Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Cổ học > SỬ THI ILIADE Khúc 24

THI HÀO HOMÈRE

SỬ THI ILIADE Khúc 24

(từ câu 15883 đến 16933)

Thứ Năm 29, Tháng Mười Một 2018

JPEG - 50.3 kb
Vua Priam cầu xin Achille

TÓM TẮT

Achille hằng ngày kéo lê xác Hector quanh mồ Patrocle. Thần vương Zeus truyền lệnh cho nữ thần Thétis bảo Achille trả xác; mặc khác khiến vua Priam đi chuộc xác con. Vua cùng người hầu cận lên đường với bao lễ vật quý, được thần Hermès đưa đến tận dinh trại Achille. Achille chấp nhận thỉnh cầu và trả xác Hector lại cho Priam, rồi vua được thần Hermes đưa về thành. Lời than khóc của Andromaque, Hécube và Hélène trong đám tang Hector.

Chương XXIV kết thúc Sử Thi Iliade là một thi ca khúc tuyệt vời. Vua Priam đích thân mang quà tặng xin chuộc xác Hector, đích thân đến gặp Achille người giết con mình với sự trợ giúp của thần Hermès mà không cần đến sứ giả, điều này không ai tưởng tượng được trong giai đoạn cuối cuộc chiến tranh khốc liệt sau gần mười năm. Lời nói vua Priam làm cảm động Achille, làm chàng nhớ cha khóc nức nở, và bằng lòng trao trả xác Hector với lệnh hưu chiến 12 ngày dành cho tang lễ.

Kết thúc Sử Thi bằng lời Andromaque khóc chồng, hoàng hậu Hécube khóc con và Hélène cũng khóc thương Hector. Mỗi lời khóc một điệu buồn thi ca tuyệt tác làm ta thương cảm Hector, người anh hùng trong sáng bị bại trận. Thi hào Homère không tung hô người anh hùng chiến thắng và mạt sát người bại trận mà cho rằng các tai ương và sự an lành được thần vương Zeus ban phát. Từ vua đến dân ai cũng chịu chung số phận. Trước thềm Zeus ở Thiên Cung có hai vò tặng vật: “Kẻ thì Thần Sấm công minh cho đều, khi tai ương khi thuận chiều, Kẻ thời Ngài chỉ cho nhiều tai ương. Biến thành đối tượng đau thương. Đói cào cả ruột đi trên đất bằng. Lang thang đây đó người khinh. Cuộc đời như thế đường cùng vua dân”.

VUA PRIAM CHUỘC XÁC HECTOR

Thao trường kết thúc cuộc tranh ; 15883
Quân binh phân tán về quanh trại thuyền.
Cơm chiều say giấc êm đềm.
An Sinh vẫn khóc bạn hiền xót đau.
Mọi người say giấc chiêm bao,
Mình chàng trăn trở, tâm bào xót thương.
Nhớ bạn Ban Tuấn kiên cường,
Bao nhiêu kỷ niệm vui buồn cùng nhau. 15890
Bao nhiêu trận chiến dãi dầu,
Hiểm nguy vượt sóng, gian lao chiến trường.
Nhớ người dòng lệ chảy tuôn,
Ngửa, nghiêng, úp mặt bồn chồn xót xa.
Đứng lên buồn bả bước ra,
Lang thang trên bãi, chân đưa thẩn thờ,
Bình minh bừng nắng biển mờ,
Thắng ngựa kéo xác Hải Tô quanh mồ.
Ba lần xe ngựa quanh co,
Về dinh trại lại thẩn thờ lặng câm. 15900
Mặc tình bụi bám xác thân,
Hải Tô úp mặt, mình trần thê lương,
Thần An Long xót thương chàng,
Phủ quanh xác một khiên vàng hào quang,
Để khi kéo xác An Sinh
Không làm rách nát, thân mình tổn thương.
An Sinh rửa nhục đớn hèn,
Trong cơn phẩn nộ hành hình Hải Tô.
Các Thần linh cõi thiên thu,
Động lòng ái ngại, nhân từ xót thương. 15910
Dục Thần Ánh Sáng Thông Minh,(Apollon)
Dấu luôn thi thể, chớ nên tội hành.
Thiên cung trừ có ba Thần.
Hạ Cơ, Mắt Cú, Hải Long vẫn còn,(Héra, Athéné, Poséidon)
Giữ nguyên thù hận căm hờn,
Vua Biam cùng với dân thành Ý Long.
Do Bá Lộc mắc sai lầm.(Pâris)
Đã trao táo, Vệ Nữ thần đã ban,*
Đa tình tai hại vô song,
Lỗi lầm xúc phạm các Thần trên ngôi. 15920
Ngày bình minh thứ mười hai,
Hải Tô tử trận. Từ nơi Thiên đình.
Thần An Long cất tiếng rằng :
Các Thần độc ác , bất công vô cùng.
Hải Tô chẳng cúng tế chăng ?
Đùi dê, bò béo tế dâng các Thần. ?
Giờ đây đã chết dẫu rằng,
Còn ai cứu vớt, quan tâm đến chàng.
Để tang cho mẹ, vợ con,
Biam Vương lão, toàn dân kinh thành. 15930
Đặt lên giàn lửa thiêu hồng,
Cho chàng nghi thức vẹn toàn lễ tang.
Các Thần phù trợ An Sinh,
Tâm tình hung ác dã man trong lòng.
Như con sư tử hung tàn,
Điên cuồng lao giữa một đàn súc sinh,
Bữa ăn ngon kiếm cho mình,
An Sinh như thế, chẳng tình xót thương.
Chẳng còn xấu hổ trong lòng,
Chẳng còn hối tiếc lưu tâm vì đời. 15940
Chẳng còn nghĩ đến lệ rơi,
Những người đau đớn mất người thân thương.
Anh em, vợ khóc đau buồn,
Mà Thần Số Mệnh ban ơn mong chờ,
An Sinh buộc xác Hải Tô,
Kéo lê sau ngựa quanh mồ bạn thân.
Việc làm ích lợi gì chăng ?
Tốt, hay đúng việc bất nhân hắn làm.
Dù cho hắn có kiên cường,
Hãy làm hắn sợ, kính kiên các Thần. 15950
Cớ chi đối xử xác thân,
Như là cục đất, xem không ra gì ?
Hạ Cơ nổi giận tức thì :
Nói hay, hay thật bấc chì ngang nhau ?
Thần Cung Bạc công bằng sao ?
Hải Tô ngang ngửa thế nào An Sinh ?
Hải Tô bú mẹ dương trần,
An Sinh bởi mẹ nữ thần cõi thiên.
Ta từng dưỡng dục chăm nom,
Gả làm vợ kẻ trần gian ngày nào.* 15960
Các Thần yêu quý cùng nhau,
Dự vào tiệc đủ ngôi cao các Thần.
Ai ôm đàn hát dự phần, *
Mà nay giúp lũ bất nhân dối lừa.
Đấng Hội Vân vội giảng hòa :
Hạ Cơ chớ giận hét la các Thần!
Hai người không giống quang vinh,
Hải Tô dù được các Thần mến yêu,
Dân Ý Long đến ngôi cao,
Bởi chàng không sót, lễ nào cũng dâng. 15970
Bàn thờ cổ tiệc công bằng,
Rượu mừng, hương xạ thơm lừng vinh danh.
Ta không có cách gì mong,
Mang Hải Tô dấu, mà chàng không hay.
An Sinh nghe lời mẹ đây,
Vậy Thần nào hãy mời ngay mẹ chàng,
Để ta phân giải tỏ tường,
Để An Sinh nhận Vua Biam phẩm quà.
Và lời cảm động lòng cha..
Nghe lời Y Bích chân đà phóng nhanh. (Iris) 15980
Sa Mô, An Bối khô cằn,(Samos, Impros)
Lao mình vào biển u trầm sóng cao,
Thủy cung muôn ngọn sóng đào,
Quanh đàn cá lội lao xao háo mồi.
Động đào Thê Túc đang ngồi,
Quanh nàng tiên nữ biển trời nước xanh.
Nàng ngồi than khóc phận mình,
Đứa con yêu quí bạc phần ngày mai.
Đồng Troa màu mở xa vời,
Sẽ hy sinh cả cuộc đời thanh xuân. 15990
Dừng chân Y Bích lời rằng :
Thần Vương Bất Tử gọi nàng đến nhanh.
Nữ Thần Thê Túc ngạc nhiên :
Đấng Siêu Thần gọi mời lên cớ gì ?
Lòng tôi e ngại, hổ ngươi,
Những khi gặp gỡ Thần Trời cõi thiên.
Vì tôi đau đớn sầu riêng,
Dù sao tôi cũng đi lên gặp Ngài.
Những gì Ngài phán truyền lời,
Hẵn không vô ích với đời đau thương. 16000
Nói rồi mặc áo choàng xanh,
Màu xanh biển thẩm nhất trong động đình.
Y Bích đi trước dẫn đường,
Nước xanh rẽ sóng đại dương quanh nàng.
Đến bờ dốc đá vươn trên,
Hai nàng bay vút cao lên Thiên Đình.
Thần Vương từ thoáng xa trông,
Các Thần Bất Tử hội đồng ngồi quanh.
Quán Trí nhường chỗ cho nàng,
Thê Túc ngồi xuống cạnh cùng Thần Vương. 16010
Hạ Cơ mời cúp rượu nồng,
Lời êm dịu ngọt trấn an nữ thần ,
Thê Túc uống, trả cúp vàng,
Cha Thần Người cất tiếng bàn trước tiên :
Thê Túc trở lại Thiên Sơn,
Dù bao phiền muộn vấn vương cõi lòng,
Ta đà biết rõ tim gan,
Dù sao ta cũng gọi nàng nói ra,
Vì sao mời đến cung ta,
Chín hôm rồi, nỗi bất hoà Thiên Cung. 16020
Vụ việc can dự An Sinh,
Và về thi thể của chàng Hải Tô.
Các Thần muốn Phổ Bút lo,(Phébus )
Tìm phương lấy trộm dấu cho, thi hài.
Nhưng ta chẳng muốn một ai,
Tước đi vinh dự con người An Sinh.
Cho nên muốn nói nàng rằng,
Bảo An Sinh trả xác thân lại liền,
Vì lòng kính trọng mẹ hiền,
Nàng mau đến chốn binh thuyền Đạt Liên.(Argiens) 16030
Bảo con mệnh lệnh phân minh,
Bảo An Sinh biết thần linh bất bình.
Cả ta, hơn nữa các Thần,
Giận vì hắn mãi trong cơn điên rồ.
Bên thuyền hành xác Hải Tô,
Mà không trả lại về cho gia đình,
Để xem hắn có sợ run,
Mà đem trả lại xác thân cho người.
Ta sai Y Bích truyền lời,
Vua Biam đi tận đến nơi binh thuyền. 16040
Mang bao tặng vật vàng đồng,
Cho An Sinh được nguôi lòng hờn căm.
Nghe lời Thê Túc mệnh vâng.
Rời Thiên Sơn nhảy bước chân lẹ làng,
Bên trại con đang than van,
Chung quanh đồng đội đang làm bữa ăn.
Cừu to thịt béo dày lông,
Giết trong lều vật hy sinh tế thần.
Bên con Thê Túc Nữ Thần,
Vuốt ve an ủi, con rằng : Hỡi con! 16050
Đến bao giờ dứt đau thương,
Quên ăn, quên ngủ lệ tràn xót xa,
Chỉ tình yêu mẹ bao la,
Làm con có thể, may ra nhẹ lòng,
Và con còn sống bao lăm,
Mệnh phần đang đợi, chẳng mong thoát nào.
Mẹ từ lệnh Dớt trời cao,
Vì con Thần đã biết bao bất bình,
Các Thần Bất Tử Thiên Sơn,
Vô cùng giận dữ vì con thù hằn. 16060
Giữ xác Hải Tô bên thuyền,
Mà không trả lại gia đình chờ mong,
Thôi con hãy trả xác thân,
Nhận quà chuộc xác người thân khẩn cầu.
An Sinh Phi Túc đáp mau :
Vậy thì ai đó mang trao vàng đồng,
Thì con sẽ trả xác thân,
Con xin vâng mệnh Thiên Đình lệnh ban.
Trong dinh trại cạnh chiến thuyền,
Mẹ con trao đổi hàn huyên sự tình. 16070
Thần Vương sai bảo Nữ thần
Y Bích bay đến Ý Long lệnh truyền:
Hãy lên đường rời Thiên Sơn,
Truyền Vua Biam đến dinh thuyền An Kinh,
Mang quà vật tặng An Sinh,
Nguôi cơn giận, trả xác con, khẩn cầu.
Một mình kín đáo đêm thâu,
Một viên thị vệ theo hầu tuổi cao.
Dắt lừa khiển bánh xe to
Để mang thi thể Hải Tô về thành. 16080
Chớ lo nguy hiểm hại thân,
Ta sai Thần đến đưa chân chỉ đường,
Vị Thần Sáng Láng Dung Nhan,*
Dắt dìu đưa tận dinh thuyền An Sinh,
Tại đây Phi Túc tướng quân,
Sẽ không giết hại mà còn cản ngăn
Những ai muốn ám hại ông.
Vì chàng biết lẽ khôn ngoan công bằng.
Chẳng loạn trí, rất lưu tâm,
Tiếp tân kẻ đến cầu xin con mình. 16090
Nghe lời Y Bích bay liền,
Chân Phi Phong đạt lệnh truyền Thần Vương.*
Đến lâu đài Vua Biam,
Nỉ non tiếng khóc xót thương anh hùng,
Các con trai ngồi trong sân,
Quanh cha nước mắt ướt đầm khóc than,
Lão Vương choàng kín khăn quàng,
Trên đầu cổ bám bụi rơm cát đầy,
Khi lăn mình tự nhặt tay,
Tung lên cát bẩn, bụi này xót đau. 16100
Các công chúa, các nàng dâu,
Rỉ rên than vãn khẩn cầu bên nhau.
Nhớ người dũng sĩ anh hào,
Vì thành đô đã thương đau lìa trần.
Bên Vua Biam, vị Nữ Thần,
Dừng chân nói nhỏ lệnh truyền Thần Vương.
Rùng mình kinh dị Vua Biam :
Đạt Đa tôn tử, yên tâm vững lòng.(Dardanos)
Ta không mang báo tin buồn,
Mà mang ý của Thần Vương cao vời. 16110
Xót xa thương hại Ngài thôi,
Thần Vương khuyên hãy đi đòi xác con,
Mang theo phẩm vật vàng đồng,
Cho An Sinh được nguôi lòng giận điên,
Một người hầu cận cao niên,
Dắt lừa, xe gỗ tròn niền bánh cao,
Để mang thi thể Hải Tô,
Chớ nghĩ chết chóc, chớ lo sợ gì !
Thần dẫn đường dắt lối đi,
Thần linh vĩ đại Dung Nghi Sáng Ngời. 16120
Sẽ đưa Ngài đến tận nơi,
Trại nơi dũng tướng thần trời An Sinh.
Chàng sẽ không bắt giết ông,
Còn ngăn kẻ khác muốn xâm phạm vào.
Chàng người sáng suốt biết điều,
Dung tha người đến khẩn cầu xót đau.
Dứt lời Y Bích biến mau.
Vua Biam dục các con mau xe lừa,
Bánh tròn đóng chắc thùng xa,
Đích thân ông đến cung hoa kho tàng. 16130
Gỗ sồi nền lát, cao trần,
Chứa muôn châu báu ngọc vàng thế gian.
Gọi bà Huê Cúc bảo rằng (Hécube) :
Thần Vương sai một vị thần Thiên Sơn,
Bảo ta đi chuộc xác con,
Đem theo xe lớn và mang vật quà,
Biếu An Sinh nguôi giận, mà..
Việc này thì ý riêng bà thế nao ?
Lòng ta lửa cháy thế nào,
Giục ta cất bước đến mau dinh thuyền. 16140
Nơi bản doanh trại Đạt Liên.
Nghe lời Huê Cúc như điên thét rằng :
Khổ ! ông có mất trí không ?
Xưa ông tỉnh táo lẫy lừng khôn ngoan.
Khắp các nước, khắp nhân dân,
Nghĩ sao ông muốn đích thân một mình.
Tới An Kinh nơi dinh thuyền,
Của người từng giết bao con anh hùng,
Phải ông tim dạ sắt đồng,
Con người quỷ quyệt bạo tàn bắt ông. 16150
Nể nang gì, có xót thương ?
Không! ông hãy ở trong phòng khóc than,
Chớ nên đối mặt An Sinh,
Hải Tô số phận thần linh định rồi.
Ngay từ lúc sơ sinh thôi,
Xác thân làm mồi, cho lũ chó ăn.
Nơi trại người lắm uy quyền,
Xa cha mẹ ngút cao hờn oán ta.
Ước gì xả thịt lột da,
Ăn gan mới hết xót xa cõi lòng. 16160
Hắn mang oan nghiệt vào mình,
Vì đang đối xử bạo tàn con ta.
Con ta nào có xấu xa,
Con ta kiêu dũng đứng ra anh hùng,
Trước bao nam nữ Troa dân,
Không hề sợ hãi mặc lòng hy sinh.
Đáp lời Vua Biam oai linh :
Lòng tôi đã quyết, bà đừng giữ chân,
Trong lâu đài trước mắt dân,
Chớ thành chim báo rũi rong điềm tồi. 16170
Lời bà khó thuyết phục tôi,
Nếu ai khuyên giục, lẽ lời trần gian,
Một ông thầy bói chuyên xem,
Bói điềm qua bộ ruột lòng vật sinh,
Hay thầy Tư tế cúng thần,
Thì ta sẽ phải kêu rằng dối dang.
Chẳng mảy may, một chút tin,
Nhưng đây là trước mắt Thần sáng soi,
Vị Thần đối diện hẳn hoi,
Ta đi, Thần chẳng báo lời dối dang. 16180
Nếu phận ta chết cạnh thuyền,
An Sinh tướng áo giáp đồng giết ta,
Thì ta chịu chết , ít là..
Ôm con trong cánh tay mà khóc than.
Nói rồi mở nắp hòm xinh,
Chọn riêng một chục tấm khăn tuyệt vời,
Mười chiếc áo đẹp choàng ngoài,
Mười hai tấm thảm, áo dài trắng tinh.
Và cùng áo ngắn đẹp xinh,
Về vàng mười lạng đúng cân vàng ròng. * 16190
Hai chiếc vạc ba chân đồng,
Bốn chảo to một cúp vàng thanh tao.
Quà người Thạch Các đã trao.(Thrace)
Đoàn đi cống sứ biết bao vật quà.
Vua không còn tiếc của nhà.
Lòng ông chỉ muốn thiết tha một điều :
Làm sao chuộc xác con yêu,
Bực mình ông đuổi bao nhiêu kẻ gần.
Hãy đi ra khỏi hoàng cung,
Với lời mắng nhiếc , hầm hầm xua tay : 16200
Hãy cút đi khỏi nơi đây,
Hỡi quân khốn nạn, suốt ngày ai bi.
Các người cứ đến cung này,
Khóc than chỉ khiến lòng đầy xót đau,
Cồ Nốt Thần Tử đã gieo,(Cronos, Zeus)
Đau buồn mất đứa con yêu anh hùng,
Giỏi tài nhất, ta đau lòng,
Rồi đây bây sẽ thấy trông rõ ràng,
Địch quân tàn phá tiêu tan,
Hải Tô đã mất ai còn cản ngăn. 16210
Còn ta về chốn âm cung,
Chẳng còn trông thấy lũy thành tang hoang.
Giơ cao vương trượng đưa lên,
Kẻ sau, người trước vội vàng khỏi cung.
Rồi ông sai gọi các con,
Nhiếc lời trách móc đã không bảo toàn,
Hê Lê, Bá Lộc, An Thông,(Hélénos, Pâris, Agathon)
Bàn Mông, Bồ Thế tiếng trong trận tiền,(Pammon, Politès)
An Thy, Đới Phổ đến liền(Antiphonos, Déiphobos)
Hải Thọ, Di Ốc trách rằng nhát gan.(Hippothoos, Dios) 16220
Chín con trai tướng cầm quân,
Lão Vương mắng nhiếc mà lòng xót đau:
Chúng bây hèn nhát cúi đầu,
Lẽ ra đồng loạt xông vào cứu nguy,
Hải Tô chắng chết như vầy,
Chao ôi ! ta kiếp đắng cay phủ phàng.
Sinh bao con giỏi trong thành,
Hy sinh chiến trận ta lòng đau thương,
Mai Tô đối thủ thần linh,(Mestor)
Trọng Lộc xe chiến can trường hùng anh,(Troilos) 16230
Hải Tô thần thánh giữa trần,
Như con yêu một vị thần Thiên Sơn.
Thương thay Thần Chiến thản nhiên,
Hảm sa cõi chết trận tiền xót xa !
Chỉ còn những đứa dối lừa,
Múa may, hát xướng, đồng ca thì tài.
Cừu dê cướp đoạt đồng ngoài.
Hãy mau sửa soạn xe lừa, nhanh lên.!
Chất bao vật báu ta mang,
Để ta còn kịp lên đường tối nay. 16240
Bầy con sợ hãi dắt ngay,
Chiếc xe lừa đóng trong ngày, mới tinh,
Ghép vào thùng khéo đẹp xinh,
Ách xe lừa gỗ hoàng dương bướu vàng.
Chung quanh viền những vòng tròn,
Rồi mang một sợi dây thừng chín gang,
Buộc vào đầu cáng trên càng,
Mỗi bên buộc lại ba vòng chung quanh.
Sau khi buộc cột nút xong,
Dòng dây phía dưới cuộn vòng dấu dây. 16250
Vật quà phẩm vật chuyền tay,
Mang vào chất một thùng đầy xe trong.
Tiền chuộc quý giá vô ngần,
Buộc vào xe những con lừa móng to,
Người Mỹ Xuyên đã tặng cho.(Mysiens)
Vua Biam tặng phẩm đầy kho báo vàng,
Rồi thắng hai lừa giỏi giang.
Những con vật quý ông chăm hằng ngày,
Xe điều khiển bởi bàn tay,
Viên hầu cận với lòng đầy khôn ngoan. 16260
Huê Cúc bước đến lòng buồn,
Nâng lên một cúp rượu vàng tiễn chân.
Rượu ngon hoà với mật ong,
Rượu dâng cúng tế tiễn chân xuắt hành.
Bà đứng trước ngựa của chồng,
Cầu lời tha thiết: Rượu nồng dâng Cha
Thần Vương ân phúc bao la,
Chồng con từ trại về nhà bình yên,
Bởi ông theo tiếng con tim,
Lòng tôi nào muốn bước đường gian nguy, 16270
Thần Vương từ chốn xanh mây,
Y Đa nhìn dưới chân Ngài thành Troa.
Xin Ngài phái chim ưng theo,
Cánh chim chỉ dẫn hiểm nghèo đưa tin.
Xin Ngài ân phúc lòng thành,
Vững tâm đến tận con thuyền An Kinh.
Nếu Ngài Lời Sấm Vang Lừng,
Không ban ân phúc điềm lành an vui,
Lỗi này chẳng phải tại tôi,
Dục ông dấn bước đến nơi hiểm nghèo. 16280
Do ông nóng quyết lòng theo.
Vua Biam đáp lại lời nào quang minh:
Hiền thê, mong muốn của mình,
Ta vui thực hiện mà không ngại gì,
Bởi cầu nguyện Dớt thẳng ngay,
Xin Ngài ân phúc ra tay thương tình.
Nói rồi ra lệnh vội vàng,
Thị tỳ mang nước trong lành rửa tay,
Vua Biam nâng lấy chiếc ly.
Giữa sân rẩy rượu lễ nghi nguyện cầu : 16290
Hỡi Phụ Vương đấng tối cao,
Y Đa bảo vệ cõi nào quang vinh,
Cho tôi vào trại An Sinh,
Như người tân khách đáng thương chân tình.
Hãy giúp tôi, chim đưa tin,
Loài chim mạnh nhất Ngài hằng yêu thôi,
Bên phải tôi thấy chim trời,
Vững lòng tin đến tận nơi binh thuyền.
Đa Niên luyện mã lẫy lừng.
Nghe lời cầu nguyện thuận tình Thần Vương. 16300
Gửi chim ưng xuống cùng ông,
Con chim ưu việt gọi rằng Hắc Ưng.
Dang đôi cánh rộng mênh mông,
To bằng cánh cửa một phòng trần cao.
Nhiều then mộng ráp khéo đều,
Ở nơi dinh thự người giàu thế gian.
Phía phải lao xuống rõ ràng,
Thấy chim ưng họ ngập tràn sướng vui.
Lão Vương cất bước ra đi,
Đánh xe ra khỏi hành lang vang rền. 16310
Y Đạt hầu cận nhiệt tình,(Ydaio)
Khiển xe lừa bánh to tròn ra đi,
Lão Vương tung dục ngọn roi,
Băng băng đôi vó như thoi qua thành.
Quần thần cất bước theo chân,
Thở than cầm chắc Vua không trở về.
Khỏi thành, xa cánh đồng quê,
Con trai, con rể bước lê vào thành,
Thần Vương từ mắt xa trông,
Hai người vừa hiện trên đồng vắng tanh. 16320
Xót xa thương cảm Lão Vương,
Bảo con : Mai Hạc hãy nhanh xuống trần,(Hermès)
Dẫn đường cẩn thận Vua Biam.
Đến bên dinh trại chiến thuyền An Kinh,
Không cho ai được thấy ông,
Trước khi đến trại An Sinh an lành.
Sứ Thần Xán Lạn lệnh vâng,
Dép vàng xinh buộc vào chân diệu kỳ,
Nâng chàng mây nước như phi,
Nhanh như gió thoảng bay đi đất bằng, 16330
Tay chàng cầm chiếc đũa thần.
Vẫn làm quyến rũ người trần sau mê,
Khép mi ai giấc mộng về,
Hay là đánh thức phòng khuê giấc nồng.
Đũa thần lẫm liệt uy phong,
Cất bay lập tức đã liền đến nhanh.
Miền Troa đất Huệ Lan Bông(Hellespont)
Hóa thân thành một ông hoàng trẻ trung.
Đẹp trai thanh sắc xuân xanh,
Vua Biam vừa vượt khỏi lăng mộ thành. 16340
Xe lừa dừng trước bến sông,
Dắt ra uống nước giữa dòng cạn trong.
Bóng đêm buông xuống lan dần,
Kề bên Mai Hạc hiện thân nguyên hình,
Cận hầu thoáng thấy lưu tâm :
Đạt Đa tôn tử hãy nhanh coi chừng,(Dardanos)
Có người sắp đến lại gần,
Có cơ nguy hiểm tan tành thịt xương,
Vậy lên xe ngựa trốn liền,
Hay là quỳ gối xót thương rủ lòng ? 16350
Nghe lời Vương Lão hoang mang,
Nỗi lo tràn ngập trong lòng ông ngay,
Đứng lên bủn rủn chân tay,
Ông đã khựng lại không đi, kinh hoàng.
Phúc Thần đã đến gần bên,
Cầm tay khẽ hỏi nhẹ nhàng : Hỡi cha !
Người dắt dẫn xe và lừa,
Đi về đâu bóng đêm khuya xuống dần.
Không sợ quân binh An Kinh ?
Tràn đầy sát khí, quanh quần đâu đây ? 16360
Địch nhân không đội chung trời,
Có ai bất chợt thấy người trong đêm,
Với bao của cải lụa vàng,
Nghĩ sao trước sự không lành xãy ra ?
Người không trẻ, hai ông già,
Làm sao chống cự, bao là đớn đau !
Tôi không xúc phạm người đâu,
Giúp người chống cự kẻ nào đánh hôi,
Thấy người rất giống cha tôi .
Vua Biam sung sướng cất lời bình an : 16370
Thật là quý báu vô vàn,
Vị Thần nào đã thương tình hộ thân.
Đã sai khách quý giúp đường,
Vóc người cao đẹp, tinh tường thông minh,
Mẹ cha hạnh phúc vô biên.
Khách người Xán Lạn Dung Nhan đáp lời:
Lão Vương nói đúng chẳng sai,
Phải chăng Ngài muốn mang đi nơi nào ?
Mang tặng kẻ ngoại bang sao ?
Lụa là báu vật biết bao tuyệt vời. 16380
Để họ ở mãi nơi này,
Hay vì sợ bỏ thành trì Ý Long.
Con Ngài cao quý vô ngần,
Giao tranh chẳng kém tướng hùng An Kinh.
Tiếc thay đã phải hy sinh.
Vua Biam uy tựa thần linh đáp rằng :
Hỡi người trai tráng giỏi giang,
Con ai xin được biết danh phận người,
Mẹ cha quê quán, là ai ?
Mà sao nói đúng việc đời xãy ra ? 16390
Phận bất hạnh con trai ta.
Sứ Thần tươi mặt như hoa đáp rằng :
Lão Vương chắc muốn thử lòng,
Hải Tô uy dũng, tôi còn nghĩ sao ?
Phục anh hùng đã biết bao,
Vinh quang tôi gặp nơi nao chiến trường.
Đuổi quân An Kinh về thuyền,
Xông lên lao kiếm anh hùng hiên ngang.
Chúng tôi cảm phục đứng nhìn,
Vì An Sinh đã bất bình nhà vua. 16400
Không cho tôi cùng tham gia,
Chính tôi binh tướng trong nhà An Sinh.
Đến đây trên một chiến thuyền,
Cha Bồ Linh, tôi chiến binh vùng Nguyệt Đông.(Polyctor, Myrmidons)
Cha già, nhà cửa giàu sang,
Sáu anh, tôi thứ bảy con cuối cùng.
Bắt thăm tôi phải tòng quân,
Ra đi trên chiến thuyền đồng viễn chinh,
Bây giờ tôi trở về thuyền,
Bình minh mai sẽ trận tiền tiến công. 16410
Biết bao quân tướng chờ mong,
Hăng say mở trận tiến quân vây thành.
Vua Biam uy vũ hỏi rằng :
Nếu con hầu cận của chàng An Sinh,
Nói ta sự thật ta mong,
Con ta còn xác bên thuyền Đạt Gô.(Argos)
Hay là vất xác chó vồ,
Xé ra trăm mãnh Hải Tô tội tình ?
Khách dẫn đường mới đáp rằng :
Chàng còn nằm đó nơi dinh trại thuyền. 16420
Cạnh bên thuyền của An Sinh,
Đã mười hai buổi bình minh qua rồi,
Xác chàng chẳng hủy chẳng ôi,
Cả bọ cả dòi chẳng đụng thịt xương,
Như bao xác khác chiến trường,
Nhưng mà mỗi buổi rạng đông mới về,
An Sinh than thở thảm thê.
Chung quanh mộ bạn kéo lê xác chàng.
Nhưng không biến dạng nát tan,
Chính Ngài có thấy lại càng ngạc nhiên. 16430
Xác hồng tươi tắn tự nhiên,
Mình chàng máu sạch, cũng không bẩn nào,
Mỗi vết thương đều lành mau,
Do nhiều người đã đâm lao vào chàng.
Mặc dù đã chết đau thương,
Các thần linh đã chăm nom thân chàng,
Bởi chàng thương kính các thần.
Nghe lời Mai Hạc, vui mừng Lão Vương:
Con ta dâng tế thường xuyên,
Kỳ yên tế lễ việc làm thanh cao. 16440
Con ta đúng, chẳng khi nào.
Trong lâu đài đã lãng xao nguyện cầu.
Ta cầu Thần đáp ơn sâu,
Con ta có chết mặc dầu, vẫn thương.
Còn con hãy nhận tạ ơn,
Của ta chiếc vạc đẹp xinh gọi là..
Trong cơn nguy giúp đỡ ta,
Đưa ta đến trại dinh nhà An Sinh.
Sứ Thần Tươi Đẹp cười rằng :
Thử lòng tôi đó phải chăng cụ già ? 16450
Bởi tôi còn trẻ nhưng mà,
Khó ai thuyết phục vật quà tặng ban.
Tôi không dám nhận của riêng,
Vắng An Sinh sợ uy nghiêm của chàng.
Nhỡ mà mang họa vào thân,
Với Ngài tôi sẽ đi cùng sợ chi,
Dẫn đường vào chốn hiểm nguy,
Dinh trại Đạt Quốc nghiêm uy lẫy lừng,
Đường đi quen mặt biết chân,
Không ai khinh mạn, tấn công đến Ngài. 16460
Nói rồi Thần Phúc như lời,
Nhảy lên xe, nắm chiếc roi, tay cầm
Dục lừa chạy thúc dây cương,
Gieo vào lòng vật bước đường hăng mau,
Đến cổng thành lũy hào sâu,
Cơm chiều xong lính đã vào nghỉ ngơi,
Phép thần tay vẩy mê người,
Rút then mở chốt qua nơi cổng thành,
Đưa vua Biam đến an lành,
Xe và vật tận dinh thuyền An Sinh. 16470
Quân binh đã dựng cho chàng,
Ở nơi cao thoáng gỗ thông tỉa cành,
Sậy lao lắm lá lợp trên,
Cắt từ đồng cỏ lao mềm chung quanh.
Một sân rộng cho tướng quân,
Những hàng cột lớn các thanh thẳng dài.
Cửa vào thanh gỗ lớn dầy,
Phải ba người sức chung tay nâng cùng.
Làm then chận cửa trại dinh,
Chỉ An Sinh mạnh một mình sức nâng. 16480
Thế mà Mai Hạc từ tâm.
Nhẹ nhàng mở cửa nâng then đưa vào.
Vua Biam cùng với biết bao,
Vật quà quý báu đổi trao thi hài.
Sứ Thần bước xuống rỉ tai :
Lão Vương ơi ! kẽ dẫn Ngài hôm nay,
Được Thần Vương lệnh khiến sai,
Sứ Thần Mai Hạc ta đây dẫn đường,
Nhưng ta trở lại Thiên Sơn,
Nên không đối mặt An Sinh làm gì. 16490
Còn Ngài, Ngài hãy vào đi,
Pê Lê công tử ai bi, chân tình.
Nhân danh cha mẹ cầu xin,
Tuổi già đầu bạc tấm lòng đau thương.
Lấy tình thương động lòng nhân.
Dứt lời Mai Hạc hài vàng tung bay.
Vua Biam rời khỏi ngựa ngay,
Y Đạt hầu cận chờ đây giữ lừa,
Ông đi đến thẳng dinh nhà,
An Sinh sẵn thói quen ra đó ngồi. 16500
Hai người chăm sóc chàng thôi,
An Ki Mộc tướng sức trai Chiến Thần.(Alkimos)
Ô Tô Mê Đông anh hùng,(Otomédon)
An Sinh vừa mới ăn xong tiệc còn,
Vua Biam bước đến cạnh bên,
Chẳng ai để ý, tay ôm gối chàng.
Hôn tay bàn tay hãi kinh,
Bao con ông đã hy sinh chiến trường.
Nay thù Ban Tuấn trả hờn,
Bạn người tân khách cưu mang tội tình. 16510
Giết người bỏ nước lánh mình.
An Sinh kinh ngạc vô cùng, biết đâu ?
Thấy Vua Biam bạc mày râu,
Uy nghiêm thần thánh, nhìn nhau, lạ lùng .
Vua Biam cất tiếng lời rằng :
An Sinh uy vũ như thần thế gian,
Hãy nghĩ đến cha quê hương,
Như tôi cao tuổi, ngày tàn già nua.
Nếu kẻ lân bang nước nhà,
Quấy rầy ngược đãi thì đà dựa ai ? 16520
Chống lại chết chóc họa tai,
Nếu ông còn biết con nơi cõi trần,
Thì lòng hạnh phúc vui mừng,
Và hy vọng thấy ngày tàn chiến tranh,
Còn tôi bất hạnh đau lòng,
Bao trai dũng cảm, nhọc nhẳn dưỡng sinh,
Trong kinh thành rộng Ý Long.
Mà nay thực tế, như không đứa nào,
Trước kia năm chục anh hào,
Mười, chín cùng mẹ đồng bào sinh ra. 16530
Còn là vợ khác trong nhà,
Giờ đây hầu hết ra ma chiến trường.
Ngã gục, tàn hại Chiến Thần,
Đứa con duy nhất mong hòng cứu nguy,
Cho cha mẹ kinh thành đây,
Thì Ngài đã giết trong khi giữ gìn,
Cho thành đô, cho nhân dân,
Hải Tô vì nó tôi tìm đến đây,
Xin Ngài, chuộc xác con tôi,
Với bao tặng vật tuyệt vời đẹp thanh. 16540
Hãy thương kính nể các Thần,
An Sinh đại hiệp xót lòng thương tôi,
Vì thương nhớ cha xa xôi,
Xót xa so với lòng người mắn may,
Vì tôi can đảm đến đây,
Để làm cái việc chẳng ai dám làm.
Hôn tay kẻ giết con mình.
Lời Vua Biam nói chân tình xót xa.
An Sinh xúc động nhớ cha,
Tay chàng khẽ đẩy cụ già dưới chân. 16550
Hai người hồi tưởng tâm tình,
Một người quỳ dưới đôi chân của chàng.
Thương Hải Tô mắt lệ tràn.
An Sinh nức nở vô vàn nhớ cha.
Đôi khi chợt nhớ bạn xưa,
Lâm ly nảo ruột cả nhà khóc than.
Sau khi nhẹ bớt nỗi lòng.
Trong lòng cũng muốn như cùng chân tay.
Nhẹ nhàng bước khỏi ghế ngồi,
Đỡ cụ già tóc râu dài trắng phau. 16560
An Sinh khẽ nói thì thào :
Khổ thân, ông đã biết bao dạn dày,
Một mình mạo hiểm chốn này.
Đến dinh thù kẻ bao ngày giết con.
Chí ông sắt thép tâm hồn,
Mời ông ngồi xuống ghế vàng nghỉ chân.
Để đau đớn lắng trong tim,
Bởi lời than khóc giá băng tâm hồn.
Chẳng còn ích lợi gì hơn,
Đó là số phận Thiên Sơn định rồi. 16570
Sống buồn, khốn khổ kiếp người,
Thoát lo âu chì có nơi các Thần.
Trước thềm Dớt ở Thiên Cung
Hai vò tặng vật Ngài từng phát phân.
Cái tai ương, cái an lành.
Kẻ thời Thần Sấm công minh cho đều,
Khi tai ương, khi thuận chiều,
Kẻ thì Ngài chỉ cho nhiều tai ương.
Biến thành đối tượng đau thương,
Đói cào cả ruột đi trên đất bằng. 16580
Lang thang đây đó người khinh,
Cuộc đời như thế, đường cùng Vua dân.
Pê Lê ngay lúc sơ sinh,
Các Thần linh tặng hồng ân tuyệt trần.
Giàu sang, hạnh phúc ai bằng.
Làm Vua xứ Nguyệt My Đông cõi trần.
Sách duyên Thần nữ thủy cung,
Thế mà Dớt cũng ban phần đau thương.
Không có con cháu đông, hùng.
Một trai duy nhất giữa cung điện vàng. 16590
Nếu mai chết giữa xuân xanh,
Về già ai sẽ viếng thăm giúp người ?
Bởi tôi ngàn dậm xa xôi,
Gây buồn sợ hãi cha nơi quê nhà.
Còn ông cũng vậy cụ già.
Yên lành hạnh phúc, ngày xưa đề huề.
Mã Ca, Lê Bối trở về, (Macar, Lesbos) *
Phi Chi đồi núi rừng quê ngàn trùng.
Huệ Lan bát ngát mênh mông,(Hellespont)
Đất đai trù phú, lắm con của nhiều. 16600
Nhưng Thần, tai họa đã gieo,
Quanh thành chết chóc hiểm nghèo giao tranh.
Hãy chịu đựng hơn thở than,
Triền miên khóc mãi, có còn được chi ?
Bản thân ông chẳng được gì.
Hải Tô sống lại, tin chi được nào ?
Mà còn thêm những thương đau !
Vua Biam thần thánh xuyến xao đáp lời :
Xin Ngài đừng bảo tôi ngồi,
Hỡi con yêu quý cõi trời Thần Vương. 16610
Hải Tô trơ trụi còn nằm,
Trả tôi thân xác, tôi nhìn được con.
Xin Ngài hãy nhận quà, vàng,
Cầu Ngài hưởng thụ lâu bền thế gian.
Trở về đất tổ quê hương,
Và tôi cũng muốn bình yên về thành.
Tha chết, tôi được sống còn,
Mắt tôi còn thấy ánh dương cuộc đời.
An Sinh nhìn trộm, trả lời :
Lão Vương chớ kích động tôi bực mình, 16620
Trả Hải Tô tôi tự lòng,
Thần Vương sai mẹ, con ông Thủy Thần,
Mẹ sinh ra tôi cõi trần,
Nay làm thiên sứ lệnh truyền hôm nay.
Thì ông cũng vậy hiểu ngay,
Vị Thần nào dẫn đến đây dinh thuyền.
Bởi người trần dẫu sức hùm,
Cũng không ai dám liều mình vào dinh.
Sẽ không thoát khỏi lính canh,
Và then chận cửa khó lòng chuyển nơi. 16630
Hận lòng tôi, ông đừng khơi,
Sợ rằng tôi chẳng nghe lời để yên.
Kẻ cầu khẩn chốn trại quân,
Và tôi làm trái lệnh truyền Thần Vương,
Cụ già sợ sệt vâng liền,
An Sinh vội bước nhanh chân khỏi lều,
Hai người hầu cận đi theo,
Từ Ban Tuấn mất bên nhau chung lòng.
An Ki Mộc, Ô Tô Mê Đông,
An Sinh yêu quý nhất trong bạn bè, 16640
Hai người tháo lừa khỏi xe,
Dẫn hầu cận của nhà vua mời ngồi.
Trên xe khuân vật tặng rồi,
Dành riêng hai chiếc áo dài, ngắn ra,
Đắp thi thể đưa về nhà.
Gọi hai thị nữ tắm xoa sức dầu,
Xoa thơm thi thể trại sau,
Vua Biam chẳng thấy thương đau cõi lòng.
Ông không cầm được khóc ròng,
Thì An Sinh hẵn đổi tình chẳng tha. 16650
Gươm gần, chẳng nể lệnh xa,
Sau khi thị nữ bọc qua áo choàng,
An Sinh tự bế xác lên,
Đặt trên chiếc cán, bạn nâng xác cùng,
Đặt lên xe lừa vừa xong,
An Sinh thầm khấn bạn thân ôi lời :
Hỡi Ban Tuấn thân yêu ơi !
Dù cung Diêm Chúa chớ thời buồn cho.
Dù tôi trả xác Hải Tô,
Cha già tội nghiệp mang đồ chuộc thân. 16660
Tặng vật xứng đáng tốt lành,
Và tôi sẽ trả anh phần tế sinh..
Khấn rồi chàng trở vào trong,
Ngồi trên chiếc ghế, tường ngăn nói rằng :
Hỡi Lão Vương như cầu mong,
Con Ngài đã đặt xe thùng ấm êm,
Đợi chờ lúc bình minh lên,
Cận hầu, lừa chỡ đưa con Ngài về,
Giờ đây vào tiệc no nê,
Ninh Kiều xinh đẹp không hề quên ăn. *(Niobé) 16670
Dù bao thê thảm lầu trang,
Mười hai trai gái xuân xanh qua đời,
Trai An Long bắn chết tươi,
Gái Đạt Thế Mỹ bên trời tung tên.
Ninh Kiều sánh với Lã Nương(Latone)
Cười Thần sinh chỉ hai con ngọc vàng,
Còn nàng sinh hạ cả đàn,
Giận hai Thần giết con nàng sạch trơn.
Nằm trong vũng máu chín hôm,
Không người mai táng bởi dân tộc này, 16680
Thần Vương dùng đá sinh thay,
Ngày thứ mười các Thần đầy cảm thương,
Giúp cho an táng các con,
Ninh Kiều cũng vẫn uống ăn bình thường.
Khi nàng đã khóc chán chường,
Núi Sỹ Bình đó tích nàng còn đây.(Sipyle)
Giường xưa các nữ tiên này,
Sông An Khê Lộc lượn xoay cuộn dòng.(Achéloüs)
Nàng đà hoá đá tháng năm,
Ngậm cay đắng chịu tóc tang con nàng. 16690
Vậy hai ta nên uống ăn,
Cụ dành nước mắt khóc thương con mình,
Ngày mai về đến Ý Long,
Vì Hải Tô đã bao dòng lệ tuôn.
Đứt lời chàng bắt cừu non,
Trắng lông giết bảo bạn mình lột da.
Lẹ làng thái nhỏ, xiên qua,
Bỏ lên vỉ nướng rượu hoa ướp nồng.
Ô Tô Đông mang giỏ con,
Mang vào bánh nóng đặt trên mặt bàn, 16700
An Sinh mang thịt mời phân,
Thức ăn đã sẵn, khách tân tiệc mời.
Uống ăn no thoả thuê rồi,
Vua Biam phục ngắm tướng người An Sinh,
Càng nhìn ngắm : tựa thần linh,
An Sinh cũng ngắm Lão Vương tuyệt vời,
Tóc râu bạc tựa thần trời.
Thỏa lòng khâm phục hai người nhìn nhau,
Vua Biam lên tiếng nói đầu :
Hỡi tướng quân, hãy cho mau chiếc giường. 16710
Ghé lưng giây phút nhọc nhằn,
Giấc ngon lành đến ru hồn trí ta,
Bởi vì đã bao ngày qua,
Mắt tôi chưa khép mi sa một lần,
Từ khi Ngài vung tay thần,
Hũy hoại cuộc sống tan tành con tôi.
Lòng tôi rên rỉ không thôi,
Lăn lóc mặt đất trắng người bụi nhơ,
Hôm nay mới được ăn no,
Rượu nồng thắm mát cổ khô lệ sầu. 16720
Bao ngày ăn uống gì đâu !
An Sinh ra lệnh bạn mau đặt giường,
Đặt ngay trại giữa hành lang,
Lót lụa vải tía, trãi lên nhung hồng,
Chăn dày sắp đặt đắp trên,
Các nàng thị nữ tay mang đuốc hồng,
Giường xong chân bước khỏi phòng,
An Sinh vui vẻ bảo cùng Vua Biam :
Hãy nằm cửa hậu Lão Vương,
An Kinh các tướng quân thường đến đây. 16730
Quân trung bàn bạc hằng ngày,
Có người nào đó chốn này thấy ông,
Trong đêm mờ mịt tối tăm,
Hắn đi báo với Đại Vương tin này,
Sẽ gây trắc trở không hay,
Nhưng ông hãy nói trình bày thời gian.
Cần bao ngày để đám tang,
Hải Tô nghi lễ trang nghiêm cả thành,
Để tôi ở lại đóng quân,
Không cho xuất trận thời gian lễ này. 16740
Đáp lời Vương lão thần uy :
Nếu Ngài cho được tang nghi vẹn toàn,
Tang Hải Tô được nghiêm trang,
Được như thế thật vui mừng biết bao !
Củi xa lấy tự non cao,
Dân Troa sợ hãi chen nhau trong thành,
Chín hôm than khóc trong cung,
Ngày thứ mười mới ra giàn hỏa tang.
Cổ tang tham dự nhân dân,
Ngày mười một hốt xương tàn mộ con, 16750
Ngày mười hai lại sẵn sàng, *
Chúng ta chấm dứt cuộc ngưng chiến này .
An Sinh Phi Túc thuận ngay :
Lão Vương, tất cả điều này dễ thôi,
Ông được toàn vẹn như lời,
Tôi ngừng cuộc chiến suốt thời gian đây.
Nói rồi cầm lấy cổ tay,
Để lòng ông chẳng mảy may sợ gì.
Hai người vào nghỉ đêm dài,
Vua và hầu cận nằm nơi hiên phòng,* 16760
An Sinh nằm cuối trại dinh,
Có nàng Băng Tuyết má hồng nằm bên,(Briséis)
Chung quanh trại dưới bóng đêm,
Thần, người, lừa ngủ say êm giấc nồng.
Chỉ riêng Mai Hạc phúc thần,
Tìm phương giúp thoát khỏi vòng hiểm nguy.
Đưa vua Biam vượt đường dài,
Khỏi dinh thuyền thoát qua nơi cổng tường.
Qua bao lính gác trên đường,
Bên Vua Biam nói thật lòng thực hư : 16770
Lão Vương ngủ giữa quân thù,
An Sinh cho được đền bù tự do,
Ngài không sợ hãi âu lo,
Ngài đà mua chuộc tậng cho vật quà,
An Sinh trả xác về nhà,
Nhưng Ngài sẽ trả gấp ba nếu rằng :
Tướng quân An Gia Đại Vương,
Quân An Kinh biết Ngài nằm nơi đây.
Lão Vương run sợ dậy ngay,
Gọi người hầu cận ra đi trở về. 16780
Mai Hạc vội thắng lừa xe.
Nhanh chân đưa xác chỡ che qua đồng.
Chẳng ai trông thấy trên đường,
Đến gần chổ lội sông Xăng cạn dòng.
Mai Hạc về lại Thiên Sơn,
Bình minh choàng chiếc khăn vàng nhô ra,
Toả lan ánh sáng chan hòa,
Hai ông già thúc xe qua gần thành.
Rỉ rên thương tiếc khóc than,
Không người nào thấy trước nàng Cát Tâm.(Cassandre) 16790
Đẹp như Vệ Nữ ngọc vàng,
Đỉnh Bắc Lam thấy cha mình từ xa.(Pergame)
Cận hầu mang xác xe lừa.
Khóc thương thét gọi người ra đón chờ :
Chúng ta sẽ thấy Hải Tô,
Hỡi nam nữ khặp thành Troa đón chào,
Nếu xưa chàng đến mừng reo,
Mỗi lần chiến đấu hiểm nghèo gian nan,
Anh là niềm vui nhân dân.
Lời nàng vừa, cả thành ùa ra. 16800
Chẳng ai ở lại thành Troa,
Đớn đau xâm chiếm xót xa cõi lòng.
Cửa ngoải giáp mặt vua Biam,
Đang đưa thi thể của con về thành.
Mẹ chàng và vợ lao lên,
Ôm đầu người chết, thân thương lệ trào.
Bứt đầu, bứt tóc thương đau.
Đám đông nức nở xiết bao tâm tình.
Họ còn khóc đến hoàng hôn,
Đứng hoài trước cửa chẳng buồn bước đi. 16810
Nếu Vua Biam chẳng nói chi,
Từ trên lưng ngựa sầu bi lời rằng :
Hãy nhường lối xe về cung,
Tha hồ than thở trên giường lễ tang.
Nghe lời nói họ tránh đường,
Cho xe đưa xác về cung điện vàng.
Đặt tử thi trên giường son,
Người ca tang khúc, lời than điệu vần.
Rỉ rên lời hát cung trầm,
Ca nhi xướng thán, họa cùng công nương. 16820
An Độ Mai ôm đầu chồng ,
Cánh tay ngà ngọc tự tình lời than :
Chàng hy sinh giữa tuổi xuân,
Để em goá bụa lầu trang một mình.
Mong chi khôn lớn vẹn toàn,
Trẻ con thơ dại, con em với chàng.
Ôi đau thương quá ! chúng mình,
Thành này nóc đã tan tành ngã nghiêng.
Bởi chàng giữ nó an lành,
Giữ nàng thiếu phụ tiết trinh cuộc đời. 16830
Giữ cho trẻ dại vui chơi,
Nay chàng khuất bóng ai thời chở che,
Nữ nhân bị bắt theo về,
Trên thuyền quân địch, nảo nề lòng em.
Còn con theo gót mẹ hiền,
Làm bao công việc nhọc nhằn xót xa,
Cho chủ ác, đau đớn ta,
Hay nơi thành lũy này là biết đâu ?
Người An Kinh một kẻ nào,
Cầm chân vung trẻ xuống hào nát xương.* 16840
Vì tim sôi sục căm hờn,
Hải Tô đã giết cha anh bạn bè.
Vì bao thù oán tràn trề,
Bao An Kinh đã chẳng về quê hương.
Đã từng ngã dưới lao, gươm.
Chiến trường ai có dịu dàng với ai ?
Thế nên dân chúng khóc người,
Khắp kinh thành, khắp phố lời xót xa,
Hải Tô ơi ! lòng mẹ cha,
Tóc tang đau đớn khó mà nguôi ngoai. 16850
Nhưng đau buồn nhất em thôi,
Chàng không hấp hối từ nơi giường đào,
Đưa bàn tay nắm nghẹn ngào,
Dặn dò em phút xa nhau cuối cùng,
Cho lòng em kỷ niệm buồn,
Ngày đêm nước mắt âm thầm chứa chan.
Tiếng nàng nức nở than van,
Với bao nương tử theo nàng rỉ rên.
Huê Cúc Hoàng hậu tiếp nàng ,
Cất lời than vãn vì con nỗi tình : 16860
Hải Tô con hỡi yêu thương,
Mẹ yêu hơn các em con rất nhiều,
Bình sinh Thần đã mến yêu,
Cho nên đến chết vẫn theo hộ trì,
Các em con từng lâm nguy,
An Sinh từng bắt bán đi bao lần,
Bên kia biển biếc khô cằn,
Sa Mộc, Âm Bốt hay vùng Lâm Nô,(Samos, Imbros, Lemnos)
Giết con bằng một mũi lao,
Kéo lê thân xác quanh mồ bạn thân. 16870
Ban Tuấn chết về tay con,
Chẳng làm sống lại ai trên cõi trần,
Nay con bên mẹ kề gần,
Bên giường tang đó, con nằm sáng tươi.
Như người mới giả từ đời,
Thần An Long bắn, kiếp người tử vong.
Nói rồi nước mắt khôn cầm.
Động lòng nương tử lệ tràn thở than.
Hạ Lan tiếp nối lời than : (Hélène)
Hải Tô yêu quý, anh chồng tri âm, 16880
Hiểu lòng tôi ai hơn anh !
Còn hơn Bá Lộc như thần bảnh bao,
Đã mang tôi về thành Troa,
Sau tôi không chết từ xưa cho rồi !
Mười năm cách biệt xa xôi.*
Kể từ thân phận lạc loài đến đây,
Anh không một tiếng mỉa mai,
Lời thô thiển chốn lâu đài này đâu,
Mẹ chồng, anh rể, chị dâu,
Những lời mát mẻ, u sầu lòng đau. 16890
Vua cha dịu ngọt hiền từ,
Thì anh tiếng nói như ru ôn hòa,
Khôn ngoan sắc sảo đậm đà,
Em thân bất hạnh, mặn mà lòng em.
Khóc cho anh, em khóc riêng,
Đau thương trĩu nặng, con tim chan hòa.
Còn em, đâu nữa thành Troa,
Với em êm ái, bạn bè thân thương.
Chỉ còn ai mắt oán hờn,
Long lanh trách móc, bi thương nhìn mình. 16900
Nói rồi nước mắt lưng tròng,
Mọi người nức nở, tiếng lòng thở than,
Vua Biam truyền lệnh ba quân,
Hãy đi đốn củi về thành hôm nay,
Chẳng nên sợ hãi những gì,
An Sinh đã hứa trước khi dinh thuyền,
Lệnh ra hưu chiến lễ tang,
Mười hai ngày chẳng xuất chinh chiến trường.
Mọi người bò ngựa lên đường,
Vội vàng tụ tập lên rừng cùng nhau, 16910
Chín ngày đi đến rừng cao,
Mang về cây củi biết bao nhiêu tình,
Ngày thứ mười lúc bình minh,
Tỏa lan ánh sáng an lành nhân gian,
Thây Hải Tô từ cung thành,
Đặt lên giàn gỗ, đưa chàng lên cao,
Bình minh hồng ngón tay đào,
Chung quanh giàn lửa cùng nhau dân thành,
Vây quanh than thở khóc than,
Lửa hồng bừng cháy thiêu tàn xác thân, 16920
Lửa tàn dân chúng tan dần,
Rượu nồng dập tắt than hồng tàn phai,
Anh em bằng hữu lệ rơi,
Nhặt xương cẩn thận đặt nơi bình vàng,
Bọc trong vải tím dịu mềm,
Đặt vào huyệt mộ những hòn đá to,
Nhanh tay họ dựng nấm mồ,
Đặt quên canh gát sợ giờ tiến công,
Đặt nhiều lính gát chung quanh,
Mọi người xây nắm mộ xong trở về, 16930
Vào cung cúng giỗ bộn bề,
Cỗ bàn dâng cúng Hải Tô lìa trần,
Thế là tang lễ hoàn thành. 16933

— HẾT —

NHẤT UYÊN PHẠM TRỌNG CHÁNH chuyển ngữ
Viết xong năm 2011, nxb Khuê Văn, Paris, bản nhuận sắc 2018

CHÚ THÍCH

15918 Thần Bất Hoà lăn quả táo ghi “Tặng người đẹp nhất” vào giữa bàn tiệc, ba thần: Héra, Athéné và Vénus tranh nhau quả táo, Thần vương Zeus không dám phân xử sợ vợ và con gái bảo mình thiên vị, ba thần tìm đến người trần gian nhờ phân xử, tình cờ gặp Pâris lúc lưu lạc đang chăn bò trong rừng Y Đa. Pâris đã trao trái táo bất hòa ghi “tặng người đẹp nhất “ cho thần Vệ Nữ. Vệ Nữ hứa thưởng cho người phụ nữ trần gian đẹp nhất là Hélène, nhưng Hélène đã có chồng là vua Ménélas, điều này gây nên cuộc chiến thành Troie. Tên Hélène còn có nghĩa là nước Hy Lạp, câu chuyện còn có nghĩa ẩn dụ.
15960 Nữ Thần Héra từng chăm nuôi nữ thần Thétis, mẹ Achille và gả cho vua Pélée.
15963 Đám cưới nữ thần Thétis và vua Pélée. Thần Apollon có tham dự đánh đàn và chín nàng Muses hát.
16083 danh hiệu Thần Hermès.
16092 Phi Phong có danh hiệu Iris, chân bay như gió.
16597 Macar, Lesbos. Macar con vua Ilos thành Troie giết một người anh rồi đến đảo Lesbos lập triều Mitylène.
16670 Niobé sinh 12 con trai gái, cười nhạo nữ thần Latone chỉ sinh được Apollon và Artémis. Latone giận sai Apollon bắn các con trai của Niobé chết tươi và Atémis thần Săn Bắn phóng tên giết các con gái.
16751 Mười hai ngày có giá trị nghi lễ tôn giáo thời Cổ Hy Lạp.
16760 Hiên phòng: trại hình vuông, giữa có sân có một phần mái che.
16840 Homère nói trước số phận con Hector, bị con Achille là Naopteolème ném xuống hào.
16885 có văn bản chép là hai mươi năm, cho rằng thời gian chuẩn bị đánh thành Troa là 10 năm, tôi cho là không phù hợp với tuổi con gái Hélène lấy Néoptolème, khi Achille và Ménélas xuất trận chỉ dưới mười tuổi. Thời gian chuẩn bị có thể là hai năm. Khi Achille mất, bị tên Enée trúng gót chân, Néoptolème 18 hay 20 tuổi ra chiến trường thay cha hạ được thành Troa. Télémaque trong Odyssée đến cung Ménélas và Hélène tìm cha Ulysse, có tham dự đám cưới.

Có nhắn tin hay bình luận gì không?

xét trước, đăng sau

Diễn đàn này được điều hợp trước: bài vở đóng góp sẽ xuất hiện sau khi được quản trị viên chấp thuận.

Chi tiết về bạn (không bắt buộc)
Votre message
  • Ce formulaire accepte les raccourcis SPIP [->url] {{gras}} {italique} <quote> <code> et le code HTML <q> <del> <ins>. Pour créer des paragraphes, laissez simplement des lignes vides.