn ca.