Xem lẹ

Trang nhà > Sử­ sách > Khảo cổ > Sử dụng Khái niệm mạng* trong Lý thuyết Phát triển Chính trị Xã hội – Trường hợp (...)

Sử dụng Khái niệm mạng* trong Lý thuyết Phát triển Chính trị Xã hội – Trường hợp Đông Nam Á (3)

Cập nhật: Đông Tỉnh

Chủ Nhật 23, Tháng Mười 2011

III. THẢO LUẬN

Việc điểm qua các bằng chứng về cấu trúc mạng trong tiền sử, lịch sử và dân tộc học ĐNA cho thấy các bước hướng tới một mô hình nhận thức thứ bậc cho quá trình phát triển phức hợp xã hội phù hợp với bối cảnh ĐNA. Vì vậy tôi thấy có hai yếu tố cơ bản đóng góp vào sự phát triển mang tính thứ bậc ở ĐNA có những mối ràng buộc sâu sắc với quỹ đạo phát triển vùng: 1) các khuynh hướng hệ thống xã hội tập trung vào ngã thể mà tôi đề xuất chứa đựng tiềm năng cố hữu về tính linh hoạt lớn hơn so với các hệ thống thân tộc đơn tuyến; và 2) các khuynh hướng thiên về, hoặc chí ít thì cũng kết hợp các giải pháp bên đối với các vấn đề cấu trúc tại những điểm giao tiếp vô hướng, một phẩm tính có thể có những liên hệ mật thiết với bước đi và phong cách của sự phát triển xã hội ĐNA.

Các mô hình tiến hoá tập trung vào sự phát triển phân cấp thừa kế có khuynh hướng thừa nhận hoặc chúng thích hợp nhất với cách tổ chức thân tộc đơn tuyến. Vậy thì khuynh hướng thiên về các hệ thống xã hội tập trung vào ngã thể tại ĐNA được đề xuất xem xét theo ba thời đoạn: từ sự xử lý các mộ theo cách đơn lẻ trong giai đoạn tiền sử đến nhiều cách thức kế thừa ngôi vị khác nhau và bằng chứng về tính song phương trong các nhà nước lịch sử, đến sự thịnh hành của các hệ thống thân tộc gốc trong các ghi chép dân tộc học.

Tương tự như vậy, các chiến lược bàng hệ hoá với sự phân hoá ngày càng tăng xảy ra theo chiều ngang dường như là một phản ứng thường xuyên đối với các bối cảnh gợi lên tính phức hợp ngày càng tăng. Tình trạng phân mảnh của các văn hoá vật chất sau khi đồng thau xuất hiện trong giai đoạn tiền sử thay thế cho những tăng tiến đáng mong đợi trong sự phân hoá theo chiều dọc là một ví dụ. Sự kết hợp của các mạng lưới đền đài liên vùng với tư cách là một bối cảnh cho việc thể hiện tính chất thứ bậc trong giai đoạn lịch sử khi việc nhấn mạnh hệ thống xã hội thế tục lại đối kháng với quá trình phân hoá thể chế hoá theo chiều dọc, có thể được coi là cơ chế của sự phân hoá theo chiều ngang. Trong các bối cảnh dân tộc học, tính chất tăng cường trong sự phân hoá tộc thuộc, mà không phải là đồng hoá và nô dịch khi các nhóm ngôn ngữ tộc người khác nhau ngày càng tiếp xúc nhiều hơn với các xã hội có nhà nước ở vùng đồng bằng (chẳng hạn các nghiên cứu của Kunstadter [1967]) lại là một ví dụ khác.

Hệ thống thứ bậc linh hoạt và quá trình phân hoá theo chiều ngang có thể được biểu hiện bằng những cách thức khác nhau trong các xã hội khác nhau cắt qua thời gian, nhưng chúng cũng cho ta một cơ sở về tính linh hoạt trong sự đáp trả những thách thức, đó có thể là về môi trường, kinh tế, xã hội, hoặc lịch sử và các lựa chọn thay thế cho các cơ chế thứ bậc trực tiếp để thống nhất và kiểm soát điều chỉnh. Kiểu phân hoá đó có thể được sử dụng trong nhiều xã hội khác nhau trong những bước phát triển khác nhau với tư cách là một phương án thay thế hoặc thậm chí một cấu phần của sự phân hoá theo chiều dọc, với tư cách là một cơ chế để thực hiện các nhiệm vụ phức tạp và làm giảm thiểu các căng thẳng xã hội thấy rõ trong các bằng chứng ở vùng ĐNA. Một mối quan hệ mật thiết tiềm tàng liên quan đến các động thái cơ bản này chính là việc kiểm soát và các cơ chế điều chỉnh có thể bị phân tán chứ không tập trung, và mang tính bối cảnh hơn là tính cấu trúc. Tương tác liên nhóm có thể diễn ra mà không cần vị thế được xác định như là một điều kiện bền vững, việc xác định vị thế không phải là tất cả, hoặc việc xác định vị thế chỉ cần thiết cho các trường hợp đặc biệt hoặc có tính chất tình cờ (chẳng hạn như động thái cho hoặc nhận vợ).

Hơn nữa các dữ kiện ở ĐNA làm nổi lên một vấn đề là các cuộc thảo luận vể các thủ lĩnh địa và quá trình hình thành nhà nước theo cấu trúc thứ bậc đã đề cập đến một loạt biến số thực sự là một phương diện của một số trục liên tục văn hoá (Hình 9-2). Các dữ kiện ĐNA chỉ ra rằng tính chất cuối cùng và chặt chẽ của các ranh giới (giữa giai cấp, dòng tộc, và các thực thể chính trị) được áp dụng trong các mô hình thứ bậc là một phẩm tính có thể được xử lý như một biến số, mà không phải như một thành tố cố hữu của quá trình tiến hoá của tính phức hợp xã hội (một sự khác biệt gợi lại sự cố kết mang tính hữu cơ và tính cơ chế của Durkheim). Trong khi các xã hội có nhà nước trong các văn liệu khảo cổ học đều có khuynh hướng được thảo luận dựa trên cơ sở kết thúc tính liên tục của hệ thống thứ bậc, thì xã hội của chúng ta lại chỉ cần được xem xét để thừa nhận rằng các nguyên tắc cấu trúc thứ bậc là không tương thích với thể chế nhà nước.

Về vấn đề đưa ra một quan điểm tương tự với so sánh của Embree (1969) về người Thái và người Hoa thì thực tiễn khác biệt về tính nghiêm nhặt đã được các cuộc thám hiểm của người Pháp thế kỷ 19 làm nổi bật khi họ đi tìm một tuyến đường ngược dòng Mekong phục vụ cho thương mại châu Âu với Trung Quốc. Trong nội địa ĐNA, đội thám hiểm đã chạm trán với các cuộc lộn xộn tộc thuộc, các nhóm phân biệt bởi cách ăn mặc, các ngôn ngữ và các phương ngữ. Họ cũng mô tả tâm trạng cực kỳ vỡ mộng trong các nỗ lực xin phép để được vượt qua bất cứ vùng nào nằm dưới quyền cai quản của các ông hoàng địa phương liên minh với một vài “nhà nước” để mặc cả quyền bá chủ (Osborne 1975:94,105). “Việc đưa ra các quyết định tiếp theo” luôn luôn cản trở bước tiến của đội thám hiểm khi họ cần đến sự cho phép của chính quyền, và để có thể được phép, họ gặp phải cả một thiên la địa võng các trò chơi giữa các cá nhân. Đội thám hiểm đã rơi vào một trạng thái vô cùng xả láng khi cuối cùng lọt vào được một vùng buồn tẻ bởi “dấu hiệu của tính đơn điệu thường ngày” mà hệ thống văn hoá Trung Quốc đã tống vào các nhóm tộc người khác nhau đã bị đồng hoá vào nền văn minh của nó (Osborne 1975: 126) và trong đó các tuyến quyền lực, nói một cách tương đối, đều được xác định rõ ràng.

Vì vậy các lý thuyết khảo cổ học đã thất bại khi coi hiệu quả gây ra bởi sự khác biệt giữa các văn hoá với các luật tắc chặt chẽ của cấu trúc và hành vi cũng như các văn hoá có các luật tắc mềm dẻo đều tác động đến sự phát triển của tính phức hợp xã hội. Loại hình và chức năng của các hệ thống thứ bậc trong các xã hội linh hoạt trái ngược với các xã hội cứng nhắc sẽ phân biệt với các xã hội linh hoạt bằng cách gán vai trò cho chiến lược hoá và các cuộc đàm phán của các cá nhân và các nhóm. Đó cũng là một chiều góc về khả năng có những kinh nghiệm tương liên mà các nhà khảo cổ học có thể xác định để giúp chúng ta khai mở các động năng của các xã hội bằng cách nhấn mạnh vào các nguyên tắc cấu trúc thứ bậc.

Hình 9-2 là một khung khớp nối các tính chất khác biệt lại với nhau bằng những thành tố của một hệ thống văn hoá cùng với một vài trục xoay của tính liên tục thứ bậc – mạng. Một xã hội riêng rẽ không cần phải được đặc trưng bằng phía bên phải hoặc bên trái của bảng 9-2, nhưng vẫn có thể có những kết hợp khác nhau về các thành tố thứ bậc hoặc mạng. Việc xem xét một trường hợp đơn lẻ với việc quan tâm đến những chiều góc khác biệt này và các mối liên hệ cấu trúc của chúng là một phương tiện để vượt khỏi cách tiếp cận loại hình học (chẳng hạn như trong Kristiansen [1991], “xã hội phân tầng giải tập trung” ngược lại với “nhà nước cổ đại tập quyền”) để phân tích các cấu phần của các xã hội trung gian và các xã hội nhà nước sớm, mà ở đó ví dụ về đời sống thực hoá ra là chỉ có một số chứ không phải là tất cả các đặc trưng của kiểu loại ấy, hoặc các đặc trưng nhiều hơn một kiểu loại. Vì vậy, chẳng hạn người Maya (Potter and King, trong tuyển tập này) đã thể hiện một hệ thống chính trị phân tầng cao nhưng hệ thống kinh tế lại tích hợp theo chiều ngang. Tính phong phú tiềm tàng của cách tiếp cận này thể hiện rất rõ ràng khi cho rằng cần phải coi các chiều góc cần được nghiên cứu là liên tục chứ không phải là các thuộc ngữ mỗi một/hoặc, có mặt/vắng mặt. Về các chiều góc cá nhân, một xã hội có thể hướng tới cực này hoặc một cực khác, hoặc có thể một điểm nào đó giữa các cực bằng cách kết hợp các khía cạnh của cả hai. Chẳng hạn như các hệ thống sản xuất và phân phối vải được Bowie (1992) mô tả ở bắc Thái Lan trước hết là một hệ thống tự tổ chức, nhưng lại bao gồm cả công việc sản xuất có sự kiểm soát nào đó và gắn thêm chức năng sản xuất loại vải thượng hạng cho hoàng gia.

Các nghề thủ công khác nhau trong một xã hội có thể được kiểm soát hoặc phân tán thành một số trình độ khác nhau với những mối liên hệ mật thiết tổng hợp đối với cung cách mà một xã hội riêng lẻ vận hành và biến đổi. Điều đó gợi lên rằng việc xem xét tổng hợp các yếu tố kết hợp khác nhau trong khuôn khổ của các chiều góc thứ bậc/mạng sẽ đi xa hơn để kích thích những khác biệt giữa các xã hội phức hợp đơn và đặc tính của chúng tại một điểm riêng biệt trong tính liên tục lịch sử của chúng.

Những mối liên quan đến việc xây dựng mô hình

Nếu các cấu phần của xã hội chỉ được đặt cùng với nhiều loại liên tục tính khác nhau thì phải chăng chúng ta sẽ không bị mất rất nhiều chi tiết đặc thù? Làm thế nào mà người ta có thể kết hợp các dữ kiện vào các mô hình nếu cho phép lựa chọn, đàm phán cũng như chiến lược văn hoá và cá nhân? Việc bao gồm khái niệm lựa chọn đã không phù hợp với một quyết định luận về các mô hình tiến hoá đã được nhấn mạnh. Tôi tin rằng câu trả lời nằm ở việc bổ sung vào các cuộc thảo luận của chúng ta về những định hướng lý thuyết được khoa học tự tổ chức đề xuất và một nhánh của nó là khoa học về sự hỗn độn phù hợp hơn với các động thái thuộc hệ thống cấu trúc mạng.

Trong khi các đặc trưng kết hợp của những lý thuyết lớn này vào lý thuyết khảo cổ học sẽ vạch ra một cách chi tiết vì càng ngày càng có nhiều nhà khảo cổ học áp dụng ý tưởng này, thì hiện giờ tôi thấy có một số đóng góp đầu tiên. Các lý thuyết hỗn độn và tự tổ chức đã xuất trình những khái niệm hữu dụng sau: 1) một quỹ đạo phát triển được xem là phân nhánh liên tục chứ không phải chỉ theo một tuyến; 2) tầm quan trọng của các điều kiện khởi đầu cụ thể trong việc quyết định sự phản hồi của hệ thống tại điểm phân nhánh (tương đương với sức ép giao tiếp vô hướng?); 3) quan điểm cho rằng con đường được lựa chọn tại điểm phân nhánh là khó tiên đoán (tính hỗn độn) vì vậy con đường dẫn tới phân nhánh là có tính quyết định luận; 4) sự khớp nối của các mô thức động cơ bản vượt khỏi những cách thức tiến triển tuyến (mà động lực dao động có thể đặc biệt phù hợp với bối cảnh ĐNA); 5) tầm quan trọng của các thuộc tính di truyền của các tập hợp trong quỹ đạo phát triển của một hệ thống.

Mãi cho tới gần đây các nhà khảo cổ học vẫn có khuynh hướng tư duy theo sự tiến triển tuyến (ngay cả đó là đa tuyến) và có khuynh hướng coi thường các mô thức động khác, chẳng hạn như động thái dao động và tác động tiềm tàng của nó tới các quỹ đạo văn hoá. Các nhà khảo cố học hầu hết đều tập trung vào động thái tình trạng bền vững trong cái vỏ của các mô hình cân bằng. Rất đáng chú ý là Johnson (1982: 416) đã đi theo con đường của các lý thuyết gia tự tổ chức bằng cách ngụ ý đến một mô hình loại phân nhánh cho quá trình phát triển của tính phức hợp khi ông lưu ý rằng: “…các quỹ đạo phát triển có tổ chức sẽ phụ thuộc một phần vào diễn trình phản hồi, tức là trật tự thời gian, trong đó sự tạo dựng hoặc phát triển theo cấu trúc thứ bậc xảy ra đồng thời và/hoặc theo dãy…Chúng ta có thể trông đợi một sự thay đổi tổ chức dưới các sức ép vô hướng đứt đoạn nhiều hơn là liên tục” [nhấn mạnh thêm].

IV. KẾT LUẬN – CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

Tôi đã nói rằng các vấn đề đưa ra ở phần đầu liên quan đến bước đi và chiến lược chính thống hoá cho sự phát triển của xã hội phức hợp trong vùng hạch ĐNA lục địa có thể được nghiên cứu một cách thành công bằng một khung lý thuyết thứ bậc. Viễn cảnh này gợi lên rằng sự phát triển của tính phức hợp xã hội và hình thức tập quyền chính trị là những hiện tượng riêng biệt và các khái niệm đó cần phải được tách riêng trong các cuộc thảo luận về lý thuyết. Hơn nữa viễn cảnh cấu trúc mạng gợi lên những đường hướng mới cho cả nghiên cứu kinh nghiệm lẫn nghiên cứu lý thuyết. Về phương diện kinh nghiệm, các dữ liệu ĐNA chỉ ra rằng bằng chứng trong nhiều trường hợp có thể là đầu vào cho các nhà khảo cổ để đánh giá sự hiện diện của các mô thức thứ bậc. Chẳng hạn như bằng chứng về tang lễ có thể được sử dụng để xem xét tính linh hoạt của vị thế, mức độ nghiêm nhặt của các táng thức, và bằng chứng về quá trình cá thể hoá các ngôi mộ có liên quan đến tính nghiêm nhặt của các luật tắc hành vi hoặc tầm quan trọng tương đối của các cá nhân khi đối diện với các nhóm hợp tác.

Về các vấn đề lý thuyết, các tiêu chí được mở rộng vượt khỏi các khuôn khổ nhị phân có vẻ mộc mạc (các phán đoán kiểu hiện diện-và-vắng mặt) cần phải được phát triển để đo lường, phân biệt và định giá các ảnh hưởng của các biến số chẳng hạn như chiến tranh, kiểm soát kinh tế, tăng cường nông nghiệp, hoặc chuyên môn hoá thủ công. Costin (1991) đã thực hiện được những bước tiến quan trọng trong việc mở rộng và phân biệt quá trình chuyên môn hoá thủ công nghiệp cũng như đưa ra các chỉ dẫn cho việc đánh giá các loại hình trong các bối cảnh khảo cổ học khác nhau. Những cách thức xử lý thận trọng tương tự về các biến số quyết định khác thì vẫn còn quá chậm. Chẳng hạn bằng chứng kinh nghiệm để đánh giá sự hiện diện, kiểu loại, mức độ, và tác động của sự xung đột bạo lực trong hệ thống xã hội cũng có thể được xác định vượt khỏi một sự quy chiếu tối thiểu vào chiến tranh. Các tiêu chí mở rộng có thể bao gồm trình độ thiết kế hình thức và kỹ thuật chế tạo vũ khí, và việc đánh giá định lượng về sự nổi bật của nó, bằng chứng về chấn thương bạo lực trong các tập hợp hài cốt, và bằng chứng về những biểu hiện phòng vệ (chứ không phải chỉ là tấn công), chẳng hạn như trình độ xây dựng các thành lũy đất phòng vệ.

Các xã hội phức hợp có thể được tái thẩm định theo các chiều góc kết nối đẩy đủ hơn ấy để xem liệu có phải tính chất biến đổi gặp phải có thể được ấn định một cách phong phú và mang tính hệ thống hơn không. Những biến đổi trong các xã hội phức hợp theo thời gian có thể được đặc trưng hoá thành các chiều góc riêng, và tác động của các kích thích tố riêng có thể được phân biệt tùy thuộc vào cung cách mà các liên tục tính của một xã hội riêng biệt được cấu thành trong bất cứ một điểm giao tiếp vô hướng đặc thù nào. Để giúp chúng ta xác định thêm các dữ liệu này một cách triệt để, có hệ thống và phong phú hơn thì viễn cảnh được đề xuất đang thách thức một vài giả định đề mà các nhà khảo cổ học nhân học đã nhấn mạnh trong các thập kỷ gần đây trong lý thuyết bậc cao, cụ thể là các định đề quyết định luận, tính có thể dự báo, và tiến hoá phi văn hoá. Các dữ kiện ĐNA đã làm nổi bật các nhu cầu tích hợp vào lý thuyết khảo cổ học khả tính và những mối liên hệ mật thiết của cấu trúc mạng ở mọi cấp độ của động thái xã hội.

TÁI CHÚ

Những bước phát triển chính trị xã hội ở vùng ngoại vi phía bắc của ĐNA lục địa dọc theo sông Hồng ở bắc Việt Nam và Vân Nam (Trung Quốc) vẫn chưa được xem xét trong nghiên cứu này. Các nhà nước ở bắc Việt Nam được coi là bị Trung Quốc áp đặt (Wheatley 1979, 1989). Bằng chứng khảo cổ học từ giai đoạn tiền sử đã chỉ ra rằng sự phát triển văn hoá xã hội của Lưu vực sông Hồng đã tạo thành một quỹ đạo khác biệt với vùng hạch ĐNA lục địa từ ít nhất là 1000 năm TCN và có thể sớm hơn.

Khả năng sự phát triển của các hệ thống thứ bậc tại các di chỉ vùng Phimai gắn liền với việc sản xuất tập trung hoá các nghề thủ công không phải nghề đồ đồng cần phải được khai thác triệt để. Tuy nhiên các nguồn lực được coi là lợi ích trung tâm của các xã hội này (chẳng hạn như đất đai, muối, gỗ, và quặng sắt) không bị hạt nhân hoá cao độ. Trong một nghiên cứu sơ bộ, McNeill và Welch (1991) cũng không thể xác định được các bằng chứng cho các trung tâm chế tạo gốm chuyên môn hoá.

Việc nhấn mạnh vào những thành đạt cá nhân của các nhà cai trị nhà nước chắc chắn sẽ quấy rầy các nhà khảo cổ nào theo đuổi lý thuyết tiến hoá văn hoá. Sự thành đạt bao gồm nhiều phẩm chất và hành động, bao gồm khả năng thu gom một cách khéo léo tri thức chính trị, sự điềm tĩnh và khả năng ngoại giao, sự dâng hiến về tinh thần, của cải và đôi khi là cả chiến tranh với nhau nữa. Kỹ năng trong việc xử lý liên cá nhân phức hợp đối với các nhà lãnh đạo còn quan trọng hơn việc phát động các hành động gây hấn.


Nguồn: White, Joyce C. 1995. Incorporating Heterarchy into Theory on Socio-political Development: The Case from Southeast Asia. In Heterarchy and the analysis of complex societies/ Robert M. Ehrenreich, Carole L. Crumley, and Janet E. Levy, editors; contributions by Elizabeth M. Brumfiel ... [et al.], 1995.

Tác giả: Dr. Joyce C White là nhà nghiên cứu khoa học cấp cao tại Bảo tàng Nhân học và Khảo cổ học thuộc Đại học Pennsylvania.

Lời cảm ơn của Tác giả: Tôi thành thực biết ơn Eleanor King, Heather McGrath, William Henderson, Julia Wiland, và những người khác đã giúp nhận xét bài viết này; cảm ơn Ardeth Anderson đã thiết kế giúp các hình minh hoạ. Bất cứ lỗi nào khác đều thuộc về trách nhiệm của tác giả.

* Ghi chú của người dịch: Đối với tôi, việc dịch bài viết này của Joyce White là một kỷ niệm khó quên. Trước cuộc họp của Hội Tiền sử Châu Á – Thái Bình Dương năm 1999 tại Penang, Malaysia, tôi không hề biết gì về cái tên Joyce White, chỉ đến khi tình cờ nghe nhắc đến khái niệm network model (mô hình mạng) tôi mới để ý và hỏi chuyện người đó. Thật may mắn, đó lại chính là Joyce White, thế là tôi liền hỏi xin White một bản copy bài viết bất kỳ nào về mô hình mạng. Hai tuần sau khi kết thúc hội nghị, tôi nhận được bản copy bài viết Incorporating Heterarchy into Theory on Socio-political Development: The Case from Southeast Asia của White. Nhưng khi nhận được bài viết tôi nghĩ rằng cô ấy đã gửi nhầm bài khác cho mình, vì không thấy đề cập gì đến network model cả. Nhưng vì thấy đây là một bài viết rất hay, tôi đã bỏ ra cả tháng trời (tháng 11 năm 1999) để dịch, nhưng chỉ có một từ duy nhất và quan trọng nhất là heterarchy tôi không biết dịch thế nào. Tôi tìm đến học giả, dịch giả Nguyễn Kiên Giang để hỏi nghĩa của từ tiếng Pháp tương đương, và bác Giang nói nó có nghĩa là một lối cai trị khác với lối cai trị thông thường. Tôi không biết chắc nghĩa đó có phản ánh đúng nghĩa của từ mà White sử dụng hay không, và tôi đem phân vân đó bày tỏ với Giáo sư Trần Quốc Vượng. Thầy Vượng nói: theo mình cậu có thể dùng từ hỗn trị để dịch heterarchy, nhưng tốt nhất là mình và cậu sang hỏi Dương Tường (dịch giả, nhà thơ Dương Tường). Nhà thơ Dương Tường nói nên dịch là dị trị.

Nghe theo ba bậc thầy, tôi đã dịch heterarchy là dị trị hoặc hỗn trị, nhưng thú thật là tôi vẫn băn khoăn, nên không muốn công bố bài dịch, cho dù Giáo sư Trần vẫn động viên tôi nên công bố. Một năm sau (năm 2000), khi gặp lại Joyce White tại Hội thảo Một thế kỷ Khảo cổ học Việt Nam, tôi bảo White là tôi không biết nghĩa của từ heterarchy là gì, vì không tìm thấy nó ở bất cứ từ điển nào. White nói đó chính là từ mà Warren McCulloch đã sử dụng lần đầu tiên trong bài viết ngắn A heterarchy of values determined by the topology of nervous nets (Bulletin of Mathematical Biophysics, 1945, pp. 89-93), muốn biết nghĩa của từ đó thì nên đọc McCulloch. Tuy nhiên cho đến lúc đó, tôi chưa bao giờ biết đến McCulloch và bài viết của ông, vì đơn giản là ông thuộc về một chuyên ngành hoàn toàn khác với khảo cổ học, vả lại lúc đó tôi cũng không biết phải tìm công trình của Mc Culloch ở đâu. Đọc kỹ lại bài của White, tôi quyết định dịch heterarchy là mạng, hoặc cấu trúc mạng. Tuy nhiên tôi chỉ yên tâm công bố bài dịch này sau 10 năm suy nghĩ thêm về nghĩa của từ heterarchy với tư cách là mạng/cấu trúc mạng.

Lý do tôi dịch heterarchy là mạng/cấu trúc mạng cũng có đôi chút cá nhân. Cách đây đã nhiều năm, vào năm 1982, nhân dịp chuẩn bị kỷ niệm năm mươi năm văn hoá Hoà Bình, tôi đã đề xuất Mô hình tổng quát phi tuyến cho thời đại đá mới Việt Nam. Bài viết đó tôi lấy cảm hứng từ một công trình nghiên cứu hoàn hảo của Giáo sư Hà Văn Tấn Văn hoá Quỳnh Văn với một Truyền thống và một Bình tuyến. Tuy nhiên, khác với thầy mình, ý tưởng xuyên suốt của tôi là không có truyền thống văn hoá đá gốc từ Núi Đọ đến Quỳnh Văn tách biệt khỏi văn hoá đá cuội từ Sơn Vi lên Hoà Bình, rồi đến Bắc Sơn. Diễn trình lịch sử là phi tuyến tính, không hề giống với cách hình dung về hai truyền thống như trên, vì vậy tôi mong muốn đề xuất một mô hình thật đẹp đẽ để minh hoạ cho ý tưởng của mình. Hai năm sau, trong Hội nghị thông báo Khảo cổ học thường niên năm 1984, tôi đã công bố bài viết ngắn Thời đại đá mới Việt Nam và một Mô hình Tổng quát. Vậy là mô hình cấu trúc mạng - phi tuyến của tôi đã chính thức được ra mắt độc giả trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học Việt Nam năm 1984 (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1985). Mười năm sau (1995) Giáo sư Carole Crumley, Joyce White và những người khác đã sử dụng loại mô hình này trong lý giải khảo cổ học, nhưng tất nhiên là từ một nguồn khác, nguồn Mc Culloch. Và giờ đây, khi quyết định công bố bản dịch này, tôi hoàn toàn yên tâm rằng heterarchy chính là mạng/cấu trúc mạng.

Từ đáy lòng mình, tôi muốn dành tặng bản dịch này cho những nhà nghiên cứu trẻ ham tìm tòi. Tôi đặc biệt cảm ơn Joyce White về bài viết tuyệt vời và thịnh tình của cô khi gửi cho tôi bản copy bài viết. Với bản dịch 10 năm này tôi xin được giành những tình cảm chân thành và kính trọng nhất đến hai người thầy lớn của nhiều thế hệ các nhà sử học Việt Nam, cố Giáo sư Trần Quốc Vượng và Giáo sư Hà Văn Tấn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Adams, Richard Newbold 1988. The Eighth Day: Social Evolution as the Self-Organization of Energy. Austin: University of Texas Press.

Aung-Thwin, Michael 1985. Pagan: The Origins of Modern Burma. Honolulu: University of Hawaii Press.

Bayard, Donn T. 1980. An early indigenous bronze technology in northeast Thailand: its implications for the prehistory of east Asia. Pp. 191-214 in The Diffusion of Material Culture.

Bayard, D.T. ed. 1992. Models, scenarios, variables and supposition: approaches to the rise of social complexity in mainland Southeast Asia, 700 BC-AD 500. Pp. 13-38 in Early Metallurgy, Trade and Urban Centres in Thailand and Southeast Asia. I. Glover, P. Suchitta, and J. Villiers, eds. Bangkok: White Lotus. Dunedin: University of Otago Studies in Prehistoric Anthropology.

Bentley, G. Carter 1986. Indigenous states of Southeast Asia. Annual Review of Anthropology 15:275-305.

Bowie, Katherine A. 1992. Unravelling the myth of the subsistence economy, textile production in nineteenth-century northern Thailand. Journal of Asian Studies 51(4):797-823.
Bray, Francesca 1986. The Rice Economies. New York: Basil Blackwell.

Branson, Bennet, and Pisit Charoenwongsa 1986. Eyewitness Accounts of the Early Mining and Smelting of Metals in Mainland South East Asia. Bangkok: Thailand Academic Publishing Co.

Brumfiel, E.M., and T.K. Earle 1987. Specialization, exchange and complex societies: an introduction. Pp. 1-9 in Specialization, Exchange and Complex Societies. E.M. Bnimfiel and T.K. Earle, eds. Cambridge: Cambridge University Press.

Christie, Jan Wisseman 1985. Theater States and Oriental Despotisms: Early Southeast Asia in the Eyes of the West. Hull: University of Hull Centre for South-East Asian Studies Occasional Paper no. 10. 1992 Trade and settlement in early Java: integrating the epigraphic and archaeological data. Pp. 181-197 in Early Metallurgy, Trade and Urban Centers in Thailand and Southeast Asia. I. Glover, P. Suchitta, and J. Villiers, eds. Bangkok: White Lotus.

Cocoran, Elizabeth 1992. The edge of chaos: complexity is a metaphor at the Santa Fe Institute. Scientific American October: 17-20.

Costin, Lynne 1991. Craft specialization: issues in defining, documenting, and explaining the organization of production. In Archaeological Method and Theory, vol. 3. M.B. Schiffer, ed. Tucson: University of Arizona Press.

Crumley, Carole L. 1979. Three locational models: an epistemological assessment for anthropology and archaeology. Pp. 141-173 in Advances in Archaeological Method and Theory, vol. 2. M.B. Schiffer, ed. Tucson: University of Arizona Press.

Crumley, Carole L. 1987. A dialectical critique of hierarchy. Pp. 155-169 in Power Relations and State Formation. T.C. Patterson and C.W. Gailey, eds. Washington, D.C.: American Anthropological Association.

Crumley, Carole L. 1995. Heterarchy and the Analysis of Complex Societies. Archeological Papers of the American Anthropological Association 7 (1): 1–5.

Douglas, Michele 1995. A Preliminary Discussion of Trauma in the Human Skeletons from Ban Chiang, Northeast Thailand. Papers from the 15th IPPA Congress, Chiangmai, Thailand. Indo-Pacific Prehistory Bulletin 14-15.

Earle, Timothy, ed. 1991a. Chiefdoms: Power, Economy and Ideology. New York: Cambridge University Press.

Earle, Timothy 1991b. The evolution of chiefdoms. Pp. 1-15 in Chiefdoms: Power, Economy, and Ideology. T. Earle, ed. New York: Cambridge University Press.

Embree, John F. 1969. Thailand, a loosely structured social system. Pp. 3-15 in Loosely Structured Social Systems. H.D. Evers, ed. New Haven: Yale University Southeast Asian Studies.

Geertz, Clifford 1963. Agricultural Involution: The Process of Ecological Change in Indonesia. Association of Asian Studies Monographs and Papers 11. Berkeley: University of California Press.

Glanzman, William D., and Stuart J. Fleming 1985. Ceramic technology at prehistoric Ban Chiang, Thailand: fabrication methods. MASCA Journal 3:114-121.

Glover, Ian C. 1991a. The Late Prehistoric period in west-central Thailand. Pp. 349-356 in Indo-Pacific Prehistory 1990, Proceedings of the 14th Congress of the Indo-Pacific Prehistory Association, Yogyakarta, Indonesia, vol. 1. Bulletin of the Indo-Pacific Prehistory Association 10.

Glover, Ian C. 1991b. The Bronze-Iron Age in western Thailand. Paper presented at the conference The High Bronze Age of Southeast Asia and South China, Hua Hin, Thailand.

Graves, Michael W. 1994. Kalinga social and material culture boundaries. Pp. 13-49 in Kalinga Ethnoarchaeology. W.A. Longacre and J.M. Skibo, eds. Washington D.C.: Smithsonian Institution Press.

Ha Van Tan 1991. From Pre-Dong Son to Dong Son: Sociocultural Changes. Paper presented at the conference The High Bronze Age of Southeast Asia and South China, Hua Hin, Thailand.

Hagesteijn, Renee R. 1986. Trading places: political leadership in Southeast Asian early states. Pp. 105-116 in Private Politics: A Multi-disciplinary Approach to Big-Man Systems. M.A. Van Bakel, R.R. Hagesteijn, and P. Van de Velde, eds. Studies in Human Society, vol. 1. Leiden: E. J. Brill.

Hall, Kenneth R. 1985. Maritime Trade and State Development in Early Southeast Asia. Honolulu: University of Hawaii Press.

Hall, Kenneth R. 1992. Economic history of early Southeast Asia. Pp. 183-275 in The Cambridge History of Southeast Asia: From Early Times toe. 1800, vol. 1. N. Tarling, ed. Cambridge: Cambridge University Press.

Hedges, R.E.M., R.A. Housley, C. Bronk Ramsey, and G.J. van KJinken 1993. Radiocarbon dates from the Oxford AMS system: archaeometry datelist 17. Archaeometry 35(2)350-326.

Higham, Charles F.W. 1984. Review of Ban Chiang: Discovery of a Lost Bronze Age, by Joyce White. Antiquity 53:64-66.

Higham, Charles F.W. 1989a. The later prehistory of mainland Southeast Asia. Journal of World Prehistory 3:235-282.

Higham, Charles F.W. 1989b. The Archaeology of Mainland Southeast Asia. Cambridge: Cambridge University Press.

Higham, Charles F.W., and Rachanie Bannanurag 1990. The Excavation of Khok Phanom Di, a Prehistoric Site in Central Thailand: The Excavation, Chronology and Human Burials, vol. 1. Reports of the Research Committee of the Society of Antiquaries of London 47. London: Society of Antiquaries.

Higham, Charles F.W., and Rachanie Bannanurag 1992. Prehistoric ritual and exchange along a tropical coast in Thailand. Research & Exploration 6(2): 180-195.

Higham, Charles F.W., and Amphan Kijngam 1979. Ban Chiang and northeast Thailand: the palaeoenvironment and economy. Journal of Archaeological Science 6: 211-233.

Higham, Charles F.W., and Amphan Kijngam 1982. Irregular earthworks in northeast Thailand: new insight. Antiquity 56:102-110.

Higham, Charles F.W., and Amphan Kijngam 1984. Prehistoric Investigations in Northeast Thailand. Oxford: BAR International Series 231 (i-iii).

Higham, Charles F.W.. R. Bannanurag. M. Graeme, and N. Tayles 1992. Human biology, environment, and ritual at Khok Phanom Di. World Archaeology 24:35-54.

Ho Chui-mei 1992. An analysis of settlement patterns in the Lopburi area. Pp. 39-45 in Early Metallurgy. Trade and Urban Centres in Thailand and Southeast Asia. I. Glover, P. Suchitta, and J. Villiers, eds. Bangkok: White Lotus.
Husken, Frans, and Jeremy Kemp. eds. 1991. Cognation and Social Organization in Southeast Asia. Verhandelingen Van Het Koninklijk Instituut Voor Taal Land, en Volkenkunde 145. Leiden: KITLV Press.

Jacobs, Julian; Alan MacFarlane; Sarah Harrison, and Anita Herle 1990. The Nagas: Hill Peoples of Northeast India. Society, Culture and the Colonial Encounter. London: Thames and Hudson.122 Joyce C. White

Jacques, Claude 1979. Funan, Zhenla: the reality concealed by these Chinese views of Indochina. Pp. 371-377 in Early South East Asia: Essays in Archaeology, History, and Historical Geography.
R.B. Smith and W. Watson, eds. New York: Oxford University Press.

Johnson, Gregory A. 1982. Organizational structure and scalar stress. Pp. 389-421 in Theory and Explanation in Archaeology. C. Renfrew, ed. New York: Academic Press.
Kauffman, Stuart A. 1993. The Origins of Order: Self-organization and Selection in Evolution. New York: Oxford University Press.

Kemp, Jeremy, and Frans Husken 1991. Cognatic kinship in Southeast Asia. Pp. 1-11 in Cognation and Social Organization in Southeast Asia. F. Husken and J. Kemp, eds. Verhandelingen Van Het Koninklijk Instituut VoorTaal, Land, en Volkenkunde 145. Leiden: KITLV Press.

Kijngam, Amphan 1979. The Faunal Spectrum of Ban Chiang and Its Implications for Thai Culture History. M.A. thesis, Department of Anthropology, University of Otago.

King, Victor T. 1991. Cognation and rank in Borneo. Pp. 15-31 in Cognation and Social Organization on Southeast Asia. F. Husken and J. Kemp, eds. Verhandelingen Van Het Koninklijk Instituut Voor Taal-. Land-, en Volkenkunde 145. Leiden: KITLV Press.

Kirsch, AT . 1973. Feasting and Social Oscillation: Religion and Society in Upland Southeast Asia. Ithaca: Cornell University.

Kobkua Suwanna that-Dian 1993. Thrones, claimants, ruler and rules: problems of succession in the Malay sultanates. Journal of the Malasian Branch of the Royal Asiatic Society 66(2): 1-27.

Kristiansen, Kristian 1991. Chiefdoms, states, and systems of social evolution. Pp. 16-43 in Chiefdoms: Power, Economy, and Ideology. T. Earle, ed. New York: Cambridge University Press.
Kunstadter, Peter, ed. 1967. Southeast Asian Tribes, Minorities and Nations, vols. 1 and 2. Princeton: Princeton University Press.

Leach, E.R. 1954. Political Systems of Highland Burma. Boston: Beacon Press.

Lehman, F.K. 1967. Ethnic categories in Burma and the theory of social systems. Pp. 93-124 in Southeast Asian Tribes, Minorities and Nations, vol. 1. P. Kunstadter, ed. Princeton: Princeton University Press.

Loofs-Wissowa, H.H.E. ed. 1984. Rank and wealth at Non Nok Tha: the mortuary evidence. Pp. 87-122 in Southeast Asian Archaeology at the XV Pacific Science Congress: The Origins of Agriculture, Metallurgy, and the State in Mainland Southeast Asia. Asian and Pacific Archaeology Series 9. Honolulu: Social Science Research Institute, University of Hawaii.

McCulloch, Warren S. 1945. A heterarchy of values determined by the topology of nervous nets. Bulletin of Mathematical Biophysics 7:89-93.

McGovern, Patrick E. , William W. Vernon, and Joyce Carol White 1985. Ceramic technology at prehistoric Ban Chiang, Thailand: physiochemical analyses. MASCA Journal 3(4): 104-113.

McKinnon, Susan 1991. From a Shattered Sun: Hierarchy, Gender and Alliance in the Tanimbar Islands. Madison: University of Wisconsin Press.

McNeill, Judith R., and David J. Welch 1991. Regional and interregional interaction on the Khorat plateau. Pp. 327-340 in Indo-Pacific Prehistory 1990, Proceedings of the 14th Congress of the Indo-Pacific Prehistory Association, Yogyakarta, Indonesia, vol. 1. Bulletin of the Indo-Pacific Prehistory Association 10.

Moore, Elizabeth H. 1988. Moated Sites in Early North East Thailand. Oxford: BAR International Series 400. 1990 Moated settlement in the Mun Basin, northeast Thailand. Pp. 201-212 in Southeast Asian Archaeology 1986: Proceedings of the First Conference of the Association of Southeast Asian Archaeologists in Western Europe. I.C. Glover and E. Glover, eds. Oxford: BAR International Series 561.

Morrison, Kathleen D. 1994. States of theory and states of Asia: regional perspectives on states in Asia. Asian Perspectives 33(2): 183-196.

Muhly, James D. 1988. The beginnings of metallurgy in the Old World. Pp. 2-20
in The Beginning of the Use of Metals and Alloys. R. Maddin, ed. Cambridge: M.I.T. Press.

Natapintu, Surapol 1992. Current Archeological Research in Central Thailand with Special Reference to the Site of Phu Noi, Lopburi Province. Paper presented at the 4th International Congress of the European Association of South East Asian Archaeologists, Rome.

Osborne, Milton 1975. River Road to China: The Mekong River Expedition, 1866-73. London: George Allen & Unwin.

Peebles, Christopher S., and Susan M. Kus 1977. Some archaeological correlates of ranked societies. American Antiquity 42:421-448.

Pigott, Vincent C , and Surapol Natapintu 1988. Investigating the origins of metal use in prehistoric Thailand. In the Proceedings of the Conference on Ancient Chinese and Southeast Asian Bronze Age Cultures, Kioloa, New South Wales. N. Barnard, ed. Canberra: Australian National University.

Pigott, Vincent C , Andrew D. Weiss, and U. Theetiparivatra 1995. The archaeology of copper production: excavations in the Khao Wong Prachan Valley, central Thailand. In the Proceedings of the Fifth Conference of the European Association of Southeast Asian Archaeologists, Rome, Italy.

Scott, George P.1991. Introduction: self-organization science and the interdisciplinary tower of Babel syndrome. Pp. 3-20 in Time, Rhythms, and Chaos in the New Dialogue with Nature. G.P. Scott, ed. Ames: Iowa State University Press.

Sedov, Leonid A. 1978. Angkor: society and state. Pp. 111-130 in The Early State. H.J.M. Claessen and P. Skalnik, eds. New York: Mouton.

Serensen, Per 1967. Archaeological Excavations in Thailand: The Thai-Danish Prehistoric Expedition 1960-62, vol. 2, part 1. Copenhagen: Munksgaard.

Stargardt, Janice 1990. The Ancient Pyu of Burma: Early Pyu Cities in a Man-made Landscape, vol. 1. Cambridge: Publications on Ancient Civilization in South East Asia.

Stark, Miriam T. 1992. From Sibling to Suki: social and spatial relations in Kalinga pottery exchange. Journal of Anthropological Archaeology 2(10:137-151.

Suchitta, Pornchai 1983. The History and Development of Iron Smelting Technology in Thailand. Ph.D. dissertation, Department of Anthropology, Brown University.

Tainter. Joseph A. 1978. Mortuary Practices and the Study of Prehistoric Social Systems. In Advances in Archaeological Method and Theory, Volume I, edited by Michael B. Schiffer, pp. 105-141. Academic Press, New York.

Taylor, Keith W. 1992. The early kingdoms. Pp. 137-182 in The Cambridge History of Southeast Asia. N. Tarling, ed. Cambridge: Cambridge University Press.

Vallibhotama, Srisakra 1991. Bronze-Iron Age Foundation for the Origin of the State of Chenla. Paper presented at the Conference on the High Bronze Age of Southeast Asia and South China, Hua Hin, Thailand,
van Liere, W.J. 1980. Traditional water management in the Lower Mekong Basin. World Archaeology 11(3):265-280.

Vincent, Brian 1984. The petrographic analysis of prehistoric pottery from Ban
Na Di and related sites. Pp. 644-697 in Prehistoric Investigations in Northeast Thailand, part 3.

Higham C. and A. Kijngam, eds. 1988. Prehistoric Ceramics of Northeastern Thailand, with Special Reference to Ban Na Di, part xiii. Oxford: BAR International Series 461. Oxford: BAR International Series 231.

Welch, David J., and Judith R. McNeill 1991. Settlement, agriculture and population changes in the Phimai region, Thailand. Pp. 210-228 in Indo-Paciftc Prehistory 1990: Proceedings of the 14th Congress of the Indo-Pacific Prehistory Association, Yogyakarta, Indonesia, vol. 2. Bulletin of the Indo-Pacific Prehistory Association 11.

Wheatley, Paul 1979. Urban genesis in mainland South East Asia. Pp. 288-303 in Early South East Asia: Essays in Archaeology, History and Historical Geography. R.B. Smith and W. Watson, eds. New York: Oxford University Press. 1983 Nagara and Commandery: Origins of the Southeast Asian Urban Traditions. Chicago: University of Chicago, Department of Geography, Research Paper 207-208.

White, Joyce Carol 1982. Ban Chiang: Discovery of a Lost Bronze Age. Philadelphia: The University Museum, University of Pennsylvania and the Smithsonian Institution Traveling Exhibition Service.

White, Joyce Carol 1986. A Revision of the Chronology of Ban Chiang and Its Implications for the Prehistory of Northeast Thailand. Ph.D. dissertation. University of Pennsylvania, Department of Anthropology. Ann Arbor: University Microfilms International.

White, Joyce Carol 1988. Early east Asian metallurgy: the southern tradition. Pp. 175-181 in The Beginning of the Use of Metals and Alloys. Robert Maddin, ed. Cambridge: MIT Press.

White, Joyce Carol 1990. Rice Cultivation and Social Development in Thailand. Paper presented at the Annual Meeting, American Anthropological Association, New Orleans.

White, Joyce Carol 1995. Modeling the development of early rice agriculture: ethnoecological perspectives from northeast Thailand. Asian Perspectives 34(l):37-68.

White, Joyce Carol, and Vincent C. Pigott 1995. From community craft to regional specialization: intensification of copper production in pre-state Thailand. In Craft Specialization and Social Evolution. B. Wailes, ed. Philadelphia: University of Pennsylvania Museum Monographs.

White, Joyce Carol, William Vernon; Stuart Fleming, William Glanzman, Ron Hancock, and Andrew Pelcin 1991. Preliminary cultural implications from initial studies of the ceramic technology at Ban Chiang. Pp. 188-203 in Indo-Pacific Prehistory 1990. Bulletin of the Indo-Pacific Prehistory Association 11.

Wicks, Robert S. 1992. Money, Markets and Trade in Early Southeast Asia: The Development of Indigenous Monetary Systems to AD 1400. Ithaca: Cornell University Southeast Asia Program.

Winichakul, Thongchai 1994. Siam Mapped: A History of the Geo-body of a Nation. Honolulu: University of Hawaii Press.

Winzeler, Robert L, 1976. Ecology, culture, social organization,
and state formation in Southeast Asia. Current Anthropology 17(4): 623-640.

Wolters, O.W. 1982. History, Culture, and Region in Southeast Asian Perspectives. Singapore: Institute of Southeast Asian Studies.

(Xem phần 1)

Joyce C. White

Dịch giả: TS. Hà Hữu Nga

Nguồn: http://www.baotangnhanhoc.org/