LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Cổ học > SỬ THI ILIADE (Khúc 1)

SỬ THI ILIADE (Khúc 1)

TRẬN DỊCH — CƠN GIẬN CỦA ACHILLE

Thứ Tư 11, Tháng Năm 2016

Khi cuộc vây thành Troie của dân Hy Lạp bước sang năm thứ 10, bỗng xuất hiện một trận dịch, người và thú chết la liệt, các giàn củi đốt xác ngày đêm. Trước tình thế nguy cấp An Sinh mời họp Hội đồng Tướng lãnh Hy Lạp, mời tiên tri Cát Sĩ (Calchas) đến tiên đoán sự việc. Cát Sĩ xin An Sinh bảo vệ tính mạng mới dám nói ra.

Nguyên nhân trận dịch là do thần An Long (Apollon) nổi giận vì An Gia Đại Vương (Agamemnon) —vua của các vua— đối xử tàn tệ với Sĩ Tiết (Chrysès), người tế tự đền thần An Long đã mang trượng vàng, khăn trắng và phẩm vật hậu hĩ đến xin chuộc con gái bị bắt trong trận chiến và được tiến cung cho An Gia Đại Vương. Sĩ Tiết bị vua đuổi đi. An Gia Đại Vương không tin lời tiên tri và nổi giận vì cho rằng An Sinh bày mưu để tước đoạt người thiếp yêu quý của mình. Trước tình thế nguy cấp An Gia Đại Vương chiều ý mọi người, trả lại con gái cho Sĩ Tiết nhưng lại bắt lại nàng Băng Tuyết (Briséis) của An Sinh để bù phần thiệt. An Sinh nổi giận mắng An Gia Đại Vương. Nhà vua cho rằng kẻ dưới phải phục tùng cấp trên. Mặc cho nữ thần Quán Trí Tuệ (Athéné) và vua Ninh Tô (Nector) khuyên giải, An Sinh tuyên bố rời Hội đồng Liên quân và không đánh trận cho An Gia Đại Vương nữa. An Sinh ra bờ biển buồn than. Mẹ la nữ thần ThêTúc (Thétis) hiện lên. An Sinh bảo mẹ xin thần vương Dớt (Zeus) làm cho An Gia Đại Vương thua trận. Thần vương chiều lòng, nhưng vợ là Hạ Cơ (Héra) lại muốn quân Hy Lạp thắng quân Troa (Troie).

JPEG - 53.1 kb
Thetis khẩn cầu Zeus (tranh Ingres)

TRẬN DỊCH

Hát lên, thần nữ Thi Ca, (Muse)
An Sinh dũng tướng bất hòa gác gươm. (Achille)
Mặc bao thảm hại vô cùng,
Xuống hàng quân tướng vây thành An Kinh (Achéens),
Hồn tử sĩ về cõi âm,
Xác thân sói xé, diều ăn chiến trường.
Ý thần vương Dớt định phần,
Gây nên chia rẽ, tương tàn vua, tôi.
An Trích, vua cõi người (Atride)
Gây hờn dũng tướng thần trời An Sinh. 10

Thần nào gieo nỗi bất bình,
An Long, con Dớt và nàng Lã Tiên (Latone)
Cung vàng tên rải trận tiền,
Dịch thần gieo bóng thê lương tội tình.
Vì vua An Trích lỗi lầm,
Mắng Sĩ Tiết (Chrysès), tế tự thần An Long.
Sĩ Tiết đã đến van xin,
Anh em An Trích, quần thần An Kinh :
“Tôi người tế tự An Long,
Trượng vàng khăn trắng, xin dâng vật quà. 20
Thiên đình chứng giám lòng ta,
Giúp Ngài phá được thành vua Bam (Priam) này;
Chiến công phúc lộc cao dày,
Tạ Ngài, nhận lễ tỏ bày cầu xin.
Tha con tôi chẳng tội tình,
Chiến tranh loạn lạc, lỡ lầm sắc hương.
Bị người bắt giải tiến cung,
Xin Ngài kính Dớt, An Long tha giùm.”

Quần hùng dưới trướng sẵn sàng,
Nhận quà hậu hĩ, thả nàng cho cha. 30
An Gia vương mặt tối sa,
Mất nàng Sĩ Tuyết (Chryséis), phần quà chiến công.
Chẳng vui đuổi kẻ tế thần :
“Lão già, chớ dọa trượng vàng tối cao.
Lễ người ta chẳng nhận đâu,
Con người ta chẳng khi nào thả ra,
Nàng hầu ta mãi đến già,
Về Đạt Gô Lịch (Argolide) xa nhà quê hương.
Bên ta cung phụng chiếu giường,
Bên ta khung cửi sớm hôm cung đình, 40
Về đi nếu muốn yên thân,
Từ đây chớ đến lăng nhăng quấy rầy.”

Cụ già sợ hãi ra đi,
Bên bờ biển vắng, sầu bi ngàn trùng.
Khẩn cầu thần linh An Long :
“Xót thương cho kẻ ngày đêm phụng thờ,
Giữ đền tế tự chăm lo,
Tế bao đùi béo dê bò lễ nghi.
Hãy ban ơn hiển linh vì,
Oán thù giọt nước mắt đầy đớn đau. 50
Tên vàng trừng trị tiêu hao,
Người An Kinh trả nhục nào hôm nay.”

Thần An Long lắng nghe lời,
Thiên đình vì tiếng bề tôi, đùng đùng,
Vác cung vàng đội mũ đồng,
Nửa đêm đến giữa binh thuyền An Kinh.
Nhắm đoàn binh bắn vãi tên,
Chó, lừa gục ngã chẳng màng vì đâu.
Đến người dịch rụng rơi mau,
Lửa giàn thiêu xác ngút cao khói mù; 60
Chín ngày trận dịch thương đau,
An Sinh mời tướng quan mau họp bàn.
Hạ Cơ (Héra) Bạch Thủ nữ thần,
Lo âu mặc khải Hội đồng quân trung.
An Sinh đứng dậy, lời rằng :
“Tình hình nguy cấp nếu không giải tìm,
Một bên chiến trận triền miên,
Một bên nạn dịch đảo điên hoành hành.
Chỉ còn bỏ trận vây thành,
Rút quân lìa bến tay không trở về. 70
Mời tiên tri đến lắng nghe
Bói cho điềm mộng, giải bề thần trao.
An Long gieo dịch vì sao ?
Lễ nghi, tế tự, thế nào hỏi tra.
Ý thần từ đó tìm ra,
Lễ thần cúng tế cho qua nạn này.”

Cát Sĩ Thế Tô tiên tri. (Calchas Thestor)
Hiện tại, quá khứ, vị lai tinh tường.
Thần An Long dạy bói điềm,
Đứng lên ngỏ với quần hùng thiết tha. 80
“An Sinh có ý mời ta :
Giải điềm thần Dớt, dịch là vì đâu ?
An Long gieo rắc thương đau,
Nhưng điều tôi nói, trước sau mất lòng.
Tướng quân suy nghĩ cho cùng
Mệnh tôi bảo đảm mới hòng nói ra.
Tướng quân thề với Dớt là :
Sẵn sàng cứu mệnh can qua vì lời.
Một lời đụng chạm đến người,
Quyền hành thù ghét ắt thời họa mang. 90
Căm thù để giữa tim gan,
Có ngày rồi sẽ quay sang giết người.”

An Sinh trước Dớt thề bồi :
“Yên tâm Cát Sĩ bói lời tiên tri.
Nói ra sự thật dẫu vì,
Dù lời đụng chạm bất kỳ đến ai.
Ngày ta còn sống trên đời,
Quyết tâm ta bảo vệ người chẳng nan.
Dầu đụng An Gia Đại vương,
Dầu chạm bất cứ cấp trên quyền hành.”
100
Tiên tri Cát Sĩ yên tâm,
Ngỏ lời nói với Hội đồng Quân nghi :
“Các thần chẳng giận ta vì,
Lễ thần cúng tế hội kỳ hàng năm?
Hay điều cấm kị thiêng liêng,
Chúng ta chẳng phạm những điềm thần răn,
Họa tai là bởi vị thần,
Có cây cung bạc An Long giận vì.
An Gia nhục mạ khinh khi.
Môn đồ Sĩ Tiết nơi này cầu xin. 110
Cụ dâng phẩm vật chuộc con.
Nhà vua lăng nhục, lại còn đuổi đi.
Cho nên thần đã ra tay.
Chỉ còn một cách: thả ngay, tha nàng.
Dâng cụ lễ vật tế thần,
Cầu xin tạ tội mới hòng thoát nguy.”

An Gia sa mặt tức thì,
Quắc nhìn sang vị tiên tri dằn lời :
“Người tiên tri thiệt ta thôi,
Chẳng bao giờ nói được lời dễ thương. 120
Âm mưu hắc ám trong lòng,
Bói điều thiệt hại rõ ràng cho ta.
Nàng Sĩ Tuyết phần đã chia,
Ta đà từ chối nhận quà đổi trao,
Vì ta quyến luyến biết bao,
Yêu nàng lòng chẳng muốn sao xa lìa.
Xa Ly Tâm Khánh vợ nhà (Clytemmestre),
Thì nàng chẳng kém mặn mà sắc hương.
Bây giờ trả phải bồi thường,
Lẽ nào chịu thiệt đêm không lạnh lùng. 130
Bồi thường tương xứng giai nhân,
Mình ta chịu thiệt, ta không thể nào !”

An Sinh khuyên nhủ trước sau :
“Đại vương An Trích chớ nào xót xa !
Kho tàng mỹ nữ đã chia,
Chẳng còn chi nữa để mà thay chân,
Hứa rằng mai mốt chiến công,
Đền bù xứng đáng được phần nhiều hơn.”

An Gia vương đáp giận hờn :
“An Sinh bày kế mưu toan dối lừa. 140
Trả nàng Sĩ Tuyết về nhà,
Cùng đàn súc vật cho cha tế thần.
Song ta, chịu thiệt rằng không !
Thì ta sẽ đoạt lấy phần của ngươi,
Phần nàng mỹ nữ đẹp tươi.
Hay của Uy Lĩnh (Ulysse), An Bắc (Ajax) mới thời chẳng thua !”

Thế là nổi trận bất hòa,
An Sinh tức giận, lời ra bừng bừng :
“Hỡi người trâng tráo tham lam,
Tướng, quân còn có nhất tâm phục tòng. 150
Bao nhiêu vương, tướng tùy tùng,
Làm sao kính phục đem lòng thương yêu.
Quên mình giao chiến quân thù,
Đạn tên, cái chết thiên thu sẵn sàng.
Như ta tham chiến chẳng màng
Người Troa (Troie) chẳng ghét, chẳng mang hận gì.
Bò ngựa chẳng cướp mang đi,
Mùa màng chẳng phá, chẳng chi phiền lòng.
Hai bên cách núi ngàn trùng,
Cách bờ sóng vỗ mênh mông chân trời. 160
Chỉ vì ta kính nể người,
Xót Mai Ninh Lạc (Ménélas), đến nơi báo thù.
Đầu rơi máu chảy mặc dù,
Thế người chẳng lấy làm điều nghĩ suy.
Toan dùng quyền lực tước đi,
Đoạt phần kẻ dưới, còn gì sĩ liêm.
Hỡi người mặt chó vô lương,
Hỏi rằng chiến phẩm ai hơn bằng người ?
Người ngồi hậu cứ xa vời,
Còn ta sinh tử kề vai nhọc nhằn. 170
Xông pha mũi giáo đường tên,
Từ nay ta sẽ chẳng nên vì người !
Về Phi Thy (Phthie) quê ta thôi,
Thuyền ta ngang dọc đất trời quê hương.
Chẳng thèm chiến đấu gian nan,
Chỉ vì mục đích giàu sang cho người”.

An Gia vương gay gắt lời :
“Đi đi, ta chẳng cần người kiêu căng !
Vạn người dưới trướng phục tòng,
Ý thần vương Dớt hộ ban đủ rồi. 180
Người là vua đáng khinh thôi,
Chiến trường nào chỉ mình người đấu tranh.
Nếu người hùng mạnh, anh hùng,
Có thần phù hộ vẫy vùng bao la,
Về quê đi với mẹ cha,
Dù người giận chẳng làm ta sờn lòng !
Nếu vì kính thần An Long,
Trả nàng Sĩ Tuyết là phần của ta,
Thì ta sẽ khiến người qua,
Bắt nàng Băng Tuyết (Breisès) thay ra, của người. 190
Phận thần dưới trướng : vua tôi,
Phục tùng là phận của người trung quân.
Mọi người lấy đó làm gương,
Tướng quân vâng lệnh chớ nên xem thường.
Xem vua vai vế ngang hàng,
Uy quyền, sức mạnh vua không ngang người.”

An Sinh tức giận khôn nguôi,
Chẳng dằn cơn nóng toan thời rút gươm.
Quán Trí (Athéné) thần nữ hiện bên,
Dằn tay, nắm tóc, nói riêng cùng chàng. 200
An Sinh bày tỏ phân trần :
“Cớ chi thần nữ hiện trong lúc này,
Nghe lời ngạo ngược chẳng hay,
Chướng tai gai mắt phơi bày thế gian.”

Quán Trí Tuệ khẽ xa gần :
“Chớ nên nóng tính, hãy dằn giận thôi.
Hạ Cơ (Héra) thần nữ truyền vời
Xuống trần khuyên nhủ những lời thẳng ngay.
Hãy nguôi cơn giận hôm nay,
Chớ nên vì bất bình này rút gươm. 210
Làm cho xâu xé anh em,
Hãy vì đại cuộc, thiệt hơn xá gì !”

An Sinh cúi mặt vâng lời :
“Cầu xin thần nữ xét soi tấm lòng,
Lời thần răn dạy xin vâng,
Tôi người tuân lệnh các thần trên cao.”

Tra gươm dũng tướng vái chào,
Quán Trí Tuệ thoáng biến theo cánh hồng.
Về Thiên Sơn (Olympe) chốn thiên đình,
Bàn đào tiên hội, các thần tiệc vui. 220
An Sinh lòng vẫn chưa nguôi,
Quay sang An Trích tiếp lời hờn dai :
“Đồ tham, mắt chó, tim nai,
Chiến trường, đột kích, ai người đấu tranh.
Còn người chết nhát hậu quân,
Đến chia lợi phẩm, lại giành phần hơn.
Làm vua xương máu của dân,
Người là vua những kẻ hèn ích chi !
Với ta lần cuối lời này,
Cầm cây ngôn trượng, ta nay thề là : 230
Cây này, lá chẳng mọc ra,
Lời ta vững chắc như là núi cao.
An Kinh (Achéens) hối hận ngày nào,
Dưới đòn kẻ địch Hắc Tô (Hector) trận tiền.
Ra vào chiến trận đảo điên,
Sĩ quân gục ngã chiến trường thảm thương.
Dù người có xé con tim,
Để mà hối hận ô danh tướng tài.
Để cho chiến trận thiệt thòi,
Lỗi lầm đốn nhục của người hôm nay.”
240
Nói rồi vất trượng trên tay.
Ninh Tô (Nector) vương lão đến ngay khuyên rằng
Cất lời mật ngọt dỗ dành,
Bao nhiêu kinh nghiệm quân trung luận bàn.
Đã ba thế hệ trị dân,
Phi Lô (Pylos) thành vững, muôn dân hùng cường :
“Than ôi đau đớn nào hơn !
Người chung một giống An Kinh tranh phần.
Vua Bam (Priam) con cái cười thầm,
Dân Troa sung sướng, nức lòng nào hơn. 250
Hai người cao cấp Đa Niên (Daniens),
Giành nhau vì gái, thiệt hơn bất hòa.
Hai người trẻ tuổi hơn ta,
Lắng nghe ta ngỏ, điều là thiệt hơn
Hai người trách nhiệm ba quân,
Giữa trong trận chiến ngày càng khó khăn.
Dù làm vua lắm quyền hành,
Chẳng nên cướp đoạt tranh giành mỹ nhân.
Chỉ nên lấy đó làm phần,
Thưởng cho tướng lĩnh trung quân, hiền tài. 260
An Sinh phận tướng làm tôi,
Chớ nên ỷ sức tranh thôi, chẳng chừa.
Làm tôi dẫu phận thiệt thua,
Trượng vàng thần Dớt, lệnh vua tuân hành.
Dẫu người sức mạnh hùng anh,
Mẹ người thần nữ, ai tranh sức cùng.
Làm vua trị nước an dân,
Nào đâu xe ngựa, thanh gươm chiến trường.
An Trích, phận ngôi cửu trùng,
Hãy nguôi cơn giận với cùng tướng quân. 270
An Sinh, thành lũy anh hùng,
Là người cột trụ cuộc chinh chiến này.”

An Gia vương phán quyết ngay :
“Cám ơn vương lão tỏ bày thiệt hơn,
Nhưng người này thói ngang tàng,
Muốn hơn tất cả chẳng màng quân giai.
Muốn hơn hết, chẳng vâng lời,
Cả thần chẳng nể, chi người làm vua.”

An Sinh hờn dỗi chẳng vừa:
“Ta người ương ngạnh, chẳng ưa lệnh gì. 280
Hãy sai khiến kẻ khác đi,
Còn ta mặc kệ, nói gì đến ta.
Một lời hãy nhớ lấy là
Ta không vì một đàn bà đấu tranh,
Chẳng vì người, chẳng ai cùng,
Của người cứ lấy, ta không tranh giành.
Của ta mang đến quân thuyền,
Chớ nên đụng đến mà phiền ngọn lao.
Số phần sẽ đẫm máu đào.”

Nói rồi bước thẳng đi mau xuống thuyền. 290
Hội đồng giải tán, tan hàng,
Trở về tuyến trận, bàng hoàng ba quân.
An Sinh về hậu cứ thuyền,
Cùng bạn Ban Tuất (Patrocle) và đoàn sĩ quan.
An Trích ra lệnh chọn thuyền,
Hai mươi chèo lái, vật mang tế thần.
Tận tay dắt bước xuống thuyền,
Đưa nàng Sĩ Tuyết má hồng về cha.
Uy Lĩnh (Ulysse) điều khiển thuyền ra,
Hướng đền trực chỉ, thuyền qua biển ngàn. 300
An Gia ra lệnh tẩy trần,
Rắc vôi, dẹp rác, tế thần An Long.
Trên đồi cát trắng biển xanh,
Bò, cừu cúng tế, mùi hương ngát trời.
An Gia vương chẳng nguôi ngoai,
Sai Tân, Âu Bạc hai người vệ quan : (Talthybios: Tân Thy Bộc, Eurybate : Âu Thy Bạc)
“Hãy sang hậu cứ An Sinh,
Kiệu nàng Băng Tuyết (Briséis) má hồng về đây.
Nếu hắn chẳng chịu cho ngay,
Bảo ta sẽ đến, sự này xem sao ?”
310
Vệ quan lòng chẳng muốn nào,
Bước qua đồi cát đi vào hậu quân,
Nơi dinh thuyền Nguyệt My Đông (Myrmidons),
An Sinh thoáng thấy, đứng ngăn lối vào.
Hai người lặng lẽ nhìn nhau,
Lòng đầy sợ hãi, chẳng sao thốt lời.
An Sinh hiểu ý nhạt cười :
“Chào quan thị vệ, vua vời người sang.
Các người vâng lệnh đại vương,
Bắt nàng Băng Tuyết, lệnh truyền phải theo. 320
Ban Tuất (Patrocle) vào dẫn nàng nào,
Bảo nàng vâng lệnh, sang hầu nhà vua.
Có thần chứng kiến cho ta,
Nhà vua chẳng biết đâu là sỉ liêm.
Nhỏ nhoi, lòng dạ thấp hèn,
Đừng hòng có lúc đi tìm đến ta.
Dù bao tai họa xảy ra,
Đừng cầu ta đến, xông pha trận tiền.”

Ban Tuất vâng lệnh bạn hiền,
Dẫn nàng Băng Tuyết má hồng trao sang. 330
Cho hai thị vệ kiệu nàng,
Bước đi lưu luyến, nhìn sang bồi hồi.

CƠN GIẬN CỦA ACHILLE

Kiệu vừa khuất bóng sau đồi,
An Sinh nước mắt bên trời luyến thương,
Ngồi bên đồi cát mơ màng,
Biển tung bọt trắng mênh mang chân trời.
Chắp tay cầu khẩn: “Mẹ ơi !
Mẹ sinh con chốn trần đời bon chen;
Vinh danh mẹ cõi thiên cung,
Còn con nhục nhã, đau thương cõi này. 340
An Gia vương ỷ quyền uy,
Làm con nhục nhã, giờ đây hận sầu.”

Thê Túc, thần nữ biển sâu,
Lắng nghe tiếng khóc khẩn cầu của con.
Thương con, thần nữ hiện bên,
Cầm tay xoa nỗi oán hờn thương đau,
Chạnh lòng, khẽ hỏi: “Vì sao ?
Con ơi sao khóc, sầu nào con mang ?
Nói đi con, nỗi oán hờn,
Nỗi nào con muốn, mẹ con giải giùm ?”
350
An Sinh đau khổ, uất căm :
“Mẹ ơi, con kể ngọn ngành nguồn cơn,
Thê Bê (Thébè) chiến trận căn nguyên,
Âu Thông (Eétion) chiến bại trận tiền bại vong.
An Kinh chiến thắng hào hùng,
Chiến công: mỹ nữ, bạc vàng phân chia.
Phần vua An Gia đại vương.
Có nàng Sĩ Tuyết má hồng giai nhân.
Con gái tế tự An Long,
Sĩ Tiết lễ vật, khẩn lòng chuộc con.
Tỏ bày khăn trắng, trượng vàng.
Hội đồng Tướng kính thần linh tha nàng. 360
Riêng vua An Trích tham lam,
Thốt lời giận đuổi cha nàng đớn đau,
Cụ già buồn tủi khẩn cầu,
An Long thần đã báo thù thảm thương.
Tên thần bắn xuống An Kinh,
Dịch thần gieo rắc chiến trường thê lương.
Hội đồng quân tướng luận bàn:
Mời tiên tri đến, tỏ tường ra sao ?
Con đà khuyên nhủ trước sau,
Tạ thần giận dữ, hãy mau tha nàng. 370
Ngờ đâu An Trích oán hờn,
Thả nàng Sĩ Tuyết, bắt đền phần con.
Mới vừa cho thị vệ sang,
Bắt nàng Băng Tuyết yêu thương mang về.
Mẹ ơi trả hận con nghe !
Chỉ mình mẹ, Dớt say mê lòng.
Vì lời mẹ nói dịu dàng,
Vì hành động mẹ đẹp lòng thần vương,
Con nghe từ chốn Thiên Sơn,
Vây quanh thần Dớt xui nên tâu trình. 380
Hạ Cơ (Héra) và Hải Long vương (Poséidon),
Quán Trí thần nữ họp cùng An Kinh.
Hãy quỳ bên gối thần vương,
Cầu cho phần thắng Troa dân nghiêng về.
Trừng trị An Trích u mê,
Khinh thường xúc phạm nặng nề đến con.”

Thê Túc đau xót lệ buồn :
“Con ơi ta đã nuôi con trưởng thành,
Nào ngờ đau khổ phận dành,
Đời con ngắn ngủi chiến tranh hận thù. 390
Hãy lau nước mắt thương đau,
Con ơi, vui vẻ, chớ sầu thở than.
Thương con mẹ sẽ lên đường,
Thiên Sơn cầu khẩn thần vương phục thù.
Mệnh con ngắn ngủi thương đau,
Binh đoàn hãy tụ bên nhau gần thuyền.
Chớ nên nổi giận bất bình,
Và con tuyệt đối hãy ngừng giao tranh.
Dớt còn kinh lý Đại Dương,
Chư hầu dự tiệc nơi miền Hắc Phi (Ethiopie). 400
Mười hai ngày nữa về đây,
Vì con mẹ sẽ đến ngay thiên đình.
Mẹ lên đến trước cửa đồng,
Cúi đầu cầu khẩn tỏ lòng thần vương.”

Rời con về biển mênh mông,
Thê Túc rẽ sóng, ngàn trùng nước mây.
An Sinh trống vắng sầu bi,
Nhớ nàng đai ngọc ra đi mà buồn.

Nói về Uy Lĩnh dong thuyền,
Đem Sĩ Tuyết đến trả nàng cho cha. 410
Một trăm cừu tặng làm quà,
Tế An Long cứu độ qua dịch thần.
Thuyền vào bến nước đền trong,
Xếp buồm chèo giữa nắng hồng tà huy.
Bỏ neo trước bến đền mây,
Kiệu nàng Sĩ Tuyết trao tay cha nàng.
Chân thành tạ những lỗi lầm,
Trước đền hương khói cầu thần chứng minh.
Sĩ Tiết, tế tự An Long,
Vui mừng con gái đợi trông, tạ tình. 420
Được trăm cừu để tế thần,
Cầu thần Cung Bạc nhủ lòng xót thương.
Ngừng cơn giận dữ bắn tên,
Cho An Kinh được thoát cơn hiểm nghèo.
Thần An Long đỉnh mây cao,
Nghe lời cầu khẩn thương đau cõi trần.
Chủ tế rắc lúa mạch xong,
Nắm đầu vật tế, cổ nâng lên bàn,
Đoản đao thọc huyết máu tuôn,
Lột da, đùi tế phủ lên mỡ chài. 430
Đặt lên trên lớp thịt tươi,
Cụ già đốt củi lửa nơi bếp đình.
Tưới lên rượu cháy lửa xanh,
Các thầy tế trẻ cầm ghim năm chìa.
Trở cho đùi cháy trên nia,
Cầu thần phụng hưởng đến tia lửa tàn.
Đến phần còn lại tim gan,
Xẻ ghim, nấu nương cỗ bàn tiệc vui.
Rượu ngon, nâng chén cùng mời,
Phúc thần tế độ cho người thỏa thuê. 440
Sau khi rượu thịt no nê,
Cùng nhau múa hát, bài vè thần ban.
An Đông nguôi giận đổi lòng,
Chở che phù hộ, dịch thần tiêu tan.
Chung vui bên ngọn lửa tàn,
Uy Lĩnh từ giả lui quân về thuyền.
Ngủ vùi say giấc đêm đen,
Sương lam mờ mịt bên đền mênh mông.
Bình minh bừng ngón tay hồng,
Ra khơi thuyền lại về trong lũy đồn. 450
Thần An Long thổi gió Nam,
Xuôi buồm căng gió con thuyền sóng đưa.
Xanh xanh trời nước gió đùa,
Trở về đồn lũy quanh Troa vây thành.
Thuyền đen đậu khuất ghềnh xanh,
Đẩy thuyền lên bãi, về dinh báo cùng.
Hội đồng Tướng lãnh vui mừng,
Yên lòng cơn dịch đã tàn, tóc tang.

Về phần quân tướng An Sinh,
Đóng yên bất động vẫn căm hận lòng. 460
An Sinh Phi Túc tướng quân,
Chẳng thèm đi đến quân trung Hội đồng...
Chẳng còn chiến đấu chung cùng,
Ngồi buồn nhìn bóng chiều không, ra vào,
Lòng còn luyến tiếc gươm đao,
Lòng còn vang vọng tiếng gào ba quân.

Mười hai ngày tiệc đã xong,
Các thần trở lại cung đình Thiên Sơn.
Thần vương Dớt dẫn thần tiên,
Ngàn mây trắng mộng về miền Thiên Sơn. 470
Áo mây đỏ sắc hoàng hôn,
thần vương đi trước trên ngàn tượng mây.
Thiên đnh thoáng đã đến ngay,
Dớt lui về đỉnh non Tây một mình.

Thê Túc nhớ đến lời con,
Thủy cung vượt sóng đội sương thiên đình.
Thần tử Cồ Nốt (Chronos) một mình.
Ngồi xa một đỉnh non thần hoang vu.
Bên thần quỳ gối cúi đầu,
Tay xoa gối trái, tay râu vuốt cằm. 480
Dớt đà tê tái bàng hoàng,
Người yêu trong mộng, mơ màng thiên cung.
“Dớt, phụ vương các thần tiên,
Xin Ngài vì thiếp ban ơn phước này,
Con thiếp, mệnh ngắn ngủi thay !
Lại còn bị nhục hôm nay cõi đời,
An Gia vương vua cõi người,
Ỷ danh hiếp đáp, đoạt đòi giai nhân.
Vốn là phần thưởng chiến công,
Làm cho con thiếp đau lòng héo hon. 490
Thương con khuya sớm tủi buồn,
Xót đau lòng mẹ ruột tằm chẳng yên.
Ngài ơi, thương thiếp hãy nên,
Làm cho thắng lợi Troa quân nghiêng phần.
Cho An Gia vương phải chịu đền,
Bồi thường danh dự mới nên phục hồi.”

Dớt im lặng chẳng trả lời,
Láo liên xem có ai nơi non thần,
Hạ Cơ, chằng nữa vợ hiền,
Tha hồ vụng trộm ai nâng râu cằm ! 500
Lời nàng thỏ thẻ dịu dàng :
“Hứa cho thần thiếp chút ơn sủng này.
Xin Ngài hãy gật đầu ngay,
Hay là từ chối lắc lay râu cằm.
Biết Ngài nể sợ ai hơn,
Mấy khi thiếp mới về bên thiên đình.”

Thở ra Dớt tỏ nỗi lòng :
“Buồn thay nàng bắt ta thành trái ngang.
Giúp làm sao mụ vợ chằng,
Hạ Cơ lớn tiếng oang oang nhức đầu. 510
Trước chư thần có nể đâu,
Vào ra tranh cãi ta nào vị thiên.
Bênh quân Troa, nàng ghét hờn,
Ôi thôi nàng hãy đi liền chớ nên.
Để Hạ Cơ thấy nổi ghen,
Phần ta hứa sẽ giúp nàng áp phe.
Cho yên công việc mọi bề,
Yên tâm nàng hãy trở về Thủy cung.
Phần ta sẽ gật đầu xong,
Kẻo mà tai vách, mạch rừng thấy hay. ”
520
Nói rồi thần Dớt chau mày,
Tóc tai dựng đứng khẽ lay, gật đầu.
Thiên đình sấm động non cao,
Thê Túc từ giã, phóng mau biển ngàn.
Chư thần vội vã đến nhanh,
Lấm la lấm lét xem thần quở ai ?
Hạ Cơ cũng đến đánh hơi
Mùi hương biển mặn, chao ôi nồng nàn !
Nữ thần tằng hắng hỏi rằng :
“Thủy cung mấy thuở có thần đến chơi ? 530
Biết rồi, Ông thích xa tôi,
Thích ngồi bí mật nghỉ ngơi một mình.
Thích ngồi thương nhớ tự tình,
Chẳng hay gỡ mối tơ lòng đã xong ?”

Thần vương lấm lét mới rằng :
“Hạ Cơ chẳng thể tỏ tường ý ta,
Dù bà là vợ trong nhà,
Còn ta muôn kẻ vào ra tâu trình,
Việc ta giải quyết một mình,
Chẳng nên gặng hỏi sự tình mà chi.”
540
Hạ Cơ trợn mắt tức thì :
“Láo chưa, Ông dám nói gì riêng chung ?
Mấy khi tôi hỏi sự tình,
Để Ông yên lặng một mình mặc Ông.
Hôm nay tôi mới biết rằng,
Đĩ thần Thê Túc, con ông Thủy Tề.
Đội sương vượt biển đi về,
Vuốt râu, cọ má, ngồi kề bên Ông.
Chẳng hay Ông hứa gì chăng ?
Gật đầu sấm chớp sáng trưng thiên đình. 550
Phải chăng phục hận An Sinh,
Làm cho quân lính An Kinh tơi bời.”

Vội vàng Dớt thẹn đáp lời :
“Quỷ chằng ! cứ tưởng rằng ai cũng mùi,
Ta đà dấu diếm chi ai,
Chẳng gì có thể làm tôi xa bà.
Chớ nên nổi giận gào la,
Chớ mất bình tỉnh lời ra hỗn hào,
Hãy ngồi im lặng xem sao,
Nghe lời ta chớ ồn ào nói năng. 560
Rằng đây là chốn thiên đình,
Các thần soi mói, thần trông, thần dòm.
Hãy vì ta phải nể nang,
Không thì ta vả bể mồm thị uy.”

Hạ Cơ nguôi giận tức thì,
Bên chồng ngồi xuống máu sôi nguội dần.
Trong cung điện tiếng thì thầm,
Các thần nheo mắt luận bàn riêng chung.
Rồi cười khúc khích mông lung,
Hỏa Thái Sơn (Héphaïstos) tỏ với cùng mẹ, cha : 570
“Chớ nên cãi lộn trong nhà,
Các thần tám cõi dòm ra, nói vào.
Tiệc thiên đình chớ ồn ào,
Các thần đến dự lòng nào được vui !
Mẹ nên giữ tiếng giữ lời,
Nói lời êm ái, cha thôi phiền lòng.
Cha, thần mạnh nhất các thần,
Một lời mẹ nhịn, thiên đình được vui.”

Nói rồi Hoả Thái nâng ly,
Chiếc cúp vàng chạm hai quai, rượu hồng. 580
Tay trao cho mẹ thì thầm :
“Mẹ ơi, nguôi giận, trong lòng chớ lo,
Mẹ ơi, chớ có tiếng to,
Con luôn bênh vực giúp cho mẹ hiền,
Con từng vì mẹ bị đòn,
Chẳng ai chống cự phụ thân được mà.
Một lần giúp mẹ ngày xưa,
Nắm chân, cha ném con qua cõi trần.
Rơi cả ngày đến chiều hồng,
Thổi núi lửa Lâm Nốt (Lemnos), thợ rèn Sinh Tiên (sintiens) 590
Đời như hơi thở nhẹ nhàng,
Thiên đình bất tử, cõi trần phù dung.”

Hạ Cơ nghe nói cười dòn,
Đón cầm chiếc cúp tay con vui cùng.
Nước cam lồ ngọt mật ngon,
Thần Hoả Thái khẽ nỉ non rót mời.
Lê chân cà thọt khắp nơi,
Làm thần tiên cũng cười vui rộn ràng.
Thần An Long dạo cung đàn,
Các nàng Muy (Muses) hát lời vang êm đềm. 600
Cung đàn tuyệt diệu êm êm,
Lời thơ nào ngọt môi mềm tiếng ca.
Cười vui cho đến chiều tà,
Ai về cung nấy, thướt tha mây hồng.
Cung Dớt lộng lẫy vô cùng
Do thần Hoả Thái tay thần dựng xây.
Gối giường đã sẵn an bày,
Thần vương vào giấc ngủ say mơ màng,
Hạ Cơ mới đến nằm bên,
Cõi thần dị mộng, đồng sàng ai hay ! 610

Chú thích


- Héra (Hạ Cơ) vợ thần vương Zeus, Zeus sợ vợ, nhưng thích vụng trộm, nhất là với Thétis mẹ Achille.
- Thiên trượng : Hy Lạp ngày xưa để nói giữa đám đông, họ đặt ra cây thiên trượng, thiên trượng trao ai người ấy mới nói, để tránh mọi người nói cùng một lượt không ai nghe ai.
- Eétion (Âu Thông) là cha Andromaque (An Độ Mai) tức cha vợ tướng Hector, con cả vua Priam.
- Zeus : là con thần Chronos. Zeus đã từng tranh nhau Thétis với Posséidon, nhưng vì tiên tri báo điều tai họa nên phải gả Thétis cho vua Pélée, sinh ra Achille. Achille có đôi chân chạy nhanh nên còn gọi là Phi Túc.
- Lemnos : Lâm Nốt, Lâm Môn vùng Mosychlos, núi lửa là lò rèn của thần Hoả Thái, tương truyền nơi đó Prométhé đánh cắp lửa.
- Achille (An Sinh) Con nữ thần biển Thétis (Thê Túc) và vua Pélée vùng Thessalie, dân cư gọi là Myrmidon. (Nguyệt My Đông)
- Atride Aggamemnon (An Trích An Gia Đại vương) vua Mycènes. Tổng chỉ huy Liên quân Hy Lạp.
- Apollon : con thần Zeus và nàng Latone.
- Nestor (Ninh Tô) vua Pylos. Vị vua cao tuổi nhất trong các thủ lĩnh Hy Lạp.

Paris 1-5-2016
NHẤT UYÊN PHẠM TRỌNG CHÁNH dịch sang lục bát