Home > Thú vui > Du lịch > Phong Khê sản xuất thủ công giấy dó

Phong Khê sản xuất thủ công giấy dó

Monday 3 October 2011

Xã Phong Khê (TP. Bắc Ninh) có các thôn Châm Khê, Dương Ổ (còn gọi là Đống Cao) và Đào Xá (tức Điều Thôn) được biết đến với làm nghề giấy dó từ hàng trăm năm nay. Giấy dó vốn nổi tiếng vì gắn liền với tranh Đông Hồ, nay loại tranh dân gian khắc gỗ được in trên giấy dó này không còn được nhiều người ưa chuộng nữa nên nghề làm giấy dó cũng theo đó lụi tàn.

Nghề làm giấy ở Việt Nam có từ khoảng thế kỉ thứ III, phát triển mạnh vào thế kỷ XIII và XIV. Trước những năm 1980, cả làng Dương Ổ làm giấy dó, nhưng giờ đây chỉ còn 2 nhà giữ được nghề truyền thống này. Tại Dương Ổ, hiện nay nghề làm giấy rất phát triển nhưng hầu hết chỉ làm giấy công nghiệp.

Nghề làm giấy dó ngày nay không những gặp khó khăn về đầu ra cho sản phẩm mà ngay cả đầu vào cũng khan hiếm hơn. Nguyên liệu chính để làm giấy là vỏ cây dó, chỉ có ở vùng trung du và miền núi phía Bắc. Từ tháng 8 đến tháng 10 âm lịch mới bóc được vỏ cây dó do vỏ tự tróc ra, ngoài 3 tháng này vỏ bóc bị sát nên không thu hoạch được.

Để có được một tờ giấy dó mỏng, bền, dai đòi hỏi phải tốn nhiều công sức và rất tỉ mỉ. Tính sơ sơ từ cây dó làm ra được tờ giấy phải qua 10 công đoạn, kéo dài gần một tháng. Một tạ vỏ dó sau khi chế biến sẽ được khoảng từ 5-7 kg giấy dó, trừ chi phí tiền công thợ thì lời lãi thua xa nghề làm giấy tái sinh. Vì vậy mà các gia đình ở Dương Ổ lần lượt bỏ nghề này.

Bột dó sau khi giã nhuyễn và rửa sạch

Khi mang về, vỏ cây dó được lột lớp vỏ đen, lấy lượt vỏ trắng xé nhỏ, ngâm nước vôi từ 1-2 ngày. Sau đó vớt ra, bó thành từng mớ, ngâm vào nước vôi tôi. Chuyển sang thùng nấu, cứ một thùng 50 kg dó là phải cần 20 kg than, than tàn dó cũng chín đúng độ. Một ngày sau, dỡ ra lại ngâm nước cho hết vôi, nhặt bỏ từng mấu nhỏ còn sót lại. Dó đem đi rửa tiếp, cho vào bể ngâm 15-20 ngày, rồi vớt ra, cho vào cối giã nhuyễn từ 3-5 tiếng, đem đãi lấy nước trong. Bột dó sẽ được nắm chặt, rửa sạch thêm một lần nữa.

Người thợ phải dẫm nát vỏ cây mò để chiết ra nhựa cây. Chất nhớt của nhựa cây này ngăn cho các tờ giấy không dính vào nhau, đồng thời giúp giữ nguyên màu sắc của mực khi viết trên giấy.

Bột dó được hoà vào một bồn nước (còn gọi là tàu) có pha nhựa cây mò. Hỗn hợp này gọi là "huyền phù" mà người thợ sẽ pha với nước độ lỏng hay đặc tùy theo loại giấy.

Công đoạn tiếp theo được những cô gái Dương Ổ, Đào Xá gọi là seo giấy. Người thợ dùng "liềm seo" (khuôn có mành trúc, nứa ken dày) chao đi chao lại trong bể bột dó. Bột giấy được múc vào liềm ở trong khuôn rồi dùng tay rung đều khi đủ độ dầy của tờ giấy mới thôi, đặt khuôn vào giá và cầm liềm đặt từng tờ giấy lên đống.

Chị Nguyễn Thị Độ, ở xóm 4, thôn Châm Khê, xã Phong Khê cho biết đã làm giấy dó được hơn 20 năm. Công việc chính của chị là seo giấy, mỗi ngày làm trung bình khoảng 500-1000 tờ, tùy khổ giấy.

Seo giấy là khâu quan trọng của nghề làm giấy. Nó thể hiện bàn tay tài hoa của các cô gái làng Dương Ổ, quyết định chất lượng sản phẩm giấy.

Các tờ giấy được xếp thành chồng dày, nén kiệt nước, phơi khô. Các tập giấy sau đó được ép khô rồi tách từng tờ đóng lại thành tập trước khi xuất bán.

Mỗi tờ giấy dó như thế này được bán khoảng 5.000 đồng, cho Viện Hán Nôm hoặc các thầy đồ viết chữ ở Văn Miếu

Cụ Ngô Đức Điều (76 tuổi) là người cao tuổi nhất còn làm giấy dó ở thôn Dương Ổ. Cụ Điều đã sáng tạo ra việc đóng sổ bằng giấy dó, giao theo đơn đặt hàng của các cửa hàng lưu niệm trên phố Văn Miếu hoặc Tô Tịch. Mỗi quyển dày từ 20-40 trang, loại nhỏ cụ bán 20.000 đồng, loại lớn bán đắt hơn khoảng 35.000-40.000 đồng.

Điểm đặc biệt là những trang giấy đều có họa tiết hoa văn cây cỏ thiên nhiên, được đưa vào ngay trong công đoạn sản xuất giấy để tạo nên những sản phẩm độc đáo mà không nơi nào có.

Mặc dù đã 75 tuổi, nhưng cụ Nguyễn Thị Nhâm vẫn ngày ngày bóc từng tờ giấy dó sau khi phơi khô để cụ Điều đóng sổ. Hai cụ có 5 người con trai, nhưng không có ai còn theo nghề truyền thống.

Cụ Điều cho biết, giấy dó nếu làm theo đúng những phương pháp truyền thống, có thể giữ đến 500- 700 năm không suy suyển. Tuy nhiên, giờ đây việc làm giấy dó không còn theo phương pháp truyền thống. Do vỏ dó ngày càng hiếm nên bị dần thay thế bằng vỏ dướng, chất lượng kém hơn. Các công việc nặng nhọc như giã dó, kéo tàu, trước kia phải dùng sức người, nay đã thay bằng môtơ.

Việc dùng môtơ này làm sợi tơ dó bị đứt nát, nên giấy sẽ không đẹp, bền được như làm bằng phương pháp truyền thống. Giấy dó làm theo cách "cải tiến" hiện chỉ có tuổi thọ khoảng 60 - 70 năm.

Ngôi nhà 3 tầng của hai vợ chồng anh Phạm Văn Tâm và chị Nguyễn Thị Hương là nơi sản xuất giấy dó lớn nhất Dương Ổ. Hiện cơ sở của gia đình anh Tâm làm khoảng 20 loại mẫu mã sản phẩm khác nhau, chủ yếu là giấy vẽ tranh nghệ thuật, kích cỡ to nhất 79 x 109cm, loại nhỏ 20 x 30cm. Hầu hết các căn phòng trong nhà đều được anh Tâm tận dụng đển để phơi khô giấy, kể cả cầu thang.

Bước vào thời kỳ đổi mới, Phong Khê chuyển mạnh sản xuất giấy theo dây chuyền công nghiệp. Với đa số người Đống Cao, nghề làm giấy dó bây giờ chỉ còn trong hoài niệm. Theo thời gian, nghề làm giấy dó ở Đống Cao cứ rơi rụng dần cùng với những thương hiệu nổi tiếng như làng tranh Đông Hồ, phường tranh Hàng Trống.

Giấy dó Phong Khê làm nền cho dòng tranh dân gian Đông Hồ sáng bừng lên màu dân tộc, thể hiện được những tiết tấu, mầu sắc, hoạ tiết hoa văn và cốt cách tâm hồn những nghệ nhân Song Hồ.

Quang Sơn (bee.net.vn)


View online : Giấy dó phường Bưởi