Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Thi ca > Sự chết, tình yêu, cuộc sống

Paul Eluard (1895 - 1952)

Sự chết, tình yêu, cuộc sống Sự chết, tình yêu, cuộc sống

La mort, l’amour, la vie

Thứ Tư 7, Tháng Ba 2018

Bản dịch Hàn Thuỷ

Tưởng đập vỡ được mênh mông sâu thẳm
Bởi nỗi buồn trần trụi tịch liêu
Thân duỗi dài trong ngục tù kín cửa
Như một người chết biết điều
Với hào quang hư không là thấy đủ
Ta nằm yên trên vô nghĩa dạt dào
Của thuốc độc uống vì yêu tro bụi
Máu màu chói không chói bằng màu cô đơn
Ta đã muốn rũ bỏ hình hài
Với tử thần cùng chia nhau cái chết
Trả trái tim về hư vô đem hư vô trả cho đời
Xoá hết cả vết hơi và mảnh kính
Không trước không sau không cả chung quanh
Đã tịch diệt đôi bàn tay giá lạnh
Tịch diệt rồi xương xẩu giá băng
Lời hứa sống quên dần

Rồi em tới lửa sáng bừng rực rỡ
Bóng tối lui tan rã tuyết trần ai
Trên trái đất thịt da em bao phủ
Nghe tâm hồn anh rũ nhẹ không
Em đã đến trong anh cô đơn hết
Em dẫn lối đường đời anh đã biết
Định hướng đi mạnh không thể đo lường
Trong không gian và thời gian tiến bước
Hướng tới em nguồn sáng ở vô cùng
Đời đã mọc hình hài buồm hy vọng phồng căng
Đêm giấc ngủ lung linh bao mộng đẹp
Đợi bình minh những ánh mắt tin yêu
Em giăng đôi tay vén mở sa mù
Trên làn môi sương sớm về lóng lánh
Anh mệt mỏi không còn chừ lặng lẽ ngất ngây
Yêu tình yêu như những ngày mới lớn

Ruộng đất đông người cày công trường đèn toả cháy
Luá uốn mình gợn sóng triền miên
Muà gặt mùa nho chín vô cùng đông người hái
Không gì giản đơn chẳng đứng gì riêng
Trời bao la như biển và biển rộng như đêm
Mọi mọi nhà chung tường chung mái
Rừng chở che cây cối bình yên
Và những con đường luôn cùng nhau đan chéo
Loài người sinh ra là để kết giao
Để lắng nghe để hiểu và yêu
Để sinh sôi rồi con cái thành cha mẹ
Đẻ ra những đứa trẻ du cư
Chúng sẽ lại phát minh ra lửa
Tái tạo loài người
Và đất trời tổ quốc
Của mọi người
Của mọi thời gian.

Nguyên văn

J’ai cru pouvoir briser la profondeur l’immensité
Par mon chagrin tout nu sans contact sans écho
Je me suis étendu dans ma prison aux portes vierges
Comme un mort raisonnable qui a su mourir
Un mort non couronné sinon de son néant
Je me suis étendu sur les vagues absurdes
Du poison absorbé par amour de la cendre
La solitude m’a semblé plus vive que le sang
Je voulais désunir la vie
Je voulais partager la mort avec la mort
Rendre mon cœur au vide et le vide à la vie
Tout effacer qu’il n’y ait rien ni vitre ni buée
Ni rien devant ni rien derrière rien entier
J’avais éliminé le glaçon des mains jointes
J’avais éliminé l’hivernale ossature
Du vœu de vivre qui s’annule

Tu es venue le feu s’est alors ranimé
L’ombre a cédé le froid d’en bas s’est étoilé
Et la terre s’est recouverte
De ta chair claire et je me suis senti léger
Tu es venue la solitude était vaincue
J’avais un guide sur la terre je savais
Me diriger je me savais démesuré
J’avançais je gagnais de l’espace et du temps
J’allais vers toi j’allais sans fin vers la lumière
La vie avait un corps l’espoir tendait sa voile
Le sommeil ruisselait de rêves et la nuit`
Promettait à l’aurore des regards confiants
Les rayons de tes bras entrouvraient le brouillard
Ta bouche était mouillée des premières rosées
Le repos ébloui remplaçait la fatigue
Et j’adorais l’amour comme à mes premiers jours.

Les champs sont labourés les usines rayonnent
Et le blé fait son nid dans une houle énorme
La moisson la vendange ont des témoins sans nombre
Rien n’est simple ni singulier
La mer est dans les yeux du ciel ou de la nuit
La forêt donne aux arbres la sécurité
Et les murs des maisons ont une peau commune
Et les routes toujours se croisent
Les hommes sont faits pour s’entendre
Pour se comprendre pour s’aimer
Ont des enfants qui deviendront pères des hommes
Ont des enfants sans feu ni lieu
Qui réinventeront le feu
Qui réinventeront les hommes
Et la nature et leur patrie
Celle de tous les hommes
Celle de tous les temps.

PAUL ELUARD


Chú thích ND

  • Thi sĩ Paul Eluard viết bài này năm 1950, trong tập thơ Le Phenix (Phượng hoàng) xuất bản cùng năm. Năm 1946 vợ thứ nhì của ông là nghệ sĩ sân khấu Nusch (tên thật Maria Bentz) qua đời khiến ông rất đau buồn, tuyệt vọng. Năm 1949 ông gặp Dominique, người sẽ trở thành vợ thứ ba của ông năm 1951. Tập thơ Phượng hoàng gồm những bài thơ ông viết tặng Dominique, người đã vực dậy con chim Phượng Eluard từ tro tàn.
  • Bài thơ chia ba đoạn rất rõ rệt, mô tả nỗi cô đơn tuyệt vọng, sự gặp gỡ người yêu, và sau cùng là cái nhìn tươi sáng về cuộc đời.
  • "voeu de vivre" dịch là "lời hứa sống" theo nghĩa đen — tập tục Thiên chúa giáo, lời hứa trang trọng sẽ sống như thế nào.
  • "ni vitre ni buée" nói về tập tục ở Âu châu ngày xưa : để kiểm xem người nào đã chết thật chưa thì người ta để trước mũi một cái gương (hay mảnh kính), nếu còn hơi thở (dù rất nhẹ) thì hơi nước tụ lại trên mặt kính. Thử nghiệm này nếu khí hậu quá nóng thì không chính xác.
  • "sans feu ni lieu" dịch "du cư" bởi vì đây là thành ngữ cổ, trong đó "lieu" là gia đình, và "feu" là bếp lửa, tượng trưng cho ngôi nhà.
  • Ngoài ra, bản dịch Xuân Diệu thiếu một câu (thứ 5 từ dưới lên) về "phát minh ra lửa". Sáu câu cuối bài này cực kỳ cao siêu, mà câu mất đi lại là chủ đạo !!! Thi sĩ tiên tri về một thế hệ mới, sẽ lấy toàn cầu làm quê hương, và chúng sẽ phát minh một chuyện để "tái tạo loài người" (!!!) tương tự như phát minh ra lửa mà tác giả dùng làm ẩn dụ. Đó không phải Internet thì là gì? Thế hệ đó đã tới.

Có nhắn tin hay bình luận gì không?

xét trước, đăng sau

Diễn đàn này được điều hợp trước: bài vở đóng góp sẽ xuất hiện sau khi được quản trị viên chấp thuận.

Chi tiết về bạn (không bắt buộc)
Votre message
  • Ce formulaire accepte les raccourcis SPIP [->url] {{gras}} {italique} <quote> <code> et le code HTML <q> <del> <ins>. Pour créer des paragraphes, laissez simplement des lignes vides.