Logo of this site

Quick browsing

Home > Nghệ thuật > Điện ảnh > Phỏng vấn đạo diễn NSND Trần Văn Thuỷ

Phỏng vấn đạo diễn NSND Trần Văn Thuỷ

Tuesday 24 May 2011


Đạo diễn Trần Văn Thủy

Nhờ khán giả mà tôi tồn tại

Trao đổi với chúng tôi, tác giả của những bộ phim tài liệu đầy tinh thần vì sự thật cho biết ông chỉ thích làm phim tài liệu vì thể loại này phản ánh cuộc sống một cách trung thực, không hư cấu, không đóng diễn, không bịa đặt.

- Thưa ông, từ những bộ phim tài liệu đầu tiên, ông tỏ ra “nặng lòng” với chiến tranh. Ông thường tiếp cận vấn đề này như thế nào?

- Trong những phim tôi làm thì hình như chỉ có 3, 4 phim liên quan đến đề tài chiến tranh: Những người dân quê tôi, Phản bội, Chuyện từ góc công viên và Tiếng vĩ cầm ở Mỹ lai. Những “cái được” của chiến tranh, mấy thập kỷ qua đã nói quá nhiều. Theo tôi, có lẽ đã đến lúc cần phải tính đến một cách thành thực nhất những mất mát do chiến tranh. Điều đó rất cần và có ích cho tương lai lâu dài của người Việt Nam.

- Phim tài liệu có vai trò rất lớn trong việc phản ánh đời sống xã hội, nhưng hiện nay vẫn ít được các nhà làm phim trẻ quan tâm. Ông có điều gì muốn chia sẻ với họ?

- Tôi xin nói ngay rằng làm một bộ phim tài liệu đích thực, có ích, gây được “dư chấn” trong đời sống tinh thần của xã hội là chuyện hoàn toàn không dễ dàng, nhất là ở Việt Nam. Có lẽ bởi vậy, trên thế giới số lượng phim tài liệu làm ra hằng năm có tới hàng nghìn hay nhiều hơn thế, nhưng những đạo diễn phim tài liệu nổi tiếng thế giới cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Phim tài liệu là một loại phim “dễ làm mà khó hay”. Tôi chọn làm phim tài liệu bởi nó gần với cuộc sống mà tôi đang quan tâm. Không hư cấu. Không đóng diễn. Không bịa đặt. Theo tôi, lựa chọn thế nào là tùy ở sở thích và khả năng của mỗi người. Tôi không khuyên các đạo diễn trẻ làm phim tài liệu. Tôi nhớ có lần đạo diễn phim người Pháp gốc Việt Trần Anh Hùng nói với tôi: “Khi tới 52 tuổi, tôi sẽ làm phim tài liệu”.

- Ông đã có nhiều buổi chiếu phim và thuyết trình ở nhiều nước trên thế giới. Khán giả nước ngoài có phản ứng sao đối với phim của ông?

- Tôi có hơn 100 buổi chiếu tại các viện đại học danh tiếng, các hội thảo điện ảnh, xã hội và chính trị, ở Đức, Pháp, Ý, Anh, Bỉ, Nhật, Australia và nhiều nhất là ở Mỹ. Tôi có thêm nhiều bạn bè qua những chuyến đi ấy. Nên nhớ rằng họ có dân trí cao và tư duy độc lập, nhưng họ đã đón tiếp tôi rất chân tình, quý mến. Tôi cho là họ đã hiểu sâu về Việt Nam hơn. Tôi nhận được danh hiệu “chứng nhân của thế giới” (Witnessing The World) ở hội thảo Điện ảnh quốc tế, gồm hơn 200 nhà làm phim độc lập tại New York năm 2003.

- Ông muốn tâm sự điều gì với khán giả?

- Tôi tự đáy lòng biết ơn sâu sắc khán giả. Nhờ có các bạn mà tôi tồn tại. Đã đôi lần tôi trả lời với báo giới trong và ngoài nước rằng: điều ám ảnh lớn nhất trong tôi khi tôi có ý tưởng làm phim, chọn đề tài, vững tin vào những điều mình theo đuổi, vượt qua những vùng cấm là do người xem. Quả thật vậy, khi quyết định một cảnh quay “mạo hiểm”, viết một lời bình “gai góc”, cho phim “vượt biên” đến liên hoan phim quốc tế…, tôi chỉ nghĩ đến người xem.

Xin cảm ơn ông!

(Theo TinTucOnline)

"CHUYỆN TỬ TẾ" CÓ PHẢI LÀ TẬP 2 CỦA “HÀ NỘI TRONG MẮT AI”?

“Chuyện tử tế” (1985) kể về thân phận của những người nghèo khổ dưới đáy xã hội. Những người làm phim xông xáo vào đời và gặp lắm cảnh trái ngang: đến quay một lò gạch thì bị chủ lò gạch xua đuổi vì tưởng họ đang làm phim tuyên truyền cho nhà nước. Một đứa bé chăn vịt vì mệt, cần ngủ, lỡ để đàn vịt vào phá ruộng hợp tác xã mà phải mang lý lịch xấu. Một giáo viên toán phải đi bán rau. Những cựu chiến binh một thời oanh liệt nay người đạp xích lô, kẻ làm nghề sửa xe đạp. Một bà mẹ cùi hủi bị người đời khinh chê nhưng quyết chí đúc 18 vạn hòn gạch làm gia tài để lại cho đứa con trai. Đan xen giữa những mảnh đời là những suy nghĩ, nhận thức về sự tử tế, về chữ hiếu đối với dân và những gì được gọi là vĩ đại trong xã hội Việt Nam...

“Hà Nội trong mắt ai” bị cấm lưu hành từ năm 1982 đến 1987. Bộ phim tập hợp nhiều tích chuyện hay trong sử sách, vì vậy mà bị coi là “nhân chuyện xưa nói việc nay”. Chẳng hạn, trong mắt vua Quang Trung, quốc gia chỉ có thể trường tồn và hưng thịnh khi kẻ dưới dám nói những điều ngay thẳng, còn bề trên biết nghe theo lẽ phải. Hay là chuyện bức tượng ở Chùa Bộc (Hà Nội) bây giờ vẫn lưu giữ, trên đầu tượng có đề chữ Tâm. Trước đây nhiều nhà nghiên cứu đều chịu, không biết tượng tạc ai. Về sau cụ Trần Huy Bá mới đặt giấy bản sau bức tượng rồi dùng than củi chà lên, mới hiện ra dòng chữ: “Bính Ngọ tạo Quang Trung tượng”. Tức là đúng vào cái năm Gia Long truy diệt tất cả những gì liên quan đến nhà Tây Sơn thì dân chúng Thăng Long vẫn dựng tượng Quang Trung... Rồi cả những chuyện tại sao Nguyễn Siêu lại cho dựng Tháp Bút bên Hồ Gươm; tại sao Tổng đốc Hoàng Diệu lại cho đặt tấm bia ở Ô Quan Chưởng cấm các chức quan sách nhiễu dân...

Phong cách phim tài liệu của ĐD Trần Văn Thủy là một phong cách khó có thể phân loại được. Dường như phim tài liệu là ngôn ngữ để phát ngôn, để nói những điều uẩn khúc trong lòng mình theo cách vòng vèo hơn và như vậy cũng trở nên an toàn hơn chút ít. Cách làm phim như thế có thể khiến người xem hiện đại cảm thấy phim dở, phim nói quá nhiều mà không tận dụng được lợi thế của hình ảnh. Cũng có phần đúng. Nhưng đối với phim của Trần Văn Thủy hay đối với nhiều bộ phim khác, chúng đã trở thành biểu tượng về dấu ấn của một thời. Phim có thể không hay, nhưng không có nghĩa là nó không đúng.

Cảnh trong phim Chuyện tử tế

“Chuyện tử tế” được diễn tả theo phong cách tự sự. Nếu như trong “Hà Nội trong mắt ai”, Trần Văn Thủy mượn chuyện xưa để nói chuyện nay, thỉnh ra những Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm, Quang Trung Nguyễn Huệ để nói đến người thời nay, thì “Chuyện tử tế” chỉ toàn chuyện nay. Nó nhắc đến những người, những cảnh tử tế, những chuyện tử tế mà không hiểu sao luôn thấy lấp ló đằng sau những kẻ không tử tế, dù đôi khi họ không tử tế là do niềm tin của họ, hoặc do dạ dày của họ.

Trần Văn Thủy kể chuyện ông đi quay phim về công việc lao động nặng nhọc mà vinh quang của một ông thợ làm gạch. Rồi một buổi sáng, ông thợ chạy ra quát tháo và đuổi đoàn làm phim đi. Ông ta nói “Tại sao các ông không quay cảnh thực xem chúng tôi đang sống như thế nào ? Các ông chỉ tô vẽ những điều không có thật, còn chúng tôi sống như thế nào thì mặc kệ”. Đó là dấu ấn của nền văn nghệ minh hoạ, khi người nghệ sỹ sáng tác theo đơn đặt hàng, theo những gì mà “người ta” muốn. Để làm mặt này sáng đẹp hơn, họ phải tạm lờ tịt cái mặt kia của đời sống đi, coi như không thấy. Nhưng như thế là không tử tế.

Phim có diễn biến chậm, lại dây cà ra dây muống, tưởng như không đi vào một cái gì. Hoá ra ông đạo diễn làm thế mà khôn. Nếu đi vào “một cái gì”, Trần Văn Thủy sẽ sớm đi vào tù vì những gì ông nói có thể bị coi là “nghe đài địch”, “chống phá chế độ”, “gây dư luận xấu trong nhân dân”… Cứ làm lửng lơ với những câu hỏi lơ lửng, ai là người tử tế, đâu là chuyện tử tế rồi người xem khắc tự hiểu. Khoảng trống ấy thành ra đắt giá.

Những chuyện không tử tế trên đời xem bao giờ cho hết. Chỉ biết, đằng sau mỗi khung hình là những lời gan ruột của Trần Văn Thủy và các đồng đội.

Chừng nào vẫn còn những kẻ chỉ biết chăm sóc cho bộ da của mình, và vẫn còn những người với đôi chút lương tâm tồn tại trên trái đất, người ta vẫn sẽ còn nhắc đến Chuyện tử tế, dù là dưới dạng này, hay dạng khác, dù không đi kèm với cái tên Trần Văn Thủy.

“Làm phim tài liệu phải... quái một chút”

Hà Nội trong mắt ai trước khi đoạt giải vàng tại Liên hoan phim quốc gia, đoạt giải đạo diễn, biên kịch, quay phim hay nhất đã bị kết luận là “có vấn đề” và cấm lưu hành. Đúng vậy không, thưa ông?

Bộ phim bị quy kết là chống Đảng, dạy Đảng cầm quyền... Tôi nghe mà thấy hết hồn.
Có một điều rất hiếm hoi là năm 1983, khi phim bị cấm lưu hành, các cụ lão thành cách mạng của Câu lạc bộ Thăng Long đã mời tôi đến chiếu phim và nói chuyện. Khi xem phim xong, các cụ nói: Bộ phim này có gì mà phải cấm?

Hồi tháng 6, tháng 7 năm 1987, cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh cũng đã xem phim của tôi và ông hỏi: “Chỉ có vậy thôi hả?”.

Giai đoạn ấy, nghe nói giới nghệ thuật dành khá nhiều thời gian bàn tán xem bao giờ ông... bị bắt?

Không chỉ bàn tán, họ còn hỏi thẳng tôi và vợ tôi ấy chứ! Bộ phim dù đã được cố Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Phạm Văn Đồng can thiệp nhưng vẫn bị cấm. Hà Nội trong mắt ai là một “án” lớn trong văn học nghệ thuật thời kỳ đó.

Điều lạ là sau đó phim lại đoạt những giải danh giá nhất tại một liên hoan phim danh giá nhất trong nước. Bị “kết tội” như vậy mà sao ông “thoát” được?

(cười lớn) Thế mà hay! tôi không ngờ những người trong ban giám khảo chấm tôi đoạt giải cũng chính là những người từng phê phán tôi gay gắt nhất đấy. Để những bộ phim của mình đến được với công chúng, tôi đã phải lấy lòng người này, rồi đối phó, thậm chí lường gạt người kia...

Chuyện tử tế là phim nổi tiếng nhất của ông. Nghe nói vì sự cần thiết của nó mà ông đã chấp nhận đánh đổi mọi thứ?

Năm 1985, tôi đi quay Chuyện tử tế trong khi tôi không còn gì. Lúc đó, nhà tôi không còn gạo ăn, vợ tôi lúc đó bơ phờ, bạn bè thì xa lánh, nghi ngại, máy móc không có, ngay cả niềm tin cũng không có nốt... Nói thật, thần kinh phải bằng thép thì mới quay được phim trong hoàn cảnh “nghẹt thở” như thế.

Cho đến nay bộ phim này vẫn là phim vĩ đại nhất của nền điện ảnh tài liệu Việt Nam, theo quan niệm của nhiều người. Đây cũng là một trong 10 bộ phim hay nhất được thế giới bình chọn năm 1992. Bộ phim giống như một tờ giấy thông hành cho tôi đi toàn thế giới.

Không ít người nhận xét là ông... điên đấy!

Tôi làm Chuyện tử tế chỉ bằng linh tính mách bảo rằng con người phải ăn ở tử tế với nhau, rằng có bao
nhiêu con người bất hạnh, bất hạnh trên sự vô lý. Mọi người có thể tìm trong tất cả các bộ phim của tôi không bộ phim nào thoát khỏi thân phận con người. Bất kể điều gì không đi đến tận cùng của thân phận con người thì không thể hay được.

Khi dựng xong, tôi còn không biết đặt tên phim là gì. Tôi bỗng nhớ ra một chữ rất xưa, rất cũ, rất quen là “tử tế”. Nói thật, nếu làm phim tài liệu mà thật thà quá cũng không làm được, cần phải hơi... “quái” một chút. Tôi đã hình dung ra đây là bộ phim khó xài, “khó nuốt”, nếu phim bị cấm thì các bố đã cấm... chuyện tử tế (cười).

Xin ông kể tiếp câu chuyện làm sao mà Chuyện tử tế ra lò được?

Tháng 10-1987, cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh triệu tập tất cả những văn nghệ sĩ lớn nhất của miền Bắc và lắng nghe mọi người than thở, “kể khổ” trong hai ngày. Giờ giải lao, Lưu Quang Vũ tìm tôi bảo ông Nguyễn Văn Linh muốn gặp tôi. Khi gặp, ông Linh nói rất đơn giản: “Đồng chí ạ, đến bây giờ tôi mới hiểu tại sao người ta cấm phim của đồng chí”. Và ông nói tôi nên làm tiếp phần hai. Tôi tinh quái đáp: “Thưa Tổng Bí thư, tôi sẽ cố gắng”.

Chuông reo, mọi người vào trong hội trường. một người có vai vế đứng lên và nói với tất cả mọi người: “Các đồng chí ạ, trong giờ giải lao vừa rồi, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã gặp đạo diễn Trần Văn Thuỷ. Tổng Bí thư tỏ ra rất thích Hà Nội trong mắt ai...”.

“Tôi không bảo thích Hà Nội trong mắt ai mà bảo anh Thuỷ làm tiếp phần hai” - Tổng Bí thư cắt lời.

Trời xui đất khiến sao lại có sự may mắn đến thế! Đây là một cái triện to đùng, nếu không làm sao Chuyện tử tế ra đời được. Tôi đứng lên rất lễ phép nói: “Thưa Tổng Bí thư, thưa các anh chị, tập hai sẽ là Chuyện tử tế...”. Thế là ai cũng biết phần hai của Hà Nội trong mắt ai là Chuyện tử tế. Tôi cảm thấy tôi là một “thằng” rất... lưu manh. Bây giờ mọi người xem sẽ rất buồn cười vì hai bộ phim này chủ đề khác nhau, nội dung khác nhau, khung cảnh và phong cách cũng khác nhau.

Nhưng rồi cả Hà Nội trong mắt ai và Chuyện tử tế đều đã rất thành công khi công chiếu, thưa ông?

Đúng vậy. Trong lịch sử điện ảnh chưa có bao giờ hai bộ phim tài liệu chiếu đồng loạt trên toàn quốc, tạo nên một “hội chứng” như thế. Tháng 3-1988, Liên hoan phim (LHP) quốc gia được tổ chức tại Đà Nẵng đã mời tất cả các đoàn đại biểu lớn của CHDC Đức, Nga, Cuba... tới dự. Trước đó, phóng viên của một hãng thông tấn Đức đã viết bài liên tục gửi về Đức và nhiều người khi ấy muốn sang Việt Nam chỉ để tìm hiểu xem Chuyện tử tế như thế nào. Nhưng trong LHP này lại không chiếu, mặc dù trong danh sách chương trình là có. Hà Nội trong mắt ai thì tưng bừng với hàng loạt giải thưởng.

Hình như việc đưa Chuyện tử tế tới tham gia LHP Leipzig tới giờ vẫn còn là câu chuyện có nhiều dị bản. Là người trong cuộc, ông nói sao?

Đầu tháng 11-1988, tôi được Cục Điện ảnh gọi lên để cử tôi đi tham gia LHP Leipzig, theo thư mời. Tuy nhiên, Cục khi ấy lại không cho tôi... mang phim Chuyện tử tế đi và cử ông Cao Nghị đi cùng để phụ trách. Tuy nhiên, như các bạn biết đấy, phim của tôi vẫn có mặt...

Bằng cách nào, thưa ông?

Mãi đến gần đây, một đồng nghiệp của tôi, người đã quay phim Chuyện tử tế, tới nhà vẫn hỏi tôi: “Bản phim chiếu ở Leipzig là của Việt kiều gửi đến hả anh?” (cười).

Cảm giác của ông khi đoạt giải thế nào?

Phải nói thật là khi đặt chân đến thành phố Leipzig cho đến khi biết được phim có giải thưởng, tôi không ăn không ngủ được. 350 phim tham dự LHP nhưng chỉ có một giải vàng, hai giải bạc. Tôi ở trong thế “ngàn cân treo sợi tóc”, nếu phim không đoạt giải, tôi phải sống lưu vong là cái chắc. Mà tôi thực sự không thể sống ở nước ngoài được, tôi yêu Việt Nam vì giọt nắng, giọt mưa, vì mồ mả ông cha...

Khi công bố Chuyện tử tế đoạt giải thưởng Bồ câu bạc, tôi nhớ khi đó mình đã không kìm nén được mà hét toáng lên “Tôi được về nước rồi!”.

Vì tôi bận một số công việc khác, ông Cao Nghi về nước trước phải “chịu trận” thay tôi. Khi tôi về, mọi người cũng hỏi tôi bằng cách nào mà Chuyện tử tế có mặt ở LHP. Tôi chỉ trả lời: “Tôi cũng không hiểu nổi!”.

Một thời gian sau, LHP Leipzig lại mời tôi sang Đức với tư cách làm chủ tịch LHP đó. Ngay sau đó, hơn 12 đài truyền hình trên thế giới mua bản quyền Chuyện tử tế. Một đài của Pháp mua bản quyền chiếu một lần trả 70 ngàn franc, trong khi họ phải làm tít, phụ đề. Đài của Anh chiếu một lần trả 50 ngàn USD...

Trong bộ phim Chuyện tử tế ông có nói nghề làm phim là nghề hèn và mọn. Tại sao vậy, nghề làm phim mang lại cho ông tiếng tăm đến thế cơ mà?

Đoạn mở đầu của phim này, sau khi đoàn làm phim của tôi bị một chủ lò gạch xua đuổi, ông ấy bảo: các anh đi chỗ khác cho chúng tôi nhờ, không có quay kiếc gì ở cái lò gạch này cả. Các anh có giỏi thì quay cảnh chúng tôi sống thật như thế nào. Cứ bày đặt ra như thế mà không biết xấu hổ à?”.

Thế là chúng tôi đi trong cảnh tự quay, đi lang thang thất thểu, ngồi đờ đẫn, buồn rầu với nhau và có cái câu là “nghề của chúng tôi cũng là nghề hèn, mọn”. Hèn vì nghĩ nhiều mà không dám nói ra. Mọn vì làm ra cũng chẳng mấy ai cần đến.

(Theo Pháp luật TPHCM)

Sau hơn 20 năm, Chuyện tử tế tới Viennale 2008

Thưa đạo diễn, được biết đạo bộ phim Chuyện tử tế của ông vừa được trình chiếu tại LHP Viennale (Áo)?

Vâng. Chuyện tử tế được trình chiếu tại LHP Viennale (Áo) vào ngày 25/10 vừa rồi. Theo BTC, đây là LHP quốc tế lớn nhất và lâu đời nhất của Áo được tổ chức 2 năm 1 lần. LHP không tranh giải, chương trình bao gồm khoảng 120 phim truyện và phim tài liệu dài, và khoảng 50 phim ngắn từ khắp nơi trên thế giới. Các phim được LHP chú ý là những bộ phim mang tính nghệ thuật và chính trị.

LHP Viennale chỉ trình chiếu những phim được sản xuất 2 năm gần đây, trong khi Chuyện tử tế đã ra đời cách đây hơn 20 năm?

Vâng, đây cũng là câu hỏi mà tôi băn khoăn khi nhận được lời mời. Chuyện tử tế khởi quay cách đây 23 năm và ra đời cách đây 21 năm (1987). Tôi đã email cho ban tổ chức và nhận được câu trả lời cụ thể. LHP Viennale trình chiếu những phim được sản xuất trong năm 2007 – 2008, nhưng bên cạnh đó, mỗi kỳ LHP còn vinh danh một số cá nhân đặc biệt cùng những chương trình về lịch sử điện ảnh. Chuyện tử tế được trình chiếu trong mục này.

Do đâu LHP này biết tới Chuyện tử tế và họ đánh giá như thế nào về tác phẩm này?

Bà Verena, BTC LHP đã email cho tôi rằng, Chuyện tử tế được chọn bởi một đạo diễn người Mỹ - ông John Gianvito (đaọ diễn phim The Mad Songs of Fernanda Hussein, Profit Motive and the Whispering Wind), người chịu trách nhiệm một số chương trình của LHP. Chương trình này bao gồm các phim: Chuyện tử tế (Trần Văn Thủy, 1987), Time of the Locust (Peter Gessner, Mỹ, 1966), Interviews with My Lai Veterans (Joseph Strick, Mỹ, 1970) và SayKomSay (Robert Kramer, Pháp, 1998). Chương trình này có tên là Lessons and lesions: Vietnam. Bà Verena cũng nói rằng họ mong muốn được biết nhiều hơn về Việt Nam, nền điện ảnh Việt Nam để có được những cái nhìn mới so với quan điểm dập khuôn trước đây. Tôi cũng nhận được thư của John Gianvito. Chúng tôi đã từng quen nhau tại Hội thảo phim Robert Flaherty vào năm 2003 tại New York. John nói rằng, sở dĩ ông chọn Chuyện tử tế để trình chiếu ở LHP Viennale vì nó “nổi tiếng và rất hợp thời cuộc”.

LHP quốc tế chắc hẳn sẽ đòi hỏi một bản phim đảm bảo chất lượng, Chuyện tử tế có gặp khó khăn gì không?

LHP đã tìm kiếm mọi nơi để có bản 35mm tốt nhất. Họ liên lạc với Nhật, nơi từng chiếu Chuyện tử tế năm 1989 trong khuôn khổ khai mạc LHP tài liệu Yamagata lần thứ nhất (Yamagata International Documentary Film Festival). Bản phim là bản 35mm được bảo quản rất tốt nhưng lại phụ đề tiếng Nhật. Họ lại liên lạc với Pháp, nơi từng mua bản quyền chiếu bản phim nhựa trong khuôn khổ LHP Cinéma du Réel nhưng bản này phụ đề tiếng Pháp. Họ tìm cả ở Đức, bộ phim được LHP Leizig chiếu và trao giải Bồ câu Bạc năm 1988 nhưng cũng không được, các bản của các đài Channel4 (Anh), SBS (Úc) phụ đề tiếng Anh nhưng lại không phải phim nhựa. Họ liên lạc với tôi để tìm bản gốc ở Việt Nam, nhưng bản gốc hiện giờ đã bị hỏng và thủ tục để xin được bản này sẽ rất phức tạp. Tôi cũng hỏi rằng, có nhất thiết phải chiếu bản 35mm hay không thì nhận được trả lời là họ luôn cố gắng trình chiếu bộ phim như khi nó được sản xuất, cũng là để thể hiện sự tôn trọng với bộ phim cùng các yếu tố âm thanh, hình ảnh… Họ cũng rất quan tâm đến việc phục hồi phim thông qua việc giữ gìn các bản phim tại các viện phim Châu Âu.

Cảm xúc của ông khi Chuyện tử tế được nhớ tới?

Một bộ phim đã ra đời từ rất lâu mà vẫn được người ta mất công để tìm xem như vậy là một niềm vui đối với chúng tôi. Chuỵên tử tế cũng là một bộ phim đặc biệt trong cuộc đời làm phim tài liệu của tôi. Đây là bộ phim khác thường từ khi ra đời và cũng có rất nhiều kỳ bí quanh cuộc sống của nó. Chuyện tử tế đi cùng trời cuối đất, trên generic bao giờ cũng có chữ “Tập 2”. Mọi người sẽ đều hỏi không biết tập 1 của nó đâu. Dòng chữ này chính là sự ra đời li kỳ của bộ phim. Tháng 10/1987, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh chủ trì cuộc họp gồm các nghệ sĩ, nhà nghiên cứu chuẩn bị cho việc ra Nghị quyết 05 giải phóng cho văn nghệ sỹ. Giờ giải lao, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh nói với tôi rằng tôi nên làm tập 2 cho Hà Nội trong mắt ai. Khi ý này được đề cập đến trong cuộc họp, tôi đã loé lên ngay trong đầu mình và bật lên rằng: “tập 2 của Hà Nội trong mắt ai sẽ có tên là Chuyện tử tế ạ!”. Tôi cũng rất nhớ tới các đồng nghiệp của tôi: Hồ Chí Phổ, Lê Văn Long, Đỗ Duy Hùng, Lê Huy Hoà, Phan Minh Hương … đã cùng tôi vượt mọi gian nan để thực hiện bộ phim này.

Thúy Phương (thực hiện)

Nguồn: http://thegioidienanh.vn