Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Thi ca > René Char (1907-1988)

René Char (1907-1988)

Thứ Tư 14, Tháng Giêng 2009

René Char (1907-1988) nhà thơ siêu thực Pháp, được coi là "bậc thầy của thơ châm ngôn". Trong kháng chiến chống phát xít Đức, ông từng chỉ huy một đoàn quân du kích của xứ Provence.

Tác phẩm

— Chiếc búa vô chủ - Le Marteau sans maitre (Corti, 1934)
— Les Matinaux (Gallimard, 1950)
— A une sérénité crispée (1951)
— Lettera amorosa (Gallimard, 1953)
— Lời ở quần đảo - La parole en archipel (Gallimard, 1962)
— Cuồng nộ và bí ẩn - Fureur et mystère (Gallimard, 1962)
— Khỏa thân lạc loài - Le nu perdu (Gallimard, 1972)
— Commune Présence (Gallimard, 1978)
— Đi tìm nền móng và mái nhà - Recherche de la base et du sommet (Gallimard)
— Aromates chasseurs (Gallimard)
— Eloge d’une soupçonnée (Gallimard)
— Gần quanh Van Gogh - Les Voisinages de Van Gogh (Gallimard)
— En trente-trois morceaux (Gallimard, 1997)
— Dans l’atelier du poète (Gallimard, 2007)
— Feuillets d’hypnos (Gallimard, 2007)

JPEG - 6.6 kb

Trong bài đóng góp cho tạp chí Europe số đặc biệt về René Char [số 705-706 tháng Giêng-Hai 1988], tác giả Nelly Stéphane viết về các bài thơ tình được nhà thơ chọn: “... Ba nhân vật ám ảnh những bài thơ ấy và có vẻ qui vào những con người riêng biệt, có lẽ nhiều hơn thế, có điều là đều được gọi là ta, em, nàng. Chúng ta không bận tâm tìm cho ra lý lịch của họ. Nếu ta là nhà thơ, em và nàng có vẻ không phải lúc nào cũng vẫn là cùng một người nữ. Quả là vô ích nếu ta muốn đưa họ vào bất cứ một câu chuyện tiểu thuyết nào...”

Căn phòng trong không gian [11]

Như tiếng hót của con bồ câu trong rừng khi trận mưa rào gần đến – không gian phủ bụi mưa, mặt trời ám ảnh –, tôi thức dậy rửa sạch, tôi chảy tan khi đứng lên; tôi hái bầu trời mới sáng.
Duỗi người nằm bên em, ta lay chuyển tự do của em. Ta là một khối đất đòi hoa của mình.
Có bộ ngực nào đẽo gọt rực rỡ như bộ ngực của em? Đòi hỏi tức là chết!

JPEG - 7.2 kb

Cánh vỗ tiếng thở dài của em làm mọc những lông tơ trên lá. Phát tên tình yêu ta đóng kín trái cây của em, và uống nó.
Ta đang được ân huệ có khuôn mặt em mà bóng đêm của ta phủ kín niềm vui.
Tiếng thét ấy đẹp biết bao – ôi tiếng thét cho anh sự im lặng của em!

Còn sống ngày mai [12]

Qua khoảng trống lớn trên tường
Ta nhận em lễ tạ ơn từ những bàn tay mùa đông
Ta thấy em băng qua những vòng cát trên áo giáp
Như thế hệ những kẻ u buồn băng qua sân chơi
Trên đám cỏ chì
Trên đám cỏ than đá
Trên đám cỏ không bao giờ đứt hơi
Bên ngoài nó sự tương đồng của những vết cháy với
phần số chúng không bao giờ hoàn hảo
Ta hãy làm tình đi thôi.

JPEG - 3.4 kb

Người tình giấu mặt [13]

Nàng đặt bát đĩa xuống bàn và một cách tuyệt vời nàng dẫn câu chuyện người yêu đang ngồi đối diện nàng lát nữa đây sẽ nhìn thẳng vào nàng, nói nhỏ. Thức ăn này giống như lưỡi kèn ôboa.
Dưới gầm bàn, gót chân trần của nàng giờ đây mơn trớn hơi ấm của người yêu, trong khi những giọng nói nàng không nghe được đang ngợi ca nàng. Ánh đèn toả rối, dệt thành cuộc giải sầu nhục dục của nàng.
Một chiếc giường, rất xa, nàng biết, kiên nhẫn và run rẩy trong cõi lưu đày của tấm vải phủ thơm ngát, như một mặt hồ trên núi sẽ không bao giờ bị bỏ phế.

GIF - 11.1 kb

Điều an ủi [14]

Trên những con đường thành phố có tình yêu của ta. Nàng đi đâu trong thời gian bị chia cắt chẳng có gì quan trọng. Nàng không còn là tình yêu của ta, ai cũng có thể chuyện trò với nàng. Nàng không còn nhớ ra; ai đúng ra là kẻ đã yêu nàng?
Nàng tìm hình ảnh giống mình trong những cái nhìn mong ước. Khoảng không nàng đi qua là lòng chung thủy của ta. Nàng vẽ ra hi vọng và nhẹ nhàng khước từ nó. Chẳng cần dự phần nàng vẫn có ưu thế hơn cả.
Ta sống trong sâu thẳm tình yêu như một xác thuyền trôi hạnh phúc. Nỗi cô đơn của ta không hề biết nó chính là kho báu của nàng. Trong kinh tuyến bao la nơi tình yêu ta cất cánh, sự tự do của ta đào chỗ cho mình.
Trên những con đường thành phố có tình yêu của ta. Nàng đi đâu trong thời gian bị chia cắt chẳng có gì quan trọng. Nàng không còn là tình yêu của ta, ai cũng có thể chuyện trò với nàng. Nàng không còn nhớ ra; ai đúng ra là kẻ đã yêu nàng và soi sáng cho nàng từ xa để nàng khỏi ngã?

GIF - 12.4 kb

Marthe [15]

Marthe mà những vách tường cũ không thể nào chiếm đoạt được, mặt giếng nước mà nền quân chủ đơn độc của ta soi bóng, làm sao ta có thể quên được em một khi ta không cần phải nhớ lại em; em chính là hiện tại chất chồng. Chúng ta sống bên nhau mà không cần phải đến gần nhau, không cần phải tiên liệu, như trong tình yêu hai cây thuốc phiện làm ra một cây cỏ chân ngỗng khổng lồ.
Ta sẽ không bước vào trái tim em để giới hạn ký ức của nó. Ta sẽ không giữ miệng em lại để ngăn nó hé mở trên nền xanh không trung và sự khát khao lên đường. Với em ta muốn mình là tự do và là gió của cuộc sống đi qua ngưỡng cửa muôn đời trước khi đêm mất hút.

Hoàng Ngọc Biên dịch (tienve.org)

Dòng sông Sorgue

(Khúc hát cho Yvonne)
Sông mới sớm đã ra đi, không bạn đường, mải mốt
Cho bầy trẻ quê tôi gương mặt đắm đuối kia
Sông kết thúc ánh chớp lòe và ngôi nhà tôi bắt đầu ở đó
Bến lú dập xô lớp cát sỏi tuệ minh
Sông ơi, nơi ngươi đất rùng mình, mặt trời u uất
Sông hãy mang mùa màng cho mỗi kẻ nghèo giữa đêm tối gặt ấm no
Sông chịu phạt thường khi, sông buông thả

GIF - 13.4 kb

Sông của bọn học nghề kiếp người vất vả
Không có gió nào không oằn xuống trước ngọn nước nhấp nhô
Sông của tâm hồn trống trơn, của hồ nghi và rách rưới
Của bất hạnh cũ tuôn ra, của cây du non tơ, của niềm thương cảm
Sông của bọn ngông cuồng, bọn sôi sục bọn xả thú đẽo cây
Của mặt trời lơi tay cày để đàn đúm với thằng nói láo
Sông của những kẻ tốt hơn mình, sông của sương mù lan tỏa
Của cây đèn quanh tấm chao tưới mát nỗi lo âu
Sông của niềm suy tôn mộng mị, sông khiến sắt rỉ han
Nơi các ngôi sao ngả bóng không hề in trên biển
Sông của quyền lực chuyển giao của tiếng kêu hút theo luồng nước
Của bão giông gặm nhấm cây nho và báo mùa rượu mới
Sông mang trái tim vĩnh hằng bất diệt giữa thế giới điên đảo ngục tù
Chớ có dữ dằn, với đàn ong nơi chân trời ngươi là bầu bạn

(Đặng Anh Đào dịch)

GIF - 18.6 kb

Ôi cái nỗi quạnh hiu mãi mãi thêm hồng

Ôi cái nỗi quạnh hiu mãi mãi thêm hồng
của những giọt nước mắt lên cao tột đỉnh
Khi sự sụp đổ tràn lan
Và con đại bàng già không còn quyền lực
Thấy lòng tự tin trở lại
Rồi hạnh phúc vọt ra
Đuổi kịp ngang sườn vực thẳm
Hỡi anh thợ săn đối thủ, anh chẳng học được gì
Khi không vội vã anh vượt tôi
Trong cái chết mà tôi phủ nhận

(Tế Hanh dịch)

GIF - 12.5 kb

Mái rạ xứ Vô-giơ

Hỡi sắc đẹp kiêu hãnh của tôi, qua những con đường khúc khuỷu
Khi những ngọn đèn thắp lên và sự can đảm nghỉ ngơi
Tôi thấy lạnh, hãy làm người vợ tháng chạp của tôi
Cuộc đời mai sau của tôi thấy trên mặt em khi ngủ

(Tế Hanh dịch)
Nguồn:
— Thơ Pháp (NXB Tác phẩm mới, 1989)
— Đẹp hơn nước mắt (NXB Văn học, 1983)
— Văn học nước ngoài (số 4-1997)


[1“Căn phòng trong không gian” dịch từ nguyên tác “La chambre dans l’espace” trong René Char, La parole en archipel (Paris: Gallimard, 1962).

[2“Căn phòng trong không gian” dịch từ nguyên tác “La chambre dans l’espace” trong René Char, La parole en archipel (Paris: Gallimard, 1962).

[3“Còn sống ngày mai” dịch từ nguyên tác “Vivante demain” trong René Char, Le marteau sans maître (Paris: José Corti, 1934).

[4“Còn sống ngày mai” dịch từ nguyên tác “Vivante demain” trong René Char, Le marteau sans maître (Paris: José Corti, 1934).

[5“Người tình giấu mặt” dịch từ nguyên tác “L’amoureuse en secret” [Les matinaux] trong René Char, Commune présence (Paris: Poésie/Gallimard, 1978).

[6“Người tình giấu mặt” dịch từ nguyên tác “L’amoureuse en secret” [Les matinaux] trong René Char, Commune présence (Paris: Poésie/Gallimard, 1978).

[7“Điều an ủi” dịch từ nguyên tác tiếng Pháp “Allégeance” [La Fontaine narrative, 1947] trong René Char, Fureur et mystère (Paris: Poésie / Gallimard, 1962).

[8“Điều an ủi” dịch từ nguyên tác tiếng Pháp “Allégeance” [La Fontaine narrative, 1947] trong René Char, Fureur et mystère (Paris: Poésie / Gallimard, 1962).

[9“Marthe” dịch từ nguyên tác “Marthe” [Le poème pulvérisé] trong René Char, Fureur et mystère (Paris: Poésie / Gallimard, 1962).

[10“Marthe” dịch từ nguyên tác “Marthe” [Le poème pulvérisé] trong René Char, Fureur et mystère (Paris: Poésie / Gallimard, 1962).

[11“Căn phòng trong không gian” dịch từ nguyên tác “La chambre dans l’espace” trong René Char, La parole en archipel (Paris: Gallimard, 1962).

[12“Còn sống ngày mai” dịch từ nguyên tác “Vivante demain” trong René Char, Le marteau sans maître (Paris: José Corti, 1934).

[13“Người tình giấu mặt” dịch từ nguyên tác “L’amoureuse en secret” [Les matinaux] trong René Char, Commune présence (Paris: Poésie/Gallimard, 1978).

[14“Điều an ủi” dịch từ nguyên tác tiếng Pháp “Allégeance” [La Fontaine narrative, 1947] trong René Char, Fureur et mystère (Paris: Poésie / Gallimard, 1962).

[15“Marthe” dịch từ nguyên tác “Marthe” [Le poème pulvérisé] trong René Char, Fureur et mystère (Paris: Poésie / Gallimard, 1962).