Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Cổ học > SUY NGHĨ VỀ HÀNH TRẠNG, SỰ NGHIỆP CỦA DANH NHÂN LỊCH SỬ LÊ ĐẠI CANG

SUY NGHĨ VỀ HÀNH TRẠNG, SỰ NGHIỆP CỦA DANH NHÂN LỊCH SỬ LÊ ĐẠI CANG

Thứ Ba 11, Tháng Mười Hai 2012

PGS.TS. Nguyễn Minh Tường [1]. Tham luận trình bày tại hội thảo “Lê Đại Cang – Tấm gương kẻ sĩ”, tổ chức tại Quy Nhơn ngày 8, 9, 10 tháng 1 năm 2013

Lê Đại Cang - 黎 大 綱 [2] (1771-1847), tự là Thống Thiện - 統 善, hiệu là Kỳ Phong - 奇 峯, biệt hiệu là Thường Chánh Thị - 常 正 氏, người làng Luật Chánh, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, thì tiên tổ của Lê Đại Cang vốn là người Nghệ An. Ông tổ xa đời là Lê Công Triều từng làm quan dưới triều Lê Trung hưng. Chính Lê Đại Cang, trong Lê thị gia phả cũng cho biết: “Thủy tổ là Lê Công Triều, gốc Thừa tuyên Nghệ An, phủ Hà Hoa, huyện Kỳ Hoa, phường Hà Tân, làm quan nhà Lê có công. Vừa lúc Thái Tổ Hoàng đế (chỉ Nguyễn Hoàng – TG) dời vào Thuận Hoá khai cơ, ông đem gia quyến theo, đến ở phường Trung An, xã Lê Dương, huyện Bồng Sơn, phủ Hoài Ninh…” [3].

Sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo, lại sớm mồ côi cha lẫn mẹ, bằng con đường khổ học, đầy ý chí và nghị lực, Lê Đại Cang đã trở thành một danh nhân lịch sử khá nổi tiếng vào nửa đầu thế kỷ XIX. Tìm hiểu hành trạng và sự nghiệp của Lê Đại Cang, giúp cho hậu thế chúng ta có được nhiều bài học quý báu.
Dưới đây, chúng tôi xin trình bày đôi điều suy nghĩ của mình về vấn đề trên như sau:

I. Lê Đại Cang – Một nhân cách lớn, một nghị lực kiên cường trước những sóng gió của cuộc đời

Thuở xưa, kẻ sĩ “thập niên đăng hoả” theo học đạo Nho, mà thường được gọi một cách trân trọng là “Đạo Thánh hiền”, luôn cố gắng đạt được hai mục tiêu: “Tu kỷ” và “Hành đạo”. Trong các sách kinh điển Nho gia còn gọi là “Nội Thánh”, “Ngoại Vương”. Đó là một hoài bão lớn vừa có tính “Nội hướng” vừa có tính “Ngoại hướng”.

Trong hai tính chất trên, thì cái học “Nội Thánh”, tức việc sửa mình để có đạo cao, đức trọng, được kẻ sĩ của mọi thời coi là cái gốc của sự xử kỷ, tiếp vật. Điều này được Tăng tử - một đại môn đồ của Khổng tử (551 – 479 tr. Cn) nói rõ trong sách Đại học:

“Tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản”
自 天 子 以 至 於 庶 人,一 是 皆 以 修 身 為 本 (Từ thiên tử cho đến kẻ thứ nhân, tất cả đều lấy việc sửa mình làm gốc).

Hoặc vị á thánh của đạo Nho là Mạnh tử (khoảng 372-289 tr. Cn) cũng từng nhấn mạnh trong thiên Tận tâm hạ, sách Mạnh tử:

“Quân tử chi thủ, tu kỳ thân nhi thiên hạ bình”
君 子 之 守,修 其 身 而 天 下 平 (Điều mà người quân tử luôn giữ gìn là sửa thân mình mà thiên hạ bình trị).

Tuy nhiên, “tu thân” (sửa mình) không phải mục đích cứu cánh của Nho gia. Tư tưởng luân lý - chính trị của Nho gia là: Tu, Tề, Trị, Bình - 修,齊,治,平. Nói tắt của “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Mục đích của việc trị đạo, việc “tu – tề” là “trí quân, trạch dân”, là “tân dân” - 新 民: làm cho nền chính trị ngày một đổi mới, hoàn thiện, đời sống dân chúng ngày một yên bình, no đủ. Có một điều trớ trêu thay của lịch sử, là kẻ sĩ sinh ra ở “thời loạn”, thì dễ bộc lộ tài năng của mình hơn là “thời trị”. Không phải ngẫu nhiên thời Tiên Tần, hay còn gọi là thời Xuân Thu – Chiến Quốc (770 – 221 tr. Cn) của Trung Quốc đã xuất hiện lắm kẻ sĩ tài ba đến như vậy!

Do đó, ở một mức độ nào đó, có thể nói Lê Đại Cang đã “gặp thời”, khi sinh ra vào lúc xã hội chưa ổn định, nền chính trị chưa hoàn chỉnh, đất nước đang có những xáo trộn, giằng co lớn. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, tổ tiên ông mặc dù từng làm quan triều Lê, nhưng “đến Cương mới lấy văn học hiển đạt” [4].

Ở đây, thiết tưởng cũng nên làm rõ nghĩa của chữ “Hiển đạt” của sử thần Quốc sử quán triều Nguyễn? Sách Từ Nguyên giải thích:

顯,達 也。 達 而 在 上 曰: 顯,有 聲 聞,名 譽 也
(Hiển, đạt dã. Đạt nhi tại thượng viết: Hiển, hữu thanh văn, danh dự dã.
Nghĩa là: Hiển, tức là thành đạt. Thành đạt mà ở vào vị trí cao, thì gọi là Hiển. Người hiển đạt là người có danh tiếng sang trọng, vẻ vang) [5].

Qua đó, ta thấy theo quan niệm của sử thần thời quân chủ: làm quan như Thủy tổ họ Lê là Lê Công Triều, có lẽ giữ chức Khám lý đề đốc hoặc huyện Bồng Sơn, hoặc phủ Hoài Ninh [6], hay như Lê Công Miễn, Thượng thư Hình bộ [7], cũng không được coi là “hiển đạt”.

Tôi đọc tiểu sử, hành trạng của Lê Đại Cang, trong các bộ chính sử triều Nguyễn như: Đại Nam thực lục chính biên, Đại Nam chính biên liệt truyện…, nhận thấy con đường hoạn lộ của ông có quá nhiều sóng gió, hiểm nguy. Tôi đồng tình với nhận định dưới đây của hai tác giả Quách Tấn – Quách Giao khi viết: “Là một danh sĩ nổi tiếng về văn chương cũng như võ nghệ. Cuộc đời làm quan của ông cũng giống như Nguyễn Công Trứ, lận đận nhiều phen. Khi thì làm quan to, lúc lại làm lính đi khiêng võng. Nhưng tư cách và chí khí vẫn hiên ngang” [8].

Vấn đề được đặt ra là: Vì sao cuộc đời làm quan của Lê Đại Cang “lận đận nhiều phen” như thế, mà vẫn giữ được “tư cách và chí khí hiên ngang”?

Tôi thiết nghĩ lý giải được vấn đề này không đơn giản chút nào.

Tôi cho rằng ít nhất có 3 nguyên nhân sau đây để làm nên vị danh nhân lịch sử 奇 峯 - 黎 大 綱 : Kỳ Phong [9] – Lê Đại Cang vào nửa đầu thế kỷ XIX ấy.

Thứ nhất, là truyền thống “Người xứ Nghệ”, nguyên quán của Lê Đại Cang. Xưa nay, chúng ta đều hiểu “Xứ Nghệ” là một tiểu vùng văn hoá, bao gồm 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Đó là vùng đất từ huyện Quỳnh Lưu ở phía Bắc cho tới Kỳ Anh ở phía Nam, chiều dài khoảng 200 km.

Từ khoảng giữa thế kỷ XVI, năm 1558, vị thủy tổ dòng họ Lê này là Lê Công Triều, người phường Hà Tân, huyện Kỳ Hoa [10] (nay là Kỳ Anh), theo Nguyễn Hoàng vào Thuận Hoá. Sau này, chắc hẳn Lê Công Triều được bổ làm Khám lý đề đốc huyện Bồng Sơn, Bình Định, nên gia tộc họ Lê của ông đã định cư tại đây. Tuy nhiên, dòng họ Lê của Lê Đại Cang vẫn giữ nguyên những tính cách ưu trội của người xứ Nghệ là: Ý chí vượt khó khăn, khắc phục hoàn cảnh, giàu chí tiến thủ; Hiếu học đến mức “khổ học”, cầu học vì có ý chí thành danh bằng con đường học vấn; Khí khái, thẳng thắn, chân thực trong ứng xử xã hội, v.v…

Thứ hai, có “hạt giống tốt”, lại cần được gieo trồng trong điều kiện “mảnh đất tốt lành”, mới mong có mùa thu hoạch như ý. “Mảnh đất tốt lành” của dòng họ Lê (Lê Đại Cang), đó là vùng đất Bình Định – quê hương mới của ông. Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn từng nhận định về người dân Bình Định nói chung và kẻ sĩ nơi đây nói riêng như sau: “Học trò chăm học, nhân dân siêng cày, dệt; tính tình trầm tĩnh, dũng cảm, thích việc nghĩa; buôn bán và kỹ nghệ chỉ được độ hai, ba phần mười; người học thức phần nhiều nho nhã, trung hậu…” [11].

Nhưng, theo tôi nguyên nhân thứ ba sau đây, có tính chất quyết định để hình thành nên Nhân cách lớn, một nghị lực kiên cường của danh nhân lịch sử Lê Đại Cang trước những sóng gió của cuộc đời. Đó là nhân cách của một bậc Quân tử - Đại trượng phu; mẫu người lý tưởng mà tư tưởng Khổng – Mạnh cấp cho Lê Đại Cang, từ hồi còn chập chững bước vào đời. Các nhà giáo dục đều thống nhất ý kiến cho rằng: Những gì con người được học vào cái thời còn trẻ tuổi, tức từ khoảng 7, 8 tuổi đến 18, 20 tuổi, thì sẽ góp phần quyết định tạo nên nhân cách, tính cách của người ấy và sẽ còn đi mãi với họ trong suốt cả cuộc đời…

Chúng ta đều biết Nho giáo là một học thuyết chính trị và đạo đức, tồn tại trong khoảng thời gian hơn 2000 năm dưới thời cổ đại và trung đại ở phương Đông, trong đó có Việt Nam. Đóng góp quan trọng của tư tưởng Khổng tử và Mạnh tử là học thuyết về đạo đức. Điều cần lưu ý là học thuyết đạo đức của Khổng - Mạnh luôn gắn liền với học thuyết chính trị của các ông. Khổng tử và Mạnh tử đều coi trọng sự hoàn thiện về đạo đức là sự hoàn thiện về nhân cách. Khổng tử đề xuất “Tam đức”: Nhân - Trí - Dũng (仁,智,勇), Mạnh tử đề xuất “Tứ đoan”: Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí (仁,義,禮,智) và coi sự thống nhất của chúng ở một con người là nhân cách trọn vẹn…

Chúng ta đều biết rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969), vốn xuất thân từ một gia đình nhà Nho “Xứ Nghệ”. Năm 1923, chính Bác Hồ tự giới thiệu tại Liên Xô rằng: “Tôi xuất thân từ một gia đình nhà Nho Việt Nam, trong đó các thanh niên đều theo học Đạo Khổng” [12]. Ngay từ thời trẻ, Bác Hồ đã học cách “lập chí”, trong việc “thành
nhân” của Đạo Nho, nên Người không sợ và không bao giờ chùn bước trước muôn vàn khó khăn trong cuộc đời. Vào thập kỷ 40 của thế kỷ XX, Bác Hồ từng khẳng định: “Học thuyết của Khổng tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân” [13].

Trở lại với việc hình thành “Nhân cách lớn, nghị lực kiên cường” của Lê Đại Cang, chúng tôi cho rằng ông đã tiếp thu trực tiếp từ những lời dạy của Khổng tử, Mạnh tử và nhiều vị Đại Nho khác được rút ra từ các bộ sách kinh điển của Nho gia. Do giới hạn của một bài luận văn khoa học, tôi chỉ xin trích dẫn một vài câu để làm minh chứng cho những nhận định nói trên.

Trong bộ sách Luận ngữ, Khổng tử nói:

“Chí sĩ nhân nhân vô cầu sinh dĩ hại nhân; Hữu sát thân dĩ thành nhân”
志 士 仁 人 無 求 生 以 害 仁; 有 殺 身 以 成 仁 (Bậc chí sĩ, nhân nhân chớ vì bảo tồn sinh mạng mà làm hại điều nhân; trái lại có khi phải hy sinh tín mạng để hoàn thành điều nhân. - Luận ngữ - Vệ Linh công).

Hoặc, Khổng tử cho rằng chỉ khi nào gặp những điều kiện cực kỳ khó khăn, mới hiểu rõ được phẩm chất dũng cảm đích thực của một con người:

“Tuế hàn, nhiên hậu tri tùng bách chi hậu điêu dã”
歲 寒,然 後 知 松 柏 之 後 彫 也 (Chỉ khi nào gặp năm cực rét, mới biết cây tùng, cây bách rụng lá cuối cùng [sau mọi loại cây khác]. - Luận ngữ - Tử Hãn).

Tuy nhiên, tìm hiểu về hành trạng, sự nghiệp của Lê Đại Cang, tôi nhận thấy mẫu hình nhân cách lý tưởng của ông muốn đạt tới là bậc Đại Trượng phu của Mạnh tử, hơn là bậc Quân tử của Khổng tử. Tôi cho rằng cái bản lĩnh đặc biệt mà Lê Đại Cang có được, một phần không nhỏ là chịu ảnh hưởng và tu dưỡng theo mẫu hình Đại Trượng phu của Mạnh tử. Tôi thiển nghĩ trong nền văn hoá phương Đông, ít có người bàn về bậc Đại Trượng phu hay như Mạnh tử.

Đọc những câu mà Mạnh tử luận về vấn đề này, không khi nào tôi tránh khỏi sự xúc động mạnh mẽ:

“Cư thiên hạ chi quảng cư;
Lập thiên hạ chi chính vị;
Hành thiên hạ chi đại đạo;
Đắc chí, dữ dân do chi;
Bất đắc chí, độc hành kỳ đạo.
Phú quý bất năng dâm;
Bần tiện bất năng di;
Uy vũ bất năng khuất.
Thử chi vị Đại Trượng phu”.
居 天 下 之 廣 居
立 天 下 之 正 位
行 天 下 之 大 道
得 志,與 民 由 之
不 得 志,獨 行 其 道
富 貴 不 能 淫; 貧 賤 不 能 移; 威 武 不 能 屈。
此 之 謂 大 丈 夫。
(Sống ở nơi rộng rãi của thiên hạ
Đứng ở vị thế chính đáng của thiên hạ
Đi trên con đường lớn của thiên hạ
Lúc đắc chí gặp thời thì ra làm quan, cùng chung sức với dân để đạt tới điều “Nhân”.
Khi bất đắc chí, không gặp thời, thì ở ẩn, tu thân một mình giữ “Đạo”.
Lúc giàu sang không buông tuồng quá mức;
Khi gặp cảnh nghèo khó, không thay đổi chí hướng;
Gặp uy vũ, bạo lực không chịu để bị khuất phục.
Làm được những điều trên, xứng đáng gọi là bậc Đại Trượng phu.
Mạnh tử - Đằng văn công hạ).

Qua kinh nghiệm trường đời, Mạnh tử đã nhận thấy rằng: Người ta có lầm lỗi, thất bại, mới có ăn năn, hối hận, và do đó, suy nghĩ mới sâu sắc hơn; người ta có chịu đau đớn trong lòng, có phải trầm tư mặc tưởng, cân nhắc suy nghĩ mới rút ra được những kinh nghiệm quý báu trong công việc sau này… Như vậy, theo Mạnh tử, một người trở nên hữu ích cho xã hội, cần phải được tôi luyện trong gian khổ cả thân xác, lẫn tinh thần, tựa như vàng ròng chỉ được tinh luyện trong lửa đỏ.

Mạnh tử nói:

“Cố thiên tương giáng đại nhiệm ư thị nhân dã; Tất tiên khổ kỳ tâm chí, lao kỳ cân cốt, ngã kỳ thể phu; không phạp kỳ thân; hành phật loạn kỳ sở vi, sở dĩ động tâm nhẫn tính, tăng ích kỳ sở bất năng”
故 天 將 降 大 任 於 是 人 也; 必 先 苦 其 心 志,勞 其 筋 骨,餓 其 體 膚; 空 乏 其 身; 行 佛 亂 其 所 為,所 以 動 心 忍 性,曾 益 其 所 不 能 (Cho nên, Trời sắp trao trách nhiệm lớn cho một người nào đó, thì ắt trước hết làm khổ tâm chí của họ, làm mệt gân cốt của họ, khiến da thịt họ phải đói lả, khiến thân xác họ phải nghèo túng, gây ra những ngang trái, rối loạn trong các hành vi của họ, cốt họ động cái tâm, nhẫn nhục cái tính, cho tăng thêm những gì mà họ còn thiếu hụt, chưa có khả năng. – Mạnh tử - Cáo tử hạ).

Tôi đọc Lê thị gia phả, Đại Nam thực lục chính biên, Đại Nam chính biên liệt truyện, Quốc triều chính biên toát yếu…, nhận thấy cuộc đời của Lê Đại Cang trước khi ra xuất chính và thời kỳ làm quan với vương triều Nguyễn gặp khá nhiều biến cố, nhưng trong đó có hai biến cố lớn, thử thách nhân cách Đại Trượng phu ở ông.

Sách Quốc triều chính biên toát yếu chép rằng: “Tháng 5 năm Quý Tỵ (1833). Nguyên Tả quân Minh nghĩa Vệ úy Lê Văn khôi… làm loạn, chiếm giữ thành Phiên An [14], giết Bố chánh Bạch Xuân Nguyên… Tháng 6, Lê Văn Khôi cùng đảng chúng xâm phạm tỉnh Biên Hoà, thự [15] Tuần phủ Võ Quýnh, Án sát Lê Văn Trác, Lãnh binh Hồ Kim Truyền chạy cả, tỉnh lỵ thất thủ… Đảng giặc Phiên An phạm tỉnh Định Tường, tỉnh thành thất thủ. Tổng đốc Long – Tường (Vĩnh Long – Định Tường) Lê Phúc Bảo, Tổng đốc An – Hà (An Giang – Hà Tiên) Lê Đại Cương đều bị cách lưu [16]…” [17].

Trong Lê thị gia phả, Lê Đại Cang cũng có mô tả khá chi tiết biến cố lớn này, và tự nhận định rằng: “Cuộc đời đã trải qua của tôi chưa hề gặp sự gian hiểm nào như lúc này. Nhưng gánh nặng biên cương, sự thất bại ở góc trời Đông, để mất thành An Giang trước đây tội không nhẹ. Thánh chỉ (tức Chỉ dụ của vua Minh Mệnh – TG) đến cách chức tôi, nhưng cho Đái lãnh binh dõng, quân tiền hiệu lực” (帶 領 兵 勇,軍 前 效 力: Phải xuống làm lính, đến trận tiền ra sức làm việc để chuộc tội [18]).

Biến cố lớn thứ hai trong cuộc đời làm quan của Lê Đại Cang xảy ra vào năm 1838. Sách Quốc triều chính biên toát yếu chép: “Tháng giêng, năm Mậu Tuất (1838), chức An phủ ở phủ Khai Biên, thuộc tỉnh Hà Tiên là tên Di làm phản. Trước có tên Khống (Khống người phủ Khai Biên, năm trước qua Xiêm làm chức Ba Lật), tự Xiêm trốn về, tên Di giấu đi. Di lại thông mưu với Thổ mục là tên Châu, dụ bọn Mọi Cao (chỉ đồng bào thiểu số Cao Miên – TG) làm đồ khí giới, toan làm loạn, chúng nó vừa nghe tên Đô Y ở Hải Đông năm ngoái khởi biến, liền tụ đảng 500 người qua đồn Long Tôn; Quản cơ phủ Khai Biên là bọn Sô Mịch, Ân Ôn theo nó cả, giết quân trú phòng người mình, rồi phân đạo đi các xứ… Tháng 2, bãi chức Quản phủ các phủ, đổi đặt làm Trú phòng, chuyên coi việc chống trộm cướp, giam tù phạm. Tuần phủ An Giang sung Tham tán Trấn tây là Lê Đại Cương có tội bị cách, phái theo quân thứ Hải Đông hiệu lực” [19]. Tiếp đó, có thể vào khoảng tháng 3 năm Mậu Tuất (1838), Quốc triều chính biên toát yếu còn cho biết: “Trương Minh Giảng, Dương Văn Phong đem tình hình đánh giặc tâu rằng: Quan bị cách là Lê Đại Cương đóng ở đạo Trà Di, chia quân kéo tới đánh giặc. Ngài (chỉ vua Minh Mệnh – TG) xem tờ sớ không bằng lòng, truyền rằng: Đại Cương bị tội cách lưu, sao dám tự tôn mình là Đại tướng? Chẳng sợ phép nước, chẳng kể công luận. Vậy Đại Cương phải tội trảm giam hậu [20], còn Trương Minh Giảng giáng xuống Binh bộ Thượng thư, Dương Văn Phong giáng 3 cấp” [21].

Theo Lê thị gia phả, thì sau vụ nổi dậy của người Cao Miên, vào đầu năm 1838 nói trên, Lê Đại Cang bị hạch tội là Tham tán Đại thần Trấn tây mà không hoàn thành nhiệm vụ cai trị, nên bị cách chức làm lính khiêng võng sung tiền quân hiệu lực tại quân thứ Hải Đông, đạo Trà Gi. Sau đó, vào khoảng tháng 3 năm Mậu Tuất (1838), Lê Đại Cang lại bị vua Minh Mệnh xử vào tội “Trảm giam hậu” vì “bị tội cách hiệu (tức cách chức, cho quân tiền hiệu lực – TG), sao dám tự tôn mình là Đại tướng?”.

Có nhà nghiên cứu phê phán cách chấp pháp của vua Minh Mệnh trên đây đối với Lê Đại Cang lần này “khó có thể nói là chính đáng”. Tôi cũng cho rằng vua Minh Mệnh trừng phạt tội “tự tôn mình là Đại tướng” của Lê Đại Cang như trên là quá nặng nề.

Tuy nhiên, là người nghiên cứu lịch sử, thiết tưởng chúng ta nên đặt mình vào hoàn cảnh lúc đó để xem xét. Ta nên lưu ý, cái “tế nhị” và “gượng tay” của hình phạt mà vua Minh Mệnh định cho Lê Đại Cang, chính là 3 chữ “Trảm giam hậu” ấy! Chính chỉ bị án “Trảm giam hậu”, mà vào đầu thời Thiệu Trị (1841-1847), Lê Đại Cang mới được không những tha tội chết, mà còn được ra khỏi ngục mang hàm Điển bộ, lo sắp xếp việc tiếp đón sứ thần nhà Thanh là Bửu Thanh sang nước ta làm lễ sách phong “Quốc vương” cho Thiệu Trị [22]. Công việc bang giao thành công, Lê Đại Cang lại được vua Thiệu Trị thăng lên chức Bố chánh Hà Nội [23] (ở trật Chánh Tam phẩm).

Nhưng vấn đề là cần hiểu lý do vì sao vua Minh Mệnh lại xử phạt nặng nề đối với những người mắc tội như Lê Đại Cang vừa kể trên?

Thật ra, điều đó không phải là ý thích cá nhân của vua Minh Mệnh, mà nằm trong luật trị quốc của Nho gia và Pháp gia mà ông vua thứ hai triều
Nguyễn này là đại diện.

Chúng ta đều biết trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam, có hai vị vua Nho giáo, rất có tài dùng người và giỏi việc trị quốc, đó là: Hoàng đế Lê Thánh Tông (1460-1497) triều Lê sơ và Hoàng đế Minh Mệnh (1820-1841) triều Nguyễn. Lê Thánh Tông và Minh Mệnh đều là các bậc bác lãm quần thư, thông thạo kinh điển Nho gia. Tuy nhiên, trong phép trị quốc, các vị không chỉ áp dụng đường lối chính trị của Nho gia, mà có sự kết hợp với Pháp gia. Nhiều nhà nghiên cứu gọi cách cai trị ấy là “Dương nho, âm Pháp” (陽 儒,陰 法 – Bên ngoài là Nho, thực chất bên trong là Pháp).

Trường hợp phạm tội đang “bị cách hiệu mà sao dám tự tôn mình là Đại tướng” của Lê Đại Cang, là theo cái nhìn “chính danh” của Nho gia, ông đã mắc vào tội “tiếm việt” (vượt phận).

Khổng tử nói:

“Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính”
不 在 其 位,不 謀 其 政 (Không ở vào chức vị nào, thì chớ có mưu tính, chớ có hành động công việc của chức vị ấy. – Luận Ngữ - Thái Bá).

Như vậy, chúng ta thấy vua Minh Mệnh phạt Lê Đại Cang vì tội dám mưu tính sang công việc của chức vị khác không thuộc bổn phận, trách nhiệm của mình. Cái mà vua Minh Mệnh lo xa là: Hành động “tiếm việt” của Lê Đại Cang sẽ tạo nên một tiền lệ xấu, làm rối loạn trong công việc chính sự sau này.

Tuy nhiên, đấy chưa phải là tất cả lý do hình phạt của vua Minh Mệnh đối với Lê Đại Cang. Điều này, có lẽ nhà vua không muốn nói ra, vì hơn ai hết, ông rất hiểu “Thuật trị quan lại” mà Thân Bất Hại ( ? – 337 tr. Cn), một vị thủy tổ của Pháp gia vào đời Chiến Quốc (480 – 221 tr. Cn), đề xuất.

Trong thiên Ngoại trừ thuyết – Hữu thượng, Hàn Phi dẫn lại một đoạn thuyết về “Thuật” của Thân Bất Hại. Đại ý, ông khuyên bậc vua chúa phải có các thuật “Bí hiểm” để trị bề tôi thân cận, khống chế họ. Để minh hoạ cho thuyết “Phép trị nước là không được vượt chức” và “Phải có thuật bí hiểm” của Thân Bất Hại, đã được Hàn Chiêu Hầu (tức vua nước Hàn) “đem áp dụng vào thực tế” như thế nào, trong thiên Nhị Bính, Hàn Phi đưa ra thí dụ như sau: “Ngày xưa Hàn Chiêu Hầu say rượu ngủ. Viên quan coi mũ của vua, thấy nhà vua lạnh nên lấy áo đắp cho vua. Nhà vua ngủ dậy, vui lòng hỏi người xung quanh: “Ai đã lấy áo đắp lên cho ta?”. Những người xung quanh nói: “Đó là viên quan coi mũ!”. Nhà vua bèn trị tội cả viên quan coi áo lẫn viên quan coi mũ. Trị tội viên quan coi áo vì anh ta đã không làm nhiệm vụ của mình. Trị tội viên quan coi mũ vì anh ta vượt chức của mình. Không phải nhà vua không khổ vì lạnh, nhưng cái hại của việc vượt quá trách nhiệm còn lớn hơn là bị lạnh” [24].

Qua đó, chúng ta thấy vua Minh Mệnh không phải là không biết cái hại của việc “giặc Chân Lạp làm loạn”, nhưng có thể ông cho rằng “cái hại của việc vượt trách nhiệm còn lớn hơn” là bị giặc tàn phá.

Mặc dầu, như Lê Đại Cang tự nhận trên con đường làm quan của mình, ông gặp quá nhiều nỗi cay cực, nhưng ông luôn tâm niệm “Vì nước quên nhà, vì việc công quên việc riêng là tiết tháo của kẻ làm bề tôi” [25].

II. Lê Đại Cang – Một kẻ sĩ hào mại, phóng dật đậm chất tài tử phong lưu

Trong bài luận văn khoa học Sự nghiệp sử học của Học giả Cao Xuân Dục, vị Tổng tài Quốc sử quán (1898) thời Thành Thái (1889-1907), chủ biên bộ Đại Nam chính biên liệt truyện (Nhị tập), chúng tôi có nhận định: “Cao Xuân Dục đã chịu ảnh hưởng khá sâu sắc phương pháp chép sử của Tư Mã Thiên trong bộ Sử ký. Đó là việc các soạn giả nhấn mạnh vai trò và tác dụng của con người, nhất là các danh nhân lịch sử trong việc sáng tạo nền văn hoá dân tộc… Sử bút trong bộ sách này, tuy nghiêm cẩn, nhưng nhẹ nhàng, tươi tắn. Ở cuối mỗi truyện, phần lớn đều có lời bình… Những lời bình ấy, có tính chất như người xưa từng nói: “Hoạ long, điểm nhãn” (Vẽ rồng xong, phải điểm nhỡn), khiến cho người đọc nắm được “cái thần” của nhân vật”.

Trong phạm vi của bài viết này, như trên đã nói, hai tác giả Quách Tấn – Quách Giao đã từng so sánh “hai danh sĩ nổi tiếng văn chương cũng như võ nghệ” là Lê Đại Cang (1771-1847) và Nguyễn Công Trứ (1778-1858), cho nên, tôi cũng xin chỉ trích dẫn hai lời bình của nhóm soạn giả Đại Nam chính biên liệt truyện (Nhị tập) về hai nhân vật trên, dưới dây:

[Lê Đại] “Cương là người hào mại, phóng dật, ở đâu cũng thường bày bút mực, sách vở, đàn, chén uống rượu, hoa cây, để tự thích. Tập văn đã làm và phần nhiều mất đi, chỉ còn các tập: Nam hành, tập thơ Tỉnh ngu, 3 quyển” [26].
[Nguyễn] “Công Trứ là người trác lạc, có tài khí, có tài làm văn, càng giỏi về Quốc âm (tức chữ Nôm – TG), làm ra thi ca rất nhiều, khí hào mại, phổ đầy trong âm luật; đến nay hãy còn truyền tụng. Trứ làm quan thường bị cách, rồi lại được cất nhắc lên ngay; tỏ sức ở chiến trường nhiều lần lập được công chiến trận… Khi tuổi già về nghỉ, tức thì bỏ qua việc đời, chơi thú sơn thủy, trải hơn 10 năm, có cái hứng thú phớt thoảng ra ngoài sự vật. Đến nay người ta, phần nhiều tưởng đến phong độ khí khái của ông” [27].

Về sự nghiệp văn chương, có thể nói giữa hai danh sĩ nổi tiếng trên, Nguyễn Công Trứ may mắn hơn Lê Đại Cương. Hiện nay, chúng ta còn lưu giữ được một số lượng đáng kể tác phẩm của Nguyễn Công Trứ, bao gồm: 54 bài thơ chữ Nôm, 67 bài Hát nói (hầu hết là chữ Nôm), 1 bài thơ chữ Hán (Thất thập tự thọ - Tự thọ của bảy mươi tuổi), 1 bài phú Nôm (Hàn Nho phong vị phú), 37 câu đối (25 câu đối chữ Nôm, 12 câu đối chữ Hán), 1 bài Văn sách đoạt Giải nguyên [28] của Nguyễn Công Trứ [29]. Còn với Lê Đại Cang không có được cái may mắn trên. Chúng ta đều biết, theo các soạn giả Đại Nam chính biên liệt truyện, thì vào khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, hai tập văn Nam hành và Tục Nam hành, là hai tập bút ký ghi lại những công việc Lê Đại Cang đã trải qua trong thời gian làm quan ở phương Nam của Tổ quốc và ở nước Chân Lạp, cùng với tập thơ Tỉnh ngu thi tập, 3 quyển vẫn còn. Nhưng thật đáng tiếc, theo tác giả Nguyễn Thế Khoa thì: “Cho đến nay, các tập Nam hành, Tục Nam hành, Tỉnh ngu thi tập, đều chưa tìm thấy văn bản; chỉ còn tập Lê thị gia phả, vốn được lưu giữ tại từ đường họ Lê ở Luật Chánh, sau ngày miền Nam giải phóng được gia tộc hiến cho Bảo tàng Quang Trung, đang được lưu giữ tại Bảo tàng này” [30].

Tôi cho rằng: Nếu như các tác phẩm vừa kể trên của danh sĩ Lê Đại Cang mãi mãi không tìm thấy, thì đấy không chỉ là mất mát của riêng dòng họ Lê ở Luật Chánh, mà còn là tổn thất không nhỏ đối với nền văn học sử Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX. Tôi đọc Lê thị gia phả, cũng đã thấy phần nào văn tài của Lê Đại Cang, nhưng chưa thấy hết được nét tài hoa “hào mại và phóng dật” ở ông, như nhận xét của các soạn giả sách Đại Nam chính biên liệt truyện. Tôi tin rằng các soạn giả ấy đã từng được đọc tác phẩm Tỉnh ngu thi tập, 3 quyển của Lê Đại Cang, nên mới có thể hạ những lời bình phẩm về ông trên đây.

Ở phần trên, chúng tôi đã luận về nhân cách kẻ sĩ quân tử, đại trượng phu trong con người Lê Đại Cang, nhưng để dễ dàng thoát khỏi những hoàn cảnh đầy cay cực, để nhanh chóng vượt lên bao biến cố hiểm nguy trong cuộc đời, Lê Đại Cang cũng cần có thêm phẩm chất của người Nghệ sĩ, một bậc tài tử phong lưu.
Chúng tôi thiết nghĩ: Kẻ sĩ xưa có đôi điều khác với người trí thức ngày nay, là họ được đào tạo ngay từ nhỏ khả năng cảm thụ “cái đẹp” khá tinh tế. Từ trong bản chất, kẻ sĩ là một nghệ sĩ thực thụ. Học trong trường, họ được học “Lục nghệ”: Thi - Thư - Lễ - Nhạc - Dịch - Xuân Thu, hoặc: Lễ - Nhạc - Xạ (bắn cung) - Ngự (đánh xe) - Thư (viết chữ) - Số (tính toán), chơi ngoài đời, họ theo đòi Tứ tài tử: Cầm - Kỳ - Thi - Hoạ, hoặc: Cầm - Kỳ - Thi - Tửu, trong đó phần lớn là những môn kiến thức về văn hoá, nghệ thuật. Kẻ sĩ được học, ngoài kiến thức chuyên môn, còn được bồi dưỡng khả năng cảm thụ cái Chân - Thiện - Mỹ.

Khổng tử có thể nói là người đầu tiên hiểu sâu sắc tác dụng của văn nghệ đối với việc hình thành phẩm chất nghệ sĩ, hào mại trong con người kẻ sĩ. Ông nói:

“Chí ư đạo, cứ ư đức, y ư nhân, du ư nghệ”
志 於 道,據 於 德,依 於 仁,游 於 藝 (Dốc chí ở đạo, căn cứ ở đức, chỗ dựa ở nhân, vui chơi ở nghệ [tức Lục nghệ: Lễ - Nhạc - Xạ - Ngự - Thư - Số]. – Luận ngữ - Thuật nhi).

Khổng tử còn nói:

“Hưng ư Thi, lập ư Lễ, thành ư Nhạc”
興 於 詩,立 於 禮,成 於 樂 (Hưng phấn nhờ Kinh Thi; đứng vững được [trong xã hội] là nhờ Lễ; hoàn thành được [nhân cách] là nhờ Nhạc. – Luận ngữ - Thái bá).

Lịch sử cổ kim, Đông - Tây thường cho chúng ta những bài học khá đau lòng về kết cục của những con người quá để tâm vào tham vọng danh lợi, vào quyền chức, một khi họ bị cách chức, hoặc gặp phải các biến cố lớn trong cuộc đời. Tôi thiết nghĩ căn nguyên của những bi kịch ấy là do họ thiếu một phẩm chất rất quan trọng, ấy là: chất nghệ sĩ thực thụ. Những hạng người hào mại, phong lưu như Lê Đại Cang, Nguyễn Công Trứ… chẳng hạn, họ không quá coi trọng việc làm quan, không tham quyền cố vị. Họ có tâm hồn nghệ sĩ, coi làm quan với những thú chơi thanh tao thuộc về nghệ thuật để di dưỡng tính tình: Cầm - Kỳ - Thi - Hoạ (hay Cầm - Kỳ - Thi - Tửu) chẳng cách xa nhau là bao. Nhưng những thú chơi này không phải là thú chơi đại chúng vì thuộc về phạm trù tài năng và nghệ thuật, không phải ai cũng biết chơi và biết thưởng thức, không phải là lĩnh vực của hạng “phàm phu tục tử”! Đó là nghệ thuật của những con người siêu việt, đi tìm những tri kỷ, tri âm siêu việt khác.

* * *

Theo tác giả Mịch Quang, tại từ đường họ Lê, làng Luật Chánh hiện nay vẫn còn đôi câu đối khảm trai “Nhất hoạ nhất thi”, nghĩa là vừa có
tranh vừa có thơ đề:

Miến lan vị cảm tư quân tử
Kiến trúc hà tu vấn chủ nhân.
眄 蘭 未 敢 思 君 子
見 竹 何 須 問 主 人
Tạm dịch:
Thấy lan chẳng dám nhớ quân tử!
Ngắm trúc sao còn hỏi chủ nhân?

Tương truyền đó là đôi câu đối, Lê Đại Cang cho treo tại phòng tiếp sứ Thanh [31].

Có thể đoán định mà chắc không sai với sự thật rằng: đôi câu đối vừa dẫn trên là do Lê Đại Cang sáng tác. Và cho dù không phải tự ông làm ra chăng nữa, nhưng Lê Đại Cang hẳn thấy ưng ý với nội dung của nó, vì theo tôi đã đạt được hai tầng nghĩa:

1. Tự coi mình là Trúc, và ví vị sứ nhà Thanh như hoa Lan. Vì trong văn hoá phương Đông: Mai - Lan - Cúc - Trúc, được gọi là “Tứ quý”, và tượng trưng cho hạng người quân tử. Có lẽ, chính vì thế, sau khi tiếp sứ xong, viên sứ giả nhà Thanh đã tặng Lê Đại Cang hai đôi câu đối bằng sứ:

Đông Sơn khí khái
Bắc hải phong lưu [32].
東 山 氣 概
北 海 風 流
Toạ đối hiền nhân tửu
Sơn tàng thái sử thi.
坐 對 賢 人 酒
山 藏 太 史 诗
Tạm dịch:
Ngồi trước người hiền uống rượu
Núi tàng trữ thơ thái sử.

2. Tầng nghĩa thứ hai của đôi câu đối là ngầm kín đáo giới thiệu nhân cách và phẩm chất của Lê Đại Cang, tức chủ nhân của phòng tiếp khách: vừa là Trúc, bản chất cứng rắn, tiết tháo, vừa là Lan, phong lưu, hào hoa…

Theo chúng tôi, với 77 năm cuộc đời mình, Lê Đại Cang đã đạt được một sự nghiệp đáng nể trọng, xứng đáng trở thành một danh nhân lịch sử của Việt Nam vào nửa đầu thế kỷ XIX. Có được điều ấy, phải chăng trong ông, ngay từ rất sớm đã hàm chứa hai phẩm chất cao quý, tốt đẹp của Trúc (Đại trượng phu, tiết tháo, kiên cường) và Lan (Nghệ sĩ, tài tử, phong lưu)?

Lê Đại Cang quả là một “Ngọn núi kỳ vĩ” (Kỳ Phong) đứng chót vót bên cạnh những “ngọn núi khác” – những danh nhân lịch sử của vùng đất “địa linh” và “thượng võ” Bình Định – quê hương ông.

Với riêng cá nhân tôi, khi viết bài luận văn khoa học này, luôn luôn tâm niệm coi như một nén tâm hương, xin dâng lên trước Bàn thờ danh nhân Lê Đại Cang, để thể hiện sự cảm phục và lòng kính trọng đối với một bậc Danh nhân, Danh sĩ đầy bản lĩnh, khí phách, nhưng cũng thấm đẫm nét hào mại, tài hoa.

Viết tại Bạch Liên thư trai
Tháng Mạnh Đông – năm Nhâm Dần (2012)
N.M.T.


Xem online : Kỳ trước


[1Viện Sử học

[2Về tên của Danh nhân lịch sử Lê Đại Cang - 黎 大 綱. Có 2 cách phiên thiết:

  • Cang: a. Thuyết văn giải tự: Cổ lang thiết, tức Cang. b. Khang Hy tự điển: Cổ lang thiết (Quảng Vận), tức Cang. Cư lang thiết (Tập Vận), tức Cang.
  • Cương: c. Từ Nguyên: Ca khang thiết, âm Cương, tức Cương.
  • Nhóm Dịch giả Viện Sử học dịch trong Đại Nam thực lục chính biên là Lê Đại Cương.
  • Vũ Ngọc Liễn dịch trong Lê thị gia phả là Lê Đại Cang.

Trong bài viết này, chúng tôi theo cách đọc của Dịch giả Vũ Ngọc Liễn, vì cho rằng âm Cang là âm đọc của địa phương Bình Định và trong dòng họ Lê của ông.

[3Lê Đại Cang: Lê Thị gia phả. Nxb Dân Trí, H. 2011, bản dịch của Vũ Ngọc Liễn, tr. 80.

[4Đại Nam chính biên liệt truyện. Nxb Thuận Hoá – Huế, 1993, tập 3, tr. 336. Chúng tôi chủ trương nên phiên âm tên ông là “Cang”, nhưng ở đây và kể cả sau này, vì tôn trọng cách dịch của các dịch giả tiền bối, chúng tôi vẫn trích dẫn là “Cương”.

[5Từ Nguyên. Bộ Hiệt, tập Tuất, tr. 1632.

[6Lê Đại Cang: Lê thị gia phả. Sđd, tr. 81.

[7Lê Đại Cang: Lê thị gia phả. Sđd, tr. 94.

[8Lê Đại Cang: Lê thị gia phả. Sđd, tr. 17.

[9Kỳ Phong - 奇 峯: tên hiệu của Lê Đại Cang. Tên Tự: Thống Thiện - 統 善, có nghĩa là: “Hợp mọi điều thiện”, có liên hệ về nghĩa với tên Nhũ danh Lê Đại Cang (Tam Cang – Ngũ Thường, gọi tắt là “Cang Thường”). Còn tên Hiệu là tên có ý nghĩa gửi gắm hoài bão, chí hướng của mình. “Kỳ Phong” là Ngọn núi kỳ vĩ.

[10Kỳ Hoa. Năm 1841, khi vua Thiệu Trị lên ngôi, vì kỵ húy tên phụ mẫu là Hồ Thị Hoa, nên cho đổi thành Kỳ Anh.

[11Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí. Nxb Khoa học xã hội, H. 1971, tập 3, tr. 13.

[12Dẫn theo: Nho giáo xưa và nay. Vũ Khiêu (chủ biên). Nxb Khoa học xã hội, H. 1991, tr. 229.

[13Dẫn theo: Nho giáo xưa và nay. Sđd, tr. 227.

[14Năm 1835, đổi Phiên An thành Gia Định.

[15Thự: cũng giống như “Quyền” ngày nay, tạm giữ chức, nếu làm tốt, thì chính thức bổ nhiệm.

[16Cách lưu: bị cách chức Tổng đốc, nhưng được lưu lại tại nhiệm sở làm việc.

[17Cao Xuân Dục: Quốc triều chính biên toát yếu. Nxb Thuận Hoá – Huế 1998, tr. 211, 212.

[18Thời quân chủ, những người làm quan có tội, mà triều đình xét thấy tội còn có điểm khoan giảm được, thường cho đi: “Quân tiền hiệu lực”, hoặc “Dương trình hiệu lực” (tức theo thuyền của triều đình ra nước ngoài như: Xingapo, Nam Dương làm thủy thủ, buôn bán…). Phan Huy Chú, Lý Văn Phức, Cao Bá Quát… đã từng bị “Dương trình hiệu lực”.

[19Cao Xuân Dục: Quốc triều chính biên toát yếu. Sđd, tr. 291, 292.

[20Trảm giam hậu: Một trong Ngũ hình (Xuy - Trượng - Đồ - Lưu - Tử) của chế độ quân chủ Việt Nam. Tử là giết chết, có nhiều hình thức xử tử. Giảo (thắt cổ chết): Giảo quyết (thắt cổ chết ngay), Giảo giam hậu (Xử vào tội giảo, nhưng cho giam lại chờ xét lại sau), Trảm: chém đầu; Trảm quyết và Trảm giam hậu.

[21Cao Xuân Dục: Quốc triều chính biên toát yếu. Sđd, tr. 292.

[22Cao Xuân Dục: Quốc triều chính biên toát yếu. Sđd, tr. 345.

[23Bố chánh là nói tắt chức Bố chánh sứ - vị trưởng quan đứng hàng thứ 2 của tỉnh thời Nguyễn, dưới chức Tuần phủ (ở trật Tòng Nhị phẩm), tương đương với chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh, phụ trách vấn đề Tài mậu ngày nay).

[24Hàn Phi tử - thiên Nhị Bính.

[25Lê Đại Cang – Lê thị gia phả. Sđd, tr. 59.

[26Đại Nam chính biên liệt truyện. Sđd, tập 3, tr. 337.

[27Đại Nam chính biên liệt truyện. Sđd, tập 3, tr. 376.

[28Thi Hương: dưới triều Nguyễn đỗ đầu gọi là Giải nguyên (hay Thủ khoa), đỗ thứ hai, gọi là ́á nguyên.

[29Đoàn Tử Huyến (chủ biên): Nguyễn Công Trứ - Trong dòng lịch sử. Nxb Nghệ An, 2008, tr. 47.

[30Lê Đại Cang: Lê thị gia phả. Sđd, tr. 62, 63.

[31Lê Đại Cang: Lê thị gia phả. Sđd, tr. 38. Vì tác giả Mịch Quang không ghi chép nguyên văn chữ Hán, nên tôi căn cứ vào phiên âm Hán – Việt, mà khôi phục như trên. Ở phần dịch nghĩa, tôi cũng sửa một chút cho đúng với nghĩa của văn cảnh – NMT.

[32Đôi câu đối này nghĩa đã rõ, thiết tưởng không cần dịch nghĩa.