Trang nhà > Sử­ sách > Thời mới > Phong trào Duy tân và Đông Du ở miền Nam

Phong trào Duy tân và Đông Du ở miền Nam

Thứ Hai 28, Tháng Năm 2007

Vào đầu thế kỷ 20, xã hội Việt Nam (khi đó thuộc Đông Dương do Pháp cai trị) bắt đầu có những sự thay đổi. Tại các thành thị xuất hiện một lớp doanh nhân mới.

Hà Nội có những cửa hàng lớn như Đồng Lợi tế, Hồng tân hưng và những công ty hùn vốn như Quảng Hưng Long, Đồng Thành Hưng; Nghệ An có Triêu dương thương quán; Quảng Nam có Quảng Nam hiệp thương công ty; Phan Thiết có công ty Liên Thành; Sài Gòn và Cần Thơ có Nam Đồng hương, Minh Tân công nghệ xã...

Những công ty và cửa hàng này phần lớn là do những nhà nho cấp tiến, chịu ảnh hưởng của trào lưu mới do thu nhập những tư tưởng mới của Âu Tây qua sách báo Trung Quốc đăng tải. Họ thường thường là bán đồ nội hóa, nông lâm thổ sản cùng sản xuất những đồ công nghệ cổ truyền như làm nước mắm, làm mũ, dệt vải, làm đồ sơn cùng những hoạt động tiểu công nghệ khác.

Các năm 1906-1908 chính là cao trào của phong trào đổi mới cấp tiến này vậy. Tại miền Nam, Gilbert Chiếu thành lập nhiều khách sạn tại Sài Gòn và Mỹ Tho “đóng vai trò liên lạc và cung cấp các bài văn chống thực dân Pháp” tại Quảng Nam, Nguyễn Hàm một trong những nhà sáng lập ra Duy Tân hội thành lập 72 cơ sở thương mại.

Tại Phan Thiết, công ty Liên Thành dùng tiền lời sản xuất nước mắm để tài trợ cho một trường tư thục, trường Đức Thành, nơi các văn thơ cách mạng được giảng dậy. Và song song với những hoạt động kinh tế, các nhà Nho này còn chú trọng đến việc canh tân văn hóa xã hội.

Duy Tân Hội ra đời

Các Tân Thư của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu từ Trung Quốc đã tác động đến tư duy chính trị Việt Nam

Tháng tư năm 1904, Phan Bội Châu và một số nhà nho cấp tiến khác như Nguyễn Hàm, Đặng Thái Thân, Lê Võ, Tăng Bạt Hổ và khoảng 20 người khác thành lập Duy Tân hội, lấy một người trong hoàng tộc, hậu duệ của hoàng tử Cảnh là Cường Để làm hội chủ.

Với cái tên “Duy Tân”, những nhà cách mạng này cho thấy họ muốn đưa cuộc đấu tranh chống Pháp vào một con đường mới không chỉ “Cần vương” mà thôi. Con đường mới này bao gồm cả việc thay đổi trong xã hội mà một trong những hoạt động nhằm vao việc đó là gởi người đi học tại nước ngoài.

Đầu năm 1905, lấy cớ về quê ăn Tết và thăm mộ để đánh lừa tai mắt của Pháp, Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ xuống tàu, giả làm thương khách qua Hương Cảng. Trên chiếc tầu này, ông đã chiêu mộ được Lý Tuệ, đầu bếp chính của con tầu trở thành một người giúp dỡ đắc lực. Trong nhiều năm sau này, Lý Tuệ là người chính giữ việc liên lạc, chuyển tiền và thông tin giữa trong nước và nước ngoài, đưa các học sinh Việt Nam ra khỏi nước, cũng như là báo lại cho tổ chức biết những biện pháp đàn áp của Pháp tại những cảng mà con tầu của ông đến thăm.

Tháng 8 năm 1905, Phan Bội Châu bí mật quay trở lại Việt Nam đưa Cường Để và nhóm học sinh Đông du đầu tiên gồm 9 người ra khỏi nước. Trong khi đó, tại trong nước, những ủng hộ viên của Duy Tân hội đã vận động được sự hưởng ứng mạnh mẽ ở trong nước để tài trợ cho các học sinh du học.

Cơ sở kinh tế cho Đông du

Ở Sài Gòn có Nam Đồng hương, ở Hà Nội có Đồng Lợi tế, ở Mỹ Tho có Minh Tân công nghệ xã, tất cả những cơ sở này đều là những nơi vừa lo tiền, vừa lo gởi các học sinh du học. Những người được gởi đi đều đưọc lựa chọn kỹ càng với tiêu chuẩn như đã được Phan Bội Châu đặt ra là “thông minh, chuyên cần, cứng rắn can đảm và có lòng yêu nước vững chắc”. Phần lớn những học sinh đầu tiên được gởi đi là con cháu của những nhà Cần Vương cũ, đặc biệt là ở Nghệ An và Hà Tĩnh, mà chính ông biết rất rõ gia đình của họ.

Nhưng miền Nam là nơi tài trợ chính cho phong trào Đông du, dần dà trên một nửa số học sinh sang Nhật du học là xuất phát từ đó (trên 100 trong số 200 người). Một phần lý do cho sự hưởng ứng mạnh mẽ của dân miền Nam này là Cường Để vốn có rất nhiều người theo trong số những đại gia giầu có tại miền Nam. Thứ hai là nhờ vào những cố gắng của Gilbert Chiếu (Trần Chánh Chiếu) chủ các tờ báo quốc ngữ Nông Cổ Mín Đàm và Lục Tỉnh Tân văn vốn là một trong những nhà trí thức có ảnh hưởng mạnh nhất tại miền Nam thời đó. Năm 1906, Gilbert Chiếu đã sang Hồng Kông và gặp Phan Bội Châu để bàn việc tổ chức và gởi các học sinh miền Nam và Công giáo sang Nhật.

Phong trào Đông Du bắt đầu và kéo dài cho đến khi Nhật Bản thỏa hiệp với Pháp năm 1908 và bắt đầu trục xuất các sinh viên Việt Nam về.

Nhiều người đã về nước dù chưa học xong, số còn lại hoặc chạy sang Trung Quốc hoặc giả danh là người Hoa để ở lại Nhật Bản. Tháng Ba 1909 chính cụ Phan Bội Châu cũng bị trục xuất ra khỏi Nhật Bản.

Những cố gắng của phong trào mà người Pháp gọi là chủ nghĩa kinh tế quốc gia (nationalisme économique) đã lên đến cao điểm trong chiến dịch tẩy chay các cơ sở người Hoa năm 1919 và việc thành lập Công ty tài chánh An Nam mà sau này trở thành Việt Nam Ngân Hàng năm 1925.

Bùi Quang Chiêu và đảng Lập Hiến

Bên ngoài những hoạt động kinh tế, lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ cũng như sự kiện là nhiều người trong số này có quốc tịch Pháp, giới trí thức miền nam còn tìm cách hoạt động chính trị một cách công khai. Cố gắng này đã dẫn đến sự thành lập một đảng chính trị đầu tiên theo chiều hướng hiện đại - đảng Lập Hiến.

Trong những năm đầu của thập niên 1920, uy tín của đảng Lập Hiến lớn đến nỗi, Nguyễn Ái Quốc ngồi tại Matxcơva đã viết thơ cho đảng Cảng Sản Pháp nói rằng nếu Nguyễn Thế Truyền đã gia nhập đảng Cộng Sản Pháp thì phải ra lệnh cho Truyền gia nhập đảng Lập Hiến để lung lạc những hoạt động của đảng này từ bên trong.

Người sáng lập ra đảng Lập Hiến là Bùi Quang Chiêu. Tuy rằng chỉ trẻ hơn Phan Bội Châu có năm tuổi và cùng xuất thân từ một gia đình nho học, nhưng giữa Phan Bội Châu và Bùi Quang Chiêu là cả một sự khác biệt lớn.

Năm 1872, khi Bùi Quang Chiêu ra đời thì cả miền nam đã rơi vào tay Pháp. Chính vì vậy mà ông nhận được một sự giáo dục hoàn toàn Tây học. Năm 1893, Bùi Quang Chiêu sang Pháp du học và được nhận vào trường kỹ sư canh nông Institut National Agronomique, sau đó sang Algérie tập sự một thời gian.

Trở về Việt Nam, ông làm việc cho chính quyền thuộc địa với cuơng vị kỹ sư canh nông, lấy quốc tịch Pháp và bắt đầu tham gia vào các hoạt động văn hóa, đóng góp vào việc thành lập và sau này trở thành hội trưởng Hội Trí Tri.

Xu hướng thỏa hiệp, thân Pháp

Cơ hội cho Bùi Quang Chiêu và những người trong giới trí thức miền nam tương tự như ông đã đến khi Albert Sarrault trở lại làm toàn quyền Đông Dương lần thứ hai năm 1917. Sarrault biết rằng muốn giữ yên được Đông Dương, Pháp ít nhất cần phải lấy được sự ủng hộ của những người gọi là tầng lớp thượng lưu trong xã hội Việt Nam.

Và đối với Sarrault, vốn đã từng là một nhà báo, báo chí là một trong những phương tiện hữu hiệu nhất để thực hiện mục tiêu chính trị và văn hóa của mình tại Đông Dương. Năm 1917, với sự giúp đỡ của Louis Marty, giám đốc sở Mật Thám Đông Dương (Sureté) Sarrault chọn được hai người đứng ra thành lập hai tờ báo, một ở Hà Nội và một ở Sài Gòn.

Cả hai đều được tài trợ từ quỹ đen lấy từ ngân sách của phủ Toàn Quyền và được ra đời hầu như cùng một lúc vào tháng bảy và tháng tám năm 1917, nhưng nhắm vào hai nhóm độc giả rất khác nhau. Tờ báo xuất bản ở Hà Nội có tên là Nam Phong và nhắm vào số độc giả còn theo truyền thống nho học ở miền bắc trong khi tờ báo ở Sài Gòn có tên là Tribune Indigène có mục tiêu tranh thủ những trí thức Tây học ở miền Nam.

Tuy rằng chủ nhiệm tờ Tribune Indigène là Nguyễn Phú Khai, một điền chủ giầu có đã từng du học bên Pháp và là bạn của nhà văn Pierre Loti, nhưng linh hồn của tờ báo là chủ bút Bùi Quang Chiêu. Mục tiêu của tờ báo này là tìm cách lôi kéo giới lãnh đạo trong xã hội Việt Nam ngả theo Pháp. Nhưng chỉ hai tháng sau khi tờ Tribune Indigène ra đời, tờ báo đã đăng lên một loạt bài về những đòi hỏi của giới tư bản người Việt tại Nam Kỳ của Diệp Văn Cương.

Với tài sản và nền học vấn Tây phương, giới tư bản Nam Kỳ tự coi mình như là nhóm tiên phong của sự tiến bộ và là người sẽ thừa kế chính quyền của người Pháp. Tháng tư năm 1919, khi Sarrault hết nhiệm kỳ toàn quyền tại Đông Dương, tờ Tribune Indigène bắt đầu in trên trang đầu tờ báo hàng chữ “Cơ Quan của đảng Lập Hiến” báo hiệu rằng dù Sarrault không còn ở Đông Dương nữa, tờ báo sẽ vẫn còn tiếp tục tranh đấu cho quyền lợi của nhóm tư bản người Việt tại Đông Dương.

Bùi Quang Chiêu và những người đồng chí với ông thành lập đảng Lập Hiến muốn dùng chính trị hợp pháp để lấy lại độc lập thay vì bạo động. Chính vì vậy Bùi Quang Chiêu đã viết trong một bài xã luận năm 1923, chống lại chủ trương của Phan Bội Châu: “Một số người chủ trương dành lại độc lập qua khẩu súng, tôi chủ trương hãy làm vậy qua văn hóa.”

Công nhận sự ưu việt của văn hóa Pháp, Bùi Quang Chiêu biện luận rằng việc phổ biến các tư tưởng của Pháp chỉ có thể làm cho người Việt thắt chặt lại gần thêm với nước Pháp mà thôi. Ông đã viết trong một bài xã luận đăng trên La Tribune Indigène số ngày 7 tháng 1 năm 1918:

Qua việc truyền bá những tư tưởng của Pháp vào đầu óc người Đông Dương, chúng ta không sợ gì sự thức tỉnh tinh thần quốc gia của người An Nam vì tinh thần này có thể được thỏa mãn với chế độ hiện nay vốn phù hợp với khát vọng của chúng ta hơn nhiều so với chế độ cũ.

Mặc dầu Bùi Quang Chiêu bị nhiều người cho rằng ông là một tên bù nhìn của Pháp, và ông đã bị Việt Minh thủ tiêu năm 1945, nhưng thực tế ông cũng là một người yêu nước theo kiểu của ông.

Trên hết, ông là một người đã nói lên được quyền lợi và ước vọng của giai cấp ông, giai cấp tư sản địa chủ miền nam, tiêm nhiễm văn hóa Pháp và tự cho rằng mình sẽ là giai cấp lãnh đạo của một nước Việt Nam mới một khi mà sứ mạng “mission civilisatrice” của Pháp hoàn thành.

(theo LMH, BBC 8-2005)