Logo of this site

Home > Bạn đọc > Từ ngoài > Sống chậm ở Lhasa

Sống chậm ở Lhasa

Monday 24 September 2007

Bảy năm trước, khi bắt đầu đọc những cuốn sách đầu tiên về Tây Tạng (TT), tôi đã nhủ thầm phải đến vùng đất ấy và không chỉ một lần. Sau 5 ngày ở TT, tôi biết rằng TT không thể chỉ đến một lần, ít ra là với Lhasa. (Ảnh: cung Potala)

JPEG - 41.3 kb
Hành hương về Lhasa

Hai người hành hương Tây Tạng

1. Acetazolamide loại 250g - thuốc phòng ngừa chống say độ cao, trà gừng, gừng tươi, muối tinh, dầu cao, vitamin tổng hợp, áo ấm, cẩm nang du lịch "Tibet" (Tây Tạng) bằng tiếng Anh của NXB Lonely Planet, kính mát, sáp nẻ, kem chống nắng... - liệt kê một loạt các vật thiết thân mang theo chuyến đi, tôi cười, nói với nhà khoa học-khí công sư (KCS) Hoàng Vũ Thăng - Giám đốc TT Khí công-Dạy nghề nhân đạo NQT, Hội Chữ thập Đỏ Hà Nội: "Đủ thứ, thiếu mỗi sức khoẻ. Trước chuyến đi, bận quá, tôi chưa chuẩn bị kịp". Ông Thăng cười: "Đi với đoàn KCS, lo gì!".

Gần 20 năm nay, ông Thăng là người vừa nghiên cứu, hệ thống hoá, phát triển, hiện đại hoá Tĩnh khí công Việt Nam (TKCVN) - phương pháp điều khiển khí vận hành, chuyển hoá trong trạng thái cơ thể ngồi tĩnh một chỗ. Phương pháp này giúp người tập phục hồi, ổn định, nâng cao sức khoẻ thuận tự nhiên.

Đoàn TKC VN đi TT chuyến này là tiền trạm, gồm 15 người, cao tuổi nhất - nhà cách mạng lão thành Lê Hữu Hà 84 tuổi, trẻ nhất - ba cô sinh viên tuổi hai mươi là Mai (ĐH Wittenberg - Ohio - Hoa Kỳ), Bình (khoa Thiết kế Công nghiệp - Trường La Salle - Singapore), Hoa (ĐH Tài chính - Ngoại thương - Thượng Hải - Trung Quốc). Tầm tuổi trung niên có sáu vị đàn ông vừa học trò, vừa đệ tử của ông Thăng và bốn chị cứ khiêm tốn nhận "đi TT dối già, không có thầy chẳng dám đi!" (ông Thăng được mọi người nhất mực cung kính gọi thầy - xưng con, hoặc em). Chỉ mình tôi - người thứ 16 - "tay mơ", hay nhầm lung tung giữa bách hội và đan điền, lại hầu như chưa bao giờ chịu thở ra hít vào một cách thật thà, chậm rãi.

Trên chuyến tàu Côn Minh - Thành Đô (22.7), ông Thăng mở laptop chiếu "Mêkông ký sự" cho cả đoàn xem. Phim tài liệu truyền hình nhiều tập này của TFS thật đúng là một cẩm nang bằng hình khá hữu hiệu cho những ai muốn tới TT. 23-24.7, cả đoàn thử sức ở Tứ Xuyên, theo ông Thăng tới Lạc Sơn Đại Phật và bốn giờ đồng hồ leo núi Nga Mi - một trong bốn ngọn núi Phật giáo linh thiêng của TQ.

Tại núi Nga Mi, tìm được chỗ khí tốt, ông Thăng bảo cả đoàn dừng, ngồi luyện. Thế kiết già, bán kiết già, lưng thẳng, mắt nhắm, cứ nghe ông Thăng hô gì, làm theo thế. Có lẽ tôi thuộc loại "trơ khí", chưa biết thu - xả khí, nên mãi chả cảm thấy luồng khí nóng trong người. Nhưng, hồi sau, rồi cũng thấy hình như đỡ mệt (?). Một chị tên Thuỷ cười, ghé tai tôi: "Thầy phát khí. Tập trung chú ý vào, thu đi! Bao nhiêu khí tốt sang cả mình đấy!".

2. Chuyến bay 3U 8657 cất cánh lúc 6 giờ sáng 25.7 từ Thành Đô tới Lhasa thực sự là chuyến bay bão táp! Trời mù sương, hơn 8 giờ sáng, còn 5 phút nữa tới sân bay Lhasa Gongga, máy bay không sao thả càng - hạ cánh, đành ngược lại TĐ. Hơn 10 giờ tiếp tục từ TĐ tới Lhasa. Nhìn vẻ mặt xanh rớt của tôi, bác sĩ - thạc sĩ Huỳnh Việt Trung - "cánh tay phải" của ông Thăng - đưa cuốn "Một chút vỡ lòng TKC VN". Tôi hiểu nôm na đây là cẩm nang BS Trung tóm tắt phương pháp hít-thở của ông Thăng. BS Trung chỉ dẫn điều cơ bản: "Chị thử tập thở 4 thì thật sâu, thật đều, thật chậm! Thở và nếu muốn, vừa thở vừa thử niệm Phật Ommanipadmehum theo chu trình: Hít vào (10 giây) - ommani, nén thở (5 giây) - pad, thở ra (10 giây) - mehum - đẩy hết trọc khí, ngừng thở 5 giây".

Loay hoay nhẩm hoài không thuộc câu niệm Phật, tôi nhìn ra cửa sổ máy bay. Trời ngằn ngặt xanh, mây bồng bềnh trắng. Tôi bèn chia chu trình thở theo cách của mình: Nhìn trời/ xanh/Thấy mây trắng. Rồi lại thử chia theo "câu chú" - một cách ứng xử với cuộc đời mà người bạn vong niên thường khuyên niệm: "Trông lên/mình chẳng/bằng ai/Nhìn xuống/chẳng ai/bằng mình". Hình như thấy dễ thở hơn.

Gần một giờ chiều chúng tôi mới tới sân bay. 7 giờ đồng hồ bay cho quãng đường tổng gộp là hơn 10.000km! Suốt con đường dài 70km từ sân bay về Lhasa, tôi áp mặt vào cửa kính ôtô mát lạnh, nghe trái tim mình từ từ thắt lại dịu dàng một nỗi đau (theo đúng cả nghĩa bóng lẫn đen) trong cái nhìn đầu tiên đã thấy đầy quyến luyến với vùng đất từ lâu mơ tưởng đến. Tôi cố làm theo lời khuyên của Đại đức Thích Minh Hiền gặp ở chùa Thầy tuần trước chuyến đi: Không chụp nhiều ảnh, để lặng yên cảm mối giao hoà mình với thiên nhiên. Thăm thẳm cô liêu những núi xám, những mảng lúa mì vàng sậm, những vạt cải rực vàng, dương liễu xanh non, những khoảng hồ màu ngọc bích, những người Tạng lầm lũi trên đường...

Cảnh nối cảnh lướt nhanh trong sự im lặng hầu như tuyệt đối. Lúc nào và ở đâu cũng vậy thôi, sự thinh lặng trầm mặc của Mẹ thiên nhiên là nỗi an ủi lớn nhất và bất tận với con người. Tôi thầm nói lời cảm ơn trời đất, cha mẹ đã sinh ra mình, cảm ơn một cơ duyên cho mình cơ hội gặp TT.

Sau bữa trưa trong một nhà hàng có mâm xoay dọn vài món Tạng (hơi khó ăn) chen món TQ, mấy chị em cùng soi gương. Bàng hoàng. Thở dốc. Người khoẻ nhất cả khuôn mặt cũng tái xám như chì. Ông Thăng mặt tía đỏ, lặng thinh hút thuốc, uống rượu, không ăn, rồi uống nhiều trà chanh đường đóng chai. "TT ở độ cao 3.700m, không khí trong, loãng, lượng oxy chỉ bằng 70% của đồng bằng. Mọi người nên đi thật chậm, thở sâu. Nhớ uống thuốc Hồng Cảnh Thiên (một loại thuốc chống say độ cao của TQ), tuân thủ 9 lời khuyên khi đến TT. Du khách Hồng Kông lên TT cùng thời gian với đoàn, có người đã phải nhập viện", anh Thắng - hướng dẫn viên Cty du lịch Lào Cai - nói.

Chiều, cả đoàn nghỉ ngơi làm quen với TT. Vùi mình trong chăn ấm gối êm của KS Thành Đô, tôi bải hoải ngủ vùi. Bừng tỉnh đã là 19 giờ. Bữa tối, bên mâm cơm, ngồi với mọi người, ông Thăng mặt bầm đỏ vẫn im lặng, không ăn. "Thầy phải vận công nhiều", vẫn chị Thuỷ thì thầm. Có lẽ sức khoẻ của tôi đã được các KCS "bảo kê", nên tôi không hề nhức đầu, chóng mặt, chỉ thấy tức ngực, tim đập chưa bao giờ nhanh tới thế.

3. Kể từ 1.7.2007, những người hành hương TT được ưu tiên dành riêng buổi sáng chiêm bái Cung Potala. Chiều mới tới phiên du khách. Dù đi TT, nhưng vì theo tua, chúng tôi vẫn phải rơi vào "vòng tục lụy": Tới vài điểm mua bán được sắp theo kế hoạch.

Sáng 26.7, tại nhà thuốc nổi danh nhất Lhasa là Tạng Thụ Đường, không muốn nghe về y Tạng dẫu biết rằng rất nổi tiếng, tôi lẻn ra sân, hít khí trời mát dịu. Trên mảng cỏ non tươi của nhà thuốc, một người đàn ông Tạng cắt cỏ bằng máy Globalpower. Mở cuốn "Tibet", tôi ậm oẹ câu tiếng Tạng: "Tên anh là gì?". "Pochong". Tôi chuyển sang tiếng Anh: "Tôi muốn thử cắt cỏ". Pochong gật đầu, chuyển máy cho tôi.

Thấy tôi loay hoay cố đẩy máy cho nhanh mà cỏ vẫn bị cắt ít, Pochong nói "Slowly" (chậm thôi - BT). Tôi cười phá. Chầm chậm thôi. Sống chậm không có nghĩa lờ đờ uể oải. Chậm rãi, khoan thai, đâu chỉ là chuyện hít-thở, hay học cách cắt cỏ (và cả chăn trâu - theo quan điểm người xưa). Là cung cách sống. Sống chậm, nghe giản đơn, ngộ ra có thể trong khoảnh khắc, nhưng thực hành, có khi cũng phải cả đời.

Thời gian tham quan Potala cho một đoàn khách là một giờ đồng hồ. 14 giờ 26.7, Cung Potala. Tôi đeo kính mát, ngẩng đầu nhìn thẳng mặt trời chói chang rọi khung cửa cung điện, bất giác cảm thấy rõ ràng từ từ vầng ánh sáng chói đỏ xuyên thẳng và bao trùm đỉnh đầu. Nóng ấm, dễ chịu. Đấy có phải luồng linh khí Potala? Cung Potala cao gần 120m - 13 tầng, chiều dài từ Đông sang Tây - 360m, dựa lưng vào núi Marpori (Hồng Sơn), có tổng diện tích 12.000m2, được UNSCO công nhận là Di sản Thế giới năm 1994, có 24 điện thờ nhỏ tại ba phần Hồng cung, Bạch cung, Sơn cước hạ tuyết.

Potala ngập trong các màu cơ bản: Xanh lam sậm, trắng, nâu đỏ, vàng nghệ, đen, xanh lá. Khắp cung đều thấy tám biểu tượng cát tường (tiếng Sanskrit là Ashtamanga): Bảo cái, Kim ngư, Bảo bình, Liên hoa, Bảo loa, Bàn trường, Khải hoàn kỳ, Pháp luân. Mê mẩn trước các tranh tường (Thangka), đồ hình vũ trụ (Mandala), các bức tượng, tôi dần dần thấy bối rối bởi vốn hiểu biết quá hạn hẹp của mình về Phật Tạng và mỹ thuật TT.

Một cảm giác xoay đảo nhẹ nhàng bao trùm lấy tôi khi tôi đứng trước gian thờ số 10 - phòng Thiền của Songsten Gampo - Tùng Tán Cương bố (617-698) - vị vua sáng lập triều đại đầu tiên ở TT, người đã dời đô từ Yarlung tới Lhasa; và trước gian số 19 thờ Quán Thế Âm với hai pho tượng Tara tuyệt tác. Theo lời cô HDV Tiểu Lý: Bồ Tát Tara sinh ra từ giọt nước mắt trắc ẩn. Tara là nữ Bồ Tát được người TT sùng kính vì công năng hộ trì, biểu hiện của trí huệ và là hiện thân của Bát nhã. Tara được tìm thấy dưới 21 hình dạng, phổ biến nhất là Bồ Tát Tara trắng và xanh lục.

Theo sự phổ biến của Bồ Tát Tara diễn ra tại Tây TT trùng khớp với sự tăng trưởng của phù chú giáo - tôn giáo ảnh hưởng đặc biệt với Phật giáo. Vẻ đẹp mẫn tuệ và từ bi của hai pho tượng Tara khiến tất cả những người đi quanh gian thờ rúng động, đôi tay ai cũng chắp lại trước ngực, như một búp sen. Có phải chăng, đức tin của con người đối với một tôn giáo nào đó, đôi khi khởi nguồn từ sự cảm nhận sâu xa, sự sùng kính vẻ đẹp các pho tượng, các công trình tôn giáo?

Tôi rời Potala trong tâm thế "Đã nhìn, đã gặp điều cần nhìn cần gặp", cảm nhận sự ấm áp của những tia nắng chiều từ trời xanh thăm thẳm; và chợt nhận ra rằng, câu nói "Trong lòng muốn hát ca" không hề là một câu sáo rỗng. Tới lúc đó tôi mới thực cảm thấy rõ ràng thế nào là "có một luồng khí trong, thanh, sạch, mát lan truyền trong cơ thể", như phần kết thúc một bài luyện thở theo mật lệnh của KCS.

Dưới chân tường cung điện Potala, tôi thấy những người Tạng hành hương. Họ đi quanh điện theo chiều kim đồng hồ, tay cầm kinh luân (prayer wheel) tay lần tràng hạt, thi thoảng chạm tay và hàng chuyển luân kinh đặt dọc bờ tường cung điện. Chậm rãi theo bước chân họ, tôi bắt đầu lẩm nhẩm "Ommanipadmehum"...

Lâm Tuyền Lao Động CT số 33