LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Xem lẹ

Trang nhà > Sử­ sách > Khảo cổ > Sử dụng Khái niệm mạng* trong Lý thuyết Phát triển Chính trị Xã hội – Trường hợp (...)

Sử dụng Khái niệm mạng* trong Lý thuyết Phát triển Chính trị Xã hội – Trường hợp Đông Nam Á (2)

Cập nhật: Đông Tỉnh

Chủ Nhật 23, Tháng Mười 2011

Điều gì được coi là nổi bật về các nghĩa địa tiền sử Thái Lan nếu chúng ta tạm gác một loại lập trường lý thuyết nào đó sang một bên? Vượt khỏi một thực tế là mỗi nghĩa địa dường như đều là một phần của truyền thống táng thức thông dụng đã được đề cập ở trên, tôi cho là có bốn đặc trưng nổi bật sau:

1) Đặc trưng nổi bật đầu tiên là đồ tùy táng của các mộ ở mỗi vị trí thì đều khác nhau theo cung cách hoàn toàn nhất quán với sự phát triển liên tục chứ không phải theo từng bước một. Các mộ giàu thì thực sự là giàu vì chúng ở một đầu của chuỗi liên tục đó. Mức độ giàu có tăng tiến toàn diện theo thời gian ở chỗ các mộ ở cuối phổ giàu có thể có nhiều hiện vật hơn với nhiều kiểu loại hiện vật hơn, đặc biệt là sau 1000 năm TCN, nhưng lại không nhất thiết có sự khác biệt rõ rệt về của cải giữa các nhóm tăng theo thời gian. Trên phương diện đó, tính liên tục được tiếp nối đến giai đoạn Ban Chiang muộn, một trầm tích văn hoá nghĩa địa duy nhất được khai quật tại Thái Lan đã kéo dài đến đầu thiên niên kỷ I SCN, và gắn liền với bằng chứng lịch sử sớm nhất về khu vực và về các nhà nước sớm nhất. Nói cách khác, không có những bằng chứng cho thấy có sự xuất hiện của một điều gì đó chẳng hạn như một nhóm lớn hơn, rõ ràng là nghèo hơn, trái ngược với một nhóm nhỏ hơn, rõ ràng là giàu có hơn bằng một hố ngăn cách dứt khoát ở giữa, mà đó lại chính là tiêu chí đã được Peebles và Kus (1977) đề xuất cho việc phân cấp nhất quán với một thủ lĩnh địa.

2) Đặc trưng nổi bật thứ hai của các nghĩa địa là ở chỗ các tiêu chuẩn thể hiện sự phân hoá xã hội khác nhau ở mỗi nghĩa địa. Ví dụ như tôi cho rằng những khác biệt trong sự xuất hiện của các hiện vật ngoại nhập ở Ban Na Di và Non Nok Tha có thể phản ánh rất rõ những khác biệt văn hoá và vì vậy mà tập hợp các biến cố hoặc các tiêu chuẩn được sử dụng để so sánh các mộ ở một di chỉ sẽ không nhất thiết phải phù hợp với tất cả những di chỉ khác trong vùng. Quan sát này phù hợp với quan sát ở phần trước về một khuynh hướng rõ ràng hướng đến các văn hoá địa phương hoá cao tại ĐNA được biểu hiện trong các văn hoá vật chất địa phương hoá và quá trình địa phương hoá văn hoá vật chất này được phản ánh trong các hệ thống giá trị địa phương hoá liên quan đến táng tục và vị thế xã hội. Một hệ luận khác của quan sát này thể hiện ở chiều góc vị thế xã hội riêng, chẳng hạn như đầu vào của các sản phẩm nhập khẩu, có thể chỉ phù hợp trong từng tình huống, chứ không phải cho mọi trường hợp.

3) Đặc trưng nổi bật thứ ba của các nghĩa địa tiền sử này là các mộ trẻ em thường giàu hơn các mộ người lớn. Chúng ta không thể cho rằng điều đó ngụ ý “vị thế cha truyền con nối không theo ý muốn” (Peebles and Kus 1977). Mô thức này cũng có thể đại diện cho một thứ tình cảm phụ mẫu hoặc thể hiện vị thế bắt buộc của cha mẹ trong một khung cảnh mà vị thế là một điều kiện để thương thảo cộng đồng. Một mẫu mộ của các cá nhân ở độ tuổi niên thiếu có lẽ cũng giúp cho việc xem xét vấn đề này một cách chi tiết hơn.

4) Đặc trưng nổi bật thứ tư là các táng thức thông thường nổi lên như là một biệt lệ không phải là nhất thiết liên quan đến sự giàu có, hoặc có thế lực chính trị rõ ràng, mà còn liên quan đến quá trình cá thể hoá được Sorensen lưu ý trong trường hợp Ban Kao. Các mộ độc đáo này thường cho thấy cung cách xử lý rất khác biệt: Mộ BC B20 với một tập hợp các hiện vật độc nhất bằng xương, và BC B23 với tập hợp những viên đạn bi, bôn, vòng tay và một chiếc nồi. Di chỉ Ban Tong liền kề có một mộ đàn ông với một tập hợp hơn 17 bộ xương hàm hươu. Các mộ có các hiện vật sản xuất bằng kim loại, vì vậy có thể là mộ của những người chế tạo kim loại, đã được phát hiện tại Non Nok Tha (Bayard 1980) và các di chỉ thuộc thung lũng Khao Wong Prachan miền trung Thái Lan (Pigott and Natapintu 1988; Pigott et al. 1995) cũng như ở Việt Nam (Hà Văn Tấn 1991). Những mộ táng này đã chỉ ra rằng hành động của một cá nhân có thể đã góp phần mình vào quá trình phân hoá vai trò của họ liên quan đến những người khác trong xã hội. Thực tế phân hoá mộ ở Ban Chiang, Ban Kao, Ban Na Di và Non Nok Tha đã không được xác định bằng khuôn khổ của sự bài trí độc đáo gắn liền với mức độ giàu có khác thường (tức là một mộ rất giàu trong một địa phương riêng biệt thể hiện địa vị của một thủ lĩnh hoặc là người thân cận với thủ lĩnh).

Nói cách khác, Khok Phanon Di đã đưa ra được những bằng chứng rõ ràng nhất được biết ở Thái Lan liên quan đến một mộ táng tiền sử được phân biệt bởi một số lượng lớn đồ tùy táng và các bài trí đặc biệt của ngôi mộ. Mộ 15 của một phụ nữ được táng trong một huyệt mộ có kích cỡ khác thường (sâu 1m, dài 3m) được đặt theo một tư thế và một hướng khác với các mộ sớm hơn. Ngôi mộ này còn được bày biện thêm bằng 8 – 10 đồ vật bằng gốm, hàng chục nghìn hạt chuỗi có lẽ được khâu thành một chiếc áo khoác. Tuy nhiên rất đáng lưu ý là trong số các đồ tùy táng còn có rất nhiều vật dụng để làm gốm, bao gồm hòn kê, các viên đá đánh bóng áo gốm, và những phôi gốm chưa nung. Vì vậy, và vì nhiều nguyên do khác nữa mà bà được diễn giải là một thợ gốm có đẳng cấp cao (Higham 1989b: 87). Dường như ngôi mộ này đã bổ sung vào số đồ tùy táng phong phú được đo bằng số lượng, loại hình và chất lượng của đồ tùy táng lại càng khuyếch đại mô thức phân hoá chức năng kinh tế và xã hội như đã được gợi ý từ các di chỉ khác. Bằng chứng xã hội từ Khok Phanom Di và di chỉ liền kề có niên đại muộn hơn là Non Nor đã chỉ ra một khuynh hướng không bền vững hoặc xảy ra sau, hướng đến sự cố kết của giới tinh hoa trong xã hội tiền sử đó. Điều này cho thấy sức ép giao tiếp vô hướng có thể đã sản sinh ra những phát triển độc đáo sau đó của Khok Phanom Di lại không thuộc về một trình độ hoặc một bản chất thúc đẩy xã hội tiến tới một sự thay đổi cơ bản, đó là một hệ thống thứ bậc thống nhất, có kiểm soát. Điều đó dường như đã sản sinh ra một thứ chớp loé thành công, không bền, một tuyên ngôn xã hội trong một giai đoạn ngắn ngủi của cả một tiến trình táng thức Khok Phanom Di.

Ngoại trừ những đòi hỏi về một trật tự “thứ bậc cha truyền con nối” trước đó trong các nghĩa địa này, hiện giờ các dữ liệu dường như đã đưa ra một bằng chứng về những cơ sở cho quá trình phân hoá xã hội trong các nghĩa địa tiền sử Thái Lan này. Tuy nhiên theo tôi, nếu chỉ kết luận rằng phương thức đạt được vị thế xã hội trong các cộng đồng tiền sử này không do thừa kế thì chúng ta đã không đánh giá được đúng tính chất phức tạp của hệ thống dữ liệu thu được. Thay vào đó, tôi cho rằng các nghĩa địa tiền sử Thái Lan rất phù hợp với sự tồn tại của một hệ thống vị thế và quá trình phân hoá xã hội đa phương, đa diện, phức hợp và linh động. Các thành quả kinh tế cá nhân và các chức năng xã hội cũng như sự khác biệt về mức độ giàu có của từng gia đình và có lẽ cả thứ hạng của thị tộc, tất cả đều vận hành đồng thời, vì vậy mà đều kết hợp với các yếu tố kế thừa cũng như sự thành đạt do các nỗ lực cá nhân. Hơn nữa tôi cũng cho rằng những phương cách để đạt được vị thế xã hội là đa chiều và có thể khác nhau ở các tiểu văn hoá mà của cải chỉ là một thành tố của sự phân hoá xã hội. Các phương cách này cũng có thể được thoả thuận và được ấn định giữa các cá nhân. Tôi đề xuất hệ thống đa diện này một phần vì nó có thể phù hợp với các bằng chứng dân tộc học và lịch sử ĐNA sẽ được tóm tắt dưới đây.

Mức độ xung đột bạo lực liên cộng đồng thấp

Một vấn đề khác liên quan đến giai đoạn tiền sử là có rất ít bằng chứng về nguồn xung lực xã hội lớn định hướng vào xung đột bạo lực liên nhóm. Đâu đó tôi đã cho rằng thời đại đồ đồng ĐNA lục địa tương đối hoà bình so với các vùng khác như Lưỡng Hà hoặc triều đại nhà Thương bên Trung Quốc, nơi khởi nguồn của khái niệm truyền thống “thời đại đồ đồng” (White 1982, 1988). Quan sát của tôi được thực hiện từng phần vì hầu hết đồ đồng tiền sử dường như đều là các đồ trang sức cá nhân và là các vật dụng thiết yếu trong phạm vi làng, và chỉ có một ít đồ đồng có thể được phân loại một cách rõ ràng là các vũ khí (riêng miền bắc Việt Nam dường như phát triển hơi khác với nhiều bằng chứng hơn về các vũ khí đồng sau 1000 năm TCN). Quan điểm này đã bị phê phán (Higham 1984), nhưng người phê phán lại đặt định vấn đề từ một khung bất phân và nhận thức một cách hẹp hòi. Vấn đề không phải là liệu có tồn tại một vài loại vũ khí hoặc các cuộc xung đột nào đó hay không. Vấn đề là ở chỗ chiến tranh là một trung tâm điểm tổ chức đối với các động thái của xã hội đã thúc đẩy việc sản xuất kim loại và sự tiến hoá của kỹ nghệ cùng với việc tiêu thụ một năng lượng xã hội to lớn vào các chiến lược tấn công và phòng thủ trong cả lĩnh vực xã hội (chẳng hạn như việc xây dựng một quân đội thường trực), và lĩnh vực vật chất (xây dựng những hệ thống phòng thủ bền vững). Tất cả các xã hội đều phải giải quyết các cuộc xung đột và thù địch liên nhóm. Thù hận và tục săn đầu người có lẽ vẫn là các phương cách mô tả người Nagas (Jacobs et al. 1990:138), chắc chắn có thể đặc trưng hoá cho các xã hội tiền sử được thảo luận ở phần này. Việc đánh giá toàn bộ các bằng chứng khảo cổ học, bao gồm cả tính chất khan hiếm của các loại vũ khí được xác định rõ ràng là sử dụng để chống lại con người, các hình thức chấn thương xương do những tai nạn hàng ngày (Douglas 1995), và tình trạng thiếu vắng bất cứ bằng chứng nào về các công trình phòng vệ như các thành đất chẳng hạn, cho đến giai đoạn sau khi xuất hiện đồ sắt – đã cho thấy các xã hội tiền sử ở vùng hạch ĐNA rất it quan tâm đến việc phát triển khả năng quân sự của mình.

Tại sao lại có thể như vậy được? Việc kiểm soát các nguồn lực đã được coi là hợp lý đối với sự phát triển các khả năng phòng thủ và tấn công. Trong khi một số nguồn lực kinh tế như đồng, muối (nhưng đất nông nghiệp thì ít hơn) tạo thành hạt nhân trong các vùng riêng biệt, nói chung không quá tập trung đến mức bất cứ làng
nào cũng có thể bị cắt rời ra khỏi một loại sản phẩm thiết yếu hoặc đáng thèm muốn nếu như người ta thù địch với các làng khác. Chúng ta đều biết rằng ở trung Thái Lan một số cộng đồng thời đó đều sản xuất đồ đồng. Trong khi có thể có sự cạnh tranh giữa các cộng đồng trong việc sản xuất và phân phối kim loại, nhưng vẫn chưa có bằng chứng để kết luận về sự xung đột liên cộng đồng. Thực tế tôi cho rằng các trao đổi dài hạn liên vùng mà không có bằng chứng về tập trung hoá chính trị đi kèm hoặc sự kiểm soát hàm ý một bối cảnh ít chiến tranh. Giải pháp tranh chấp có thể nhấn vào các cơ chế chẳng hạn như quá trình ra quyết định có tính chất nghi lễ và liên tục đã được Johnson (1982) thảo luận.

Sự phát triển xã hội trong giai đoạn Tiền sử muộn

Các bằng chứng vừa được xem xét ở trên đã cho thấy một hệ thống xã hội tích hợp, nhưng lại phân hoá theo chiều ngang với những động thái kinh tế và xã hội linh hoạt được phát triển ở Thái Lan trong nhiều thiên niên kỷ trước trung kỳ thiên niên kỷ I TCN. Một cơ sở khả dĩ đảm bảo thành công dài hạn của hệ thống này chính là chiến lược kiếm sống địa phương hoá xác thực và có cơ sở rộng rãi (Higham and Kijngam 1979; White 1995). Việc canh tác lúa nước ở những vùng trung gian dọc theo các hệ thống sông ngòi đã tạo dựng cơ sở cho việc sản xuất nguyên vật liệu vì đông bắc Thái Lan trước hết do những người trồng lúa tới định cư vào thiên niên kỷ IV TCN (White 1995). Tôi cũng đã từng cho rằng hoạt động canh tác lúa nước ở ĐNA được tiến hành thuận lợi nhất trong những đơn vị sở hữu đất nhỏ mà hộ gia đình là một đơn vị tự nhiên vì thao tác trên một môi trường vĩ mô thân thuộc trong vòng nhiều năm liên tiếp trên những mảnh đất riêng là cần thiết để sản xuất ra những loại hoa màu tốt nhất (Geertz 1963). Tích hợp xã hội theo chiều ngang và việc sản xuất thực phẩm bền vững, giải tập trung hoá song hành với nhau đã được Johnson hết sức cổ vũ. Ông cho rằng “tính phức hợp quyết định trong phạm vi tổ chức kiếm sống, ngược lại, luôn gắn liền với tính chất có thể tiên đoán về các nguồn…và tiềm năng của hệ thống thứ bậc kèm theo [tức là hệ thống xã hội cấu trúc mạng] (White 1995) trực tiếp liên quan đến khả năng dự báo các nguồn. Đặc biệt Johnson (1982: 403) đã ngụ ý rằng ông trông chờ bước ra quyết định (có thể liên quan đến nhịp độ biến đổi chính trị?) trong các hệ thống xã hội với việc ra quyết định liên tiếp (tức là tích hợp ngang) sẽ bị chậm.

Như đã lưu ý ở trên, bằng chứng khảo cố học từ giai đoạn tiền sử muộn tuy thưa thớt, nhưng vẫn gợi lên rằng các mô thức cư trú trong hệ thống sông Mun và sông Chi thuộc đông bắc Thái Lan vào giữa thiên niên kỷ I TCN đã trải qua những biến đổi để tiến tới xuất hiện các khu cư trú có hào lũy khác nhau. Bằng chứng này được lý giải sơ bộ là một phản ứng đối với sự khai thác các khu vực có những thay đổi bất thường ngày càng tăng trong việc tiên liệu các nguồn vì sự thay đổi của lượng mưa (Welch and McNeill 1991). Vì vậy, theo Johnson điều này có thể gợi ý rằng các yếu tố thứ bậc tối thiểu là trong lĩnh vực qui mô cư trú và có lẽ cả trong tổ chức lao động nữa, đều được đưa vào vùng này, trong giai đoạn này như là một phản ứng lại với những sức ép giao tiếp vô hướng bị thúc đẩy bởi tính chất không thể dự liệu ngày càng tăng trong việc tìm được các nguồn sinh kế. Tuy nhiên các yếu tố thứ bậc đã không biến mất khỏi hệ thống xã hội ĐNA, mà vẫn là một hệ thống cơ bản đối với các quỹ đạo phát triển vùng như chúng ta sẽ xem xét dưới đây.

Mức độ xung đột bạo lực liên cộng đồng thấp

Một vấn đề khác liên quan đến giai đoạn tiền sử là có rất ít bằng chứng về nguồn xung lực xã hội lớn định hướng vào xung đột bạo lực liên nhóm. Đâu đó tôi đã cho rằng thời đại đồ đồng ĐNA lục địa tương đối hoà bình so với các vùng khác như Lưỡng Hà hoặc triều đại nhà Thương bên Trung Quốc, nơi khởi nguồn của khái niệm truyền thống “thời đại đồ đồng” (White 1982, 1988). Quan sát của tôi được thực hiện từng phần vì hầu hết đồ đồng tiền sử dường như đều là các đồ trang sức cá nhân và là các vật dụng thiết yếu trong phạm vi làng, và chỉ có một ít đồ đồng có thể được phân loại một cách rõ ràng là các vũ khí (riêng miền bắc Việt Nam dường như phát triển hơi khác với nhiều bằng chứng hơn về các vũ khí đồng sau 1000 năm TCN). Quan điểm này đã bị phê phán (Higham 1984), nhưng người phê phán lại đặt định vấn đề từ một khung bất phân và nhận thức một cách hẹp hòi. Vấn đề không phải là liệu có tồn tại một vài loại vũ khí hoặc các cuộc xung đột nào đó hay không. Vấn đề là ở chỗ chiến tranh là một trung tâm điểm tổ chức đối với các động thái của xã hội đã thúc đẩy việc sản xuất kim loại và sự tiến hoá của kỹ nghệ cùng với việc tiêu thụ một năng lượng xã hội to lớn vào các chiến lược tấn công và phòng thủ trong cả lĩnh vực xã hội (chẳng hạn như việc xây dựng một quân đội thường trực), và lĩnh vực vật chất (xây dựng những hệ thống phòng thủ bền vững). Tất cả các xã hội đều phải giải quyết các cuộc xung đột và thù địch liên nhóm. Thù hận và tục săn đầu người có lẽ vẫn là các phương cách mô tả người Nagas (Jacobs et al. 1990:138), chắc chắn có thể đặc trưng hoá cho các xã hội tiền sử được thảo luận ở phần này. Việc đánh giá toàn bộ các bằng chứng khảo cổ học, bao gồm cả tính chất khan hiếm của các loại vũ khí được xác định rõ ràng là sử dụng để chống lại con người, các hình thức chấn thương xương do những tai nạn hàng ngày (Douglas 1995), và tình trạng thiếu vắng bất cứ bằng chứng nào về các công trình phòng vệ như các thành đất chẳng hạn, cho đến giai đoạn sau khi xuất hiện đồ sắt – đã cho thấy các xã hội tiền sử ở vùng hạch ĐNA rất it quan tâm đến việc phát triển khả năng quân sự của mình.

Tại sao lại có thể như vậy được? Việc kiểm soát các nguồn lực đã được coi là hợp lý đối với sự phát triển các khả năng phòng thủ và tấn công. Trong khi một số nguồn lực kinh tế như đồng, muối (nhưng đất nông nghiệp thì ít hơn) tạo thành hạt nhân trong các vùng riêng biệt, nói chung không quá tập trung đến mức bất cứ làng nào cũng có thể bị cắt rời ra khỏi một loại sản phẩm thiết yếu hoặc đáng thèm muốn nếu như người ta thù địch với các làng khác. Chúng ta đều biết rằng ở trung Thái Lan một số cộng đồng thời đó đều sản xuất đồ đồng. Trong khi có thể có sự cạnh tranh giữa các cộng đồng trong việc sản xuất và phân phối kim loại, nhưng vẫn chưa có bằng chứng để kết luận về sự xung đột liên cộng đồng. Thực tế tôi cho rằng các trao đổi dài hạn liên vùng mà không có bằng chứng về tập trung hoá chính trị đi kèm hoặc sự kiểm soát hàm ý một bối cảnh ít chiến tranh. Giải pháp tranh chấp có thể nhấn vào các cơ chế chẳng hạn như quá trình ra quyết định có tính chất nghi lễ và liên tục đã được Johnson (1982) thảo luận.

Sự phát triển xã hội trong giai đoạn Tiền sử muộn

Các bằng chứng vừa được xem xét ở trên đã cho thấy một hệ thống xã hội tích hợp, nhưng lại phân hoá theo chiều ngang với những động thái kinh tế và xã hội linh hoạt được phát triển ở Thái Lan trong nhiều thiên niên kỷ trước trung kỳ thiên niên kỷ I TCN. Một cơ sở khả dĩ đảm bảo thành công dài hạn của hệ thống này chính là chiến lược kiếm sống địa phương hoá xác thực và có cơ sở rộng rãi (Higham and Kijngam 1979; White 1995). Việc canh tác lúa nước ở những vùng trung gian dọc theo các hệ thống sông ngòi đã tạo dựng cơ sở cho việc sản xuất nguyên vật liệu vì đông bắc Thái Lan trước hết do những người trồng lúa tới định cư vào thiên niên kỷ IV TCN (White 1995). Tôi cũng đã từng cho rằng hoạt động canh tác lúa nước ở ĐNA được tiến hành thuận lợi nhất trong những đơn vị sở hữu đất nhỏ mà hộ gia đình là một đơn vị tự nhiên vì thao tác trên một môi trường vĩ mô thân thuộc trong vòng nhiều năm liên tiếp trên những mảnh đất riêng là cần thiết để sản xuất ra những loại hoa màu tốt nhất (Geertz 1963). Tích hợp xã hội theo chiều ngang và việc sản xuất thực phẩm bền vững, giải tập trung hoá song hành với nhau đã được Johnson hết sức cổ vũ. Ông cho rằng “tính phức hợp quyết định trong phạm vi tổ chức kiếm sống, ngược lại, luôn gắn liền với tính chất có thể tiên đoán về các nguồn…và tiềm năng của hệ thống thứ bậc kèm theo [tức là hệ thống xã hội cấu trúc mạng] (White 1995) trực tiếp liên quan đến khả năng dự báo các nguồn. Đặc biệt Johnson (1982: 403) đã ngụ ý rằng ông trông chờ bước ra quyết định (có thể liên quan đến nhịp độ biến đổi chính trị?) trong các hệ thống xã hội với việc ra quyết định liên tiếp (tức là tích hợp ngang) sẽ bị chậm.

Như đã lưu ý ở trên, bằng chứng khảo cố học từ giai đoạn tiền sử muộn tuy thưa thớt, nhưng vẫn gợi lên rằng các mô thức cư trú trong hệ thống sông Mun và sông Chi thuộc đông bắc Thái Lan vào giữa thiên niên kỷ I TCN đã trải qua những biến đổi để tiến tới xuất hiện các khu cư trú có hào lũy khác nhau. Bằng chứng này được lý giải sơ bộ là một phản ứng đối với sự khai thác các khu vực có những thay đổi bất thường ngày càng tăng trong việc tiên liệu các nguồn vì sự thay đổi của lượng mưa (Welch and McNeill 1991). Vì vậy, theo Johnson điều này có thể gợi ý rằng các yếu tố thứ bậc tối thiểu là trong lĩnh vực qui mô cư trú và có lẽ cả trong tổ chức lao động nữa, đều được đưa vào vùng này, trong giai đoạn này như là một phản ứng lại với những sức ép giao tiếp vô hướng bị thúc đẩy bởi tính chất không thể dự liệu ngày càng tăng trong việc tìm được các nguồn sinh kế. Tuy nhiên các yếu tố thứ bậc đã không biến mất khỏi hệ thống xã hội ĐNA, mà vẫn là một hệ thống cơ bản đối với các quỹ đạo phát triển vùng như chúng ta sẽ xem xét dưới đây.

II. CẤU TRÚC MẠNG TRONG DÂN TỘC HỌC LỊCH SỬ ĐNA MUỘN

Trong khi các bằng chứng khảo cổ học từ giai đoạn tiền sử trực tiếp thể hiện việc hình thành các nhà nước trong vùng còn rất thưa thớt thì việc nhận thức về các kết quả tiếp theo của các giai đoạn lịch sử có thể đặt bằng chứng khảo cổ học tiền sử vào một viễn cảnh rõ ràng hơn. Một cái nhìn đầy đủ về các văn liệu dân tộc học, dân tộc học lịch sử, lịch sử có liên quan không phải là công việc của phần này. Tôi chỉ đưa ra một số ví dụ chọn lọc để chứng tỏ khái niệm mô hình mạng được đề xuất cho giai đoạn tiền sử đó nối tiếp với giai đoạn của các nhà nước lịch sử sớm và cả thời gian gần đây nữa.

Phương thức đa nguyên văn hoá trong khung cảnh ĐNA muộn

Tính chất đa dạng ngôn ngữ dân tộc rõ ràng là một đặc trưng nổi bật của ĐNA với một chiều sâu thời gian là một thiên niên kỷ hoặc hơn thế. Tuy nhiên việc xem xét các văn liệu lịch sử dân tộc học và lịch sử cho thấy phương thức đa nguyên văn hoá vùng là một thứ lan toả rộng khắp và thể hiện một cách phức tạp chất lượng có thể được gắn một cách đơn giản cho quá trình di cư của các nhóm từ phía nam và tây nam Trung Quốc vào khoảng một nghìn năm hoặc hơn một nghìn năm trước. Phương thức đa nguyên văn hoá không chỉ trùng khớp với các phân chia ngôn ngữ, mà còn có thể thấy rất rõ trong các nhóm ngôn ngữ dân tộc (Graves 1994).

Tính chất tộc thuộc và tính đa dạng văn hoá được các quốc gia sớm tại ĐNA thừa nhận. Wolters (1982,52) thậm chí còn tuyên bố rằng một đặc trưng nổi bật nhất của giai đoạn lịch sử sớm là tính đa dạng văn hoá và tính địa phương hoá cao của nó. Wicks (1992) cũng cho rằng “một trong những biểu hiện đáng chú ý nhất của quá trình địa phương hoá chính là cách thức biểu hiện giá trị rất khác nhau” bắt nguồn từ tính chất đa dạng của các phương tiện và các mức độ lưu hành tiền tệ của các nền kinh tế nhà nước sớm và sự cùng tồn tại của nhiều hệ thống giá trị trong những vùng riêng biệt.

Tính đa dạng văn hoá và tính tộc thuộc được coi là những chức năng cấu trúc và tích hợp trong các nhà nước ĐNA sớm. Các nhóm tộc người được thừa nhận đã lấp đầy các lỗ hổng kinh tế, chẳng hạn như họ đã cung cấp các hàng hoá hoặc các dịch vụ đặc biệt. Người Kui chẳng hạn đã có thể cung cấp sắt cho đế quốc Khmer (Bronson and Charoenwongsa 1986:24). Tính chất tộc thuộc và sự cư chiếm và định cư ở Pagan nhìn chung là trùng hợp và thực sự được luật pháp hoá một cách chính thống (Aung Thwin 1985:90). Sự tiếp cận của các nền hành chính nhà nước vùng hạch với tính đa dạng văn hoá rõ ràng tương phản với cách tiếp cận của Trung Quốc đối với vùng thung lũng sông Hồng, nơi mà người Trung Quốc đã thực thi chủ nghĩa đế quốc về văn hoá với những thành công đáng kể. Việc áp đặt nền văn hoá của nhóm thống trị và đồng hoá các nhóm bị trị khác nhau đã không cho thấy đó là mục tiêu nhà nước chủ yếu ở vùng hạch ĐNA.

Trong khi tính đa dạng rõ ràng về ngôn ngữ tộc người của ĐNA hiện nay có chiều sâu thời gian được biết vào khoảng 1 – 2000 năm trước thì sự hình thành biên giới tộc người trong các giai đoạn lịch sử lại phần nào được coi là một loại bối cảnh cho sự lựa chọn và thao tác trong nền kinh tế chính trị khu vực và không chỉ là một nguồn gốc lịch sử nhất định (Lehman 1967). Ý thức về tính chất linh hoạt ấy của bản sắc tộc thuộc dường như chứa đựng một động cơ chính trị mạnh mẽ.

Các lý lẽ của Graves (1994) về người Kalinga bắc Luzon thuộc Philippines chính là một ví dụ tuyệt vời về sự hình thành các phụ nhóm trong một nhóm ngôn ngữ tộc người duy nhất. Ví dụ này cũng chỉ rõ cách thức mà tính chất đa dạng văn hoá nhóm nội tộc có thể hình thành trong một bối cảnh chính trị vùng lỏng lẻo và một liên minh tập trung với sự chuyên môn hoá kinh tế cộng đồng. Một hệ thống vị thế không chặt chẽ dựa trên nhiều tiêu chuẩn, nơi mà “sự phân hoá vị thế thừa kế chỉ phát triển một cách yếu ớt” thì hiện vẫn còn (Graves 1994; 15). Về tính phù hợp tiềm tàng để lý giải các truyền thống gốm địa phương hoá của tiền sử Thái Lan thì phát hiện của ông về hệ thống thiết kế mẫu gốm lại phù hợp với các vùng xác định về phương diện chính trị. Graves đã quy tính chất khu vực của phong cách thiết kế không chỉ vào các khuôn khổ học hỏi hình thành bởi quá trình nội giao khu vực mà còn là những biểu hiện có chủ đích của người thợ gốm thuộc các bộ phận khác trong vùng. Những người thợ gốm cố tình tránh các mẫu thiết kế của các vùng khác. Graves (1994:48) kết luận rằng: “Trường hợp người Kalinga đã minh hoạ cho chúng ta thấy rõ các hệ thống xã hội phân ranh giới rất dứt khoát…khi không tồn tại chế độ vị thế hoặc phân biệt chính trị một các rành mạch. Thực tế xã hội này không được các nhà loại hình học khảo cổ đánh giá một cách thấu đáo. Có lẽ họ tin rằng những hệ thống xã hội khác biệt về phong cách, hoặc được tổ chức tốt luôn luôn hàm chứa các loại hình phức tạp của chế độ độc tài”.

Tóm lại cả bằng chứng dân tộc học lẫn lịch sử đều chứng thực cho biểu hiện đa nguyên văn hoá, nơi mà các ranh giới xã hội được xác định bởi những phương tiện xã hội khác nhau có thể hoặc không thể bao gồm những khác biệt về ngôn ngữ. Các nhóm xã hội nhỏ cung cấp phương tiện cho quá trình phân hoá bên và sự tích hợp của xã hội rộng lớn hơn cũng như một bối cảnh cho sự phân cấp linh hoạt và các mối tương liên kinh tế và xã hội linh hoạt không nhất thiết bị kiểm soát bởi một quyền lực được thừa nhận là cao hơn.

Các động thái mạng trong các nền kinh tế bản địa ĐNA muộn

Dù các bằng chứng có sẵn liên quan đến các nền kinh tế bản địa thuộc giai đoạn lịch sử sớm còn thưa thớt và mơ hồ, nhưng dường như vẫn có vẻ là nền sản xuất lương thực và đồ thủ công địa phương hoá trên cơ sở hộ với những cộng đồng chuyên môn hoá sản xuất một số mặt hàng tiếp tục trong một khu vực rộng lớn để đặc trưng hoá các nền kinh tế vùng.

Việc sản xuất lúa, nguồn tài chính chủ yếu của các nhà nước sớm ĐNA trong vùng hạch có lẽ đã kết hợp chặt chẽ những chiến lược tăng cường trong một vài khung cảnh. Có các công trình thủy lợi đi kèm với các nhà nước này, nhưng trình độ xây dựng và quản lý các công trình này của các trung tâm chính trị hoặc chúng cần thiết cho việc sản xuất lúa đến mức nào vẫn còn là một câu hỏi bị bỏ ngỏ. Đối với Ankor và những vùng khác, sản xuất lương thực có thể vẫn được tổ chức bởi các đơn vị hộ với việc quản lý các công trình thủy lợi giải tập trung và có lẽ dựa trên cơ sở cộng đồng (van Liere 1980; Stargardt 1990; Christie 1992). Đối với Pagan, nằm ở một vùng khô hạn thì đầu vào cho một hệ thống thủy lợi phát triển tốt và được điều chỉnh nhiều thì có lẽ đáp ứng được đầy đủ hơn cho các nhu cầu sản xuất lúa gạo (Aung Thwin 1985).

Trong thực tế thì đền đài hoặc hệ thống đền đài là một thể chế thường xuyên được đề cập đến với tư cách là vai trò chủ yếu trong việc phát triển các công trình thủy lợi cũng như trong việc tích lũy và tái phân phối các nguồn lực (Hall 1992:241-2). Người ta có thể cho rằng việc xác lập các hệ thống thứ bậc quy mô vùng bên ngoài các chế độ quan liêu nhà nước (chí ít trong trường hợp Angkor rõ ràng là phát triển kém) đồng thời các nhóm tinh hoa điền sản địa phương lại thể hiện một ví dụ khác về một chiến lược phân hoá bên tại một giao điểm của các sức ép giao tiếp vô hướng. Trong tình trạng này, các thủ lĩnh chính trị cần có những nguồn tài chính ổn định đủ để xây dựng các doanh trại và phục vụ cho cuộc chiến tranh bên ngoài lãnh thổ. Các nhóm tinh hoa xã hội điền sản địa phương rõ ràng không muốn thừa nhận và ủng hộ cho việc tiếp tục sự lãnh đạo có tính chất thể chế vượt khỏi đời sống của các thủ lĩnh thần uy (Wheatley 1979). Vì vậy việc thiết lập một hệ thống thứ bậc song hành bao gồm một tôn giáo khu vực rộng lớn (mà trước đó không có) để ủng hộ về tài chính và hệ tư tưởng cho vị thủ lĩnh và những kẻ kế thừa ông ta có thể được coi là thể hiện một sự đổi mới chính trị theo cấu trúc mạng một cách khôn ngoan.

Thông tin chi tiết về khu vực sản xuất bản địa (chẳng hạn như gốm, muối, vải, kim loại ; Hall 1992:275) luôn thiếu thốn, mặc dù các văn liệu đều ngụ ý về tính liên tục của các phường hội sản xuất kinh tế và trao đổi tiền sử được thừa nhận ở trên: các đơn vị sản xuất theo hộ, việc chuyên môn hoá cộng đồng và hệ thống phân phối chồng xếp nhiều trung tâm đều không được kiểm soát chặt chẽ bởi một nhóm nhỏ các tinh hoa (Wolters 1982:37; Hall 1985:172,322; Wicks 1992; dẫu sao vẫn nên xem Aung Thwin [1985] viết về Pagan để có được một bức tranh khác). Trong khi các trao đổi ngoài vùng (ở những mức độ khác nhau) là đối tượng kiểm soát của các nhóm tinh hoa thì thương mại nội địa chỉ “thường xuyên được giám thị” sơ bộ để hạn chế các tích lũy thặng dư (Wicks 1992:310). Đối với trường hợp Angkor, Hall (1985:172,322) đã lưu ý rằng các hệ thống chợ bản địa không tập trung hoá hoặc tổ chức theo hệ thống thứ bậc bởi nhà nước hoặc một nhóm tinh hoa thương mại nào. Hall tuyên bố rằng các thương nhân “kiểm soát” các mạng lưới – những phương tiện mà nhà vua và nhà chùa sử dụng để có được các hàng hoá. Tuy nhiên hình như Hall cũng ngụ ý rằng các thương nhân kiểm soát đầu vào các mạng lưới thông qua các nhóm tinh hoa chứ không nhất thiết phải là sự trao đổi giữa các khu vực cư trú.

Có rất ít thông tin cụ thể về việc sản xuất và phân phối các hàng hoá thủ công, nhưng dựa vào các nguồn thông tin khác nhau (Suchitta 1983; Hall 1985, 1992; Bronson and Charoenwongsa 1986:13; Bowie 1992; Christie 1992; Wicks 1992), thì một kịch bản có thể đi kèm (tiếp theo khái niệm của Earle đã được thảo luận trong Brumfiel and Earle 1987) các công xưởng hoặc các nghệ nhân thuộc quyền của thũ lĩnh đã sản xuất ra một số sản phẩm cho hoàng gia, chẳng hạn như các loại vải vóc tinh xảo hoặc những tác phẩm điêu khắc mang tính tôn giáo. Tuy nhiên các cộng đồng chuyên môn hoá không bị cai quản, không bị kiềm chế cũng đồng tồn tại, sản xuất cho cả nhóm tinh hoá lẫn những khách hàng địa phương cả ở các làng riêng rẽ hoặc những khu vực dân cư đô thị. Các nhóm tinh hoa tiếp cận được với các sản phẩm của các cộng đồng chuyên môn hoá độc lập thông qua các trung gian cũng như các cơ chế cống nạp và thuế. Một hệ thống như vậy có thể giúp duy trì và thậm chí kích thích cộng đồng về cả năng suất lẫn quá trình phân hoá kinh tế vùng.

Các hệ thống sản xuất và phân phối hàng hoá đa mô hình chú trọng đến đơn vị hộ và chuyên hoá cộng đồng cũng đặc trưng cho các giai đoạn muộn sau này. Mô tả của Bowie (1992) về đặc điểm phân phối vải đa mô hình ở bắc Thái Lan thế kỷ 19 đã đem đến một ví dụ tuyệt vời về hệ thống sản xuất và phân phối hàng thủ công đa dạng, đa trung tâm dựa trên cơ sở cộng đồng và đơn vị hộ trong khung cảnh của một của một quốc gia. Những công đoạn sản xuất khác nhau (chẳng hạn như trồng bông, chải bông, xe sợi, dệt vải, nhuộm và may) có thể thực hiện bằng nhiều dạng kết hợp của cả môi trường phân tán lẫn môi trường tập trung trải từ các hộ riêng lẻ trong môi trường làng đến các vùng có một số làng chuyên môn hoá những mặt hàng đặc biệt. Việc phân phối các thành phẩm theo những công đoạn khác nhau có thể được thực hiện bằng trình tự sau: từ các thợ thủ công đến các thương nhân buôn bán bằng thuyền đến người chào hàng rồi đến người sản xuất. Những người sản xuất, chẳng hạn như các thợ nhuộm lưu động cũng có thể đến các làng của người tiêu thụ và thực hiện công việc chuyên môn của họ cả khi đi xa nhà.

Việc sản xuất các sản phẩm cho nhóm tinh hoa (chẳng hạn như cung cấp tơ lụa cho giới quý tộc) thì phải chuyên môn hoá cao hơn với số lượng ít hơn, nhưng có tay nghề cao và lưng vốn khá. Vì vậy tơ lụa có giá trị uy tín cao hơn và đắt hơn, nhưng việc sản xuất và phân phối mặt hàng này cũng có nhiều mô hình. Một số làng chuyên sản xuất tơ lụa, nhưng mặt hàng này cũng được các tù binh chiến tranh, các nô lệ và thậm chí cả thành viên của giới quý tộc làm tại cung đình. Cống vật và lao động nô lệ là những phương tiện bổ sung cho khu vực thương mại, nhờ đó mà đội ngũ quý tộc có được các mặt hàng dệt cao cấp. Vì thế chuyên môn hoá có kiềm chế đã cùng tồn tại, nhưng lại không thay thế được cho chuyên môn hoá cộng đồng, thậm chí ngay cả trong việc sản xuất những sản phẩm tinh xảo.

Tôi cho rằng mô thức về các mức độ phân hoá khác nhau trong phạm vi chuyên môn hoá hộ/cộng đồng và một hệ thống phân phối đa mô hình với sự chuyên môn hoá có kiềm chế ở mức độ nhất định (có lẽ phần nhiều là để đảm bảo quyền tiếp cận cho giới tinh hoa hơn là việc kiểm soát các loại hàng hoá, sản phẩm uy tín) là loại kịch bản cần được hình dung cho sự phát triển của việc chuyên môn hoá thủ công trong các giai đoạn tiền sử và lịch sử của vùng hạch ĐNA lục địa.

Vị thế xã hội linh động trong các bối cảnh ĐNA muộn

Sự phân cấp xã hội được áp đặt một cách chặt chẽ không phải là một đặc trưng nổi bật của các khung cảnh xã hội dân tộc học hoặc lịch sử ĐNA. Dân tộc học ĐNA có đủ các tài liệu tham khảo về các hệ thống xã hội linh hoạt và các cấu trúc vị thế không tương thích với các mô hình thứ bậc điển hình. Tính linh động thể hiện rất rõ ràng trong các khuynh hướng thiên về các hệ thống thân tộc không đơn tuyến, những hệ thống chính trị liên minh chặt chẽ, tính chất mơ hồ hoặc sự dao động trong các quan hệ liên nhóm và các cơ chế phân cấp về vị thế và của cải. Có nhiều tài liệu tham khảo trong các văn liệu nhà nước sớm liên quan đến tính linh động về vị thế xã hội (chẳng hạn như Jacques 1979; Wolters 1982; Christie 1985:17; Hagesteijn 1986; see also Kobkua Suwanna that Dian [1993]) và những đề xuất cho rằng các cấu trúc phân cấp về mặt lý thuyết đều che phủ một thực tiễn linh động và lỏng hơn nhiều.

Thực chất và các mối liên quan về vị thế xã hội linh động của các nhà nước ĐNA có thể được xem xét một cách có phê phán về quyền kế vị. Huyết thống bị xuống cấp và được thao tác có tính chiến lược theo phương thức đa diện. Dòng dõi chỉ là một tiêu chuẩn có thể được sử dụng để chính thống hoá một khẳng định về vị thế của kẻ cai trị và được sử dụng một cách linh động: phụ hệ, mẫu hệ, thân tộc đằng vợ, tổ tiên xa, hoặc thậm chí một vài trường hợp còn bao gồm cả tổ tiên huyền thoại (Hagesteijn 1986). “Sự chuyển giao quyền lực trực tiếp từ cha đến con đã được ghi lại với chín trường hợp, thất lạc ba mươi hai trường hợp …Trong hầu hết các trường hợp (tám) quyền lực được chuyển cho các anh em hoặc cháu …hoặc cho một người cháu trai của vợ, cho các cháu gọi bằng ông, thậm chí cho cả cháu rể. Việc lựa chọn các ứng viên này được quyết định bởi “tuổi tác và đức hạnh của họ” (Sedov 1978:116). Việc các cá nhân không có dòng máu hoàng gia chiếm đoạt quyền lực chỉ được chấp nhận khi kẻ đó có năng lực khác thường (tức là khả năng làm thủ lĩnh) được thể hiện một cách rõ ràng như trường hợp một kẻ cai trị thành công nhất ở người Pagan (Aung-Thwin 1985:66). Khỏi phải nói, quyền kế vị trên cơ sở tuổi tác và đức hạnh của một loạt ứng viên không dễ để các mô hình tiến hoá trong quá trình hình thành nhà nước có thể dự liệu. Các sử gia đã bình luận về bản chất khác thường của vị thế thủ lĩnh tại các nhà nước ĐNA sớm, đặc biệt là phẩm chất thần uy, tầm quan trọng của quyền năng dị thường của cá nhân (Wolters 1982); cùng các hành vi tư cách và những dấu ấn về lý lịch cá nhân, đó chính là điển hình của sự thành đạt cá nhân. Việc tăng cường nhấn mạnh phẩm chất liên nhân đối với cương vị thủ lĩnh phụ thuộc vào các quần đám của mối quan hệ giữa kẻ che chở và bọn được che chở (chứ không phải là các giai tầng, dòng dõi, luật tắc hoặc chính thể quan liêu phân cấp) chính là phương tiện cơ bản để nhà nước cai trị và thể hiện quyền lực (Wolters 1982:20).

Lâu nay các nhà nhân học xã hội đã quan sát về sự xuất hiện của các hình thái tổ chức quan hệ thân tộc không đơn tuyến trong các xã hội ĐNA (về vấn đề này, nên xem tiểu luận trong Hiisken and Kemp [1991]). Các học giả khác (Winzeler 1976; Wolters 1982) cũng đã cho thấy rất rõ các hệ thống không đơn tuyến hoặc các hệ thống thân tộc song phương trong quá khứ có lẽ vẫn tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và tính cách của các nhà nước ĐNA. Trong khi quan hệ thân tộc gốc không bao hàm một kiểu xã hội hoặc văn hoá có những biểu hiện và các đặc tính chung, có thể tiên đoán thì các nhà dân tộc học đã nhận thấy rằng một trong những tương liên hành vi của các hệ thân tộc gốc phát hiện được ở một số xã hội ĐNA lại là sự lựa chọn mang tính cá nhân rất đáng kể (Embree 1969; King 1991:18) nhằm đáp lại các định chế luật pháp và các bổn phận xã hội. Vì vậy có thể cho rằng các hệ thống thân tộc gốc đã cho ta một cơ sở bước đầu về sự phản ứng mềm dẻo, một sản phẩm có thể đã sản sinh từ tính đa dạng của các hình thái xã hội được biểu hiện và đã phát triển tại ĐNA, cũng như tính mềm dẻo của chúng cùng với thời gian (King 1991:30).

Các xã hội này khác nhau về mức độ cấm đoán các hành vi và những lựa chọn đối với các cá nhân mà các nhà nhân học văn hoá đã phát hiện ra khi làm việc tại ĐNA. Embree (1969) đã đề cập đến hiện tượng này trong xã hội Thái khi lưu ý rằng mặc dù các nguyên tắc về bổn phận xã hội được kết nối với nhau về phương diện lý thuyết, nhưng cá nhân vẫn quyết định tối hậu có tuân theo các nguyên tắc đó hay không. Có thể xuất hiện những giai đoạn căng thẳng xã hội nếu ai đó không tuân thủ luật pháp, nhưng cá nhân thì lại luôn luôn thực sự được chào đón quay trở lại với nhóm lợi quyền xã hội của mình. Embree đã đối sánh tính chất lỏng lẻo với tính chặt chẽ của xã hội Trung Quốc và Nhật Bản, mà ở đó các chuẩn mực chẳng hạn như lòng hiếu thảo của con cái có những đòi hỏi và các luật tắc thông qua những hình thức thưởng phạt rất ngặt nghèo.

Các xã hội ĐNA cũng thể hiện tính mềm dẻo trong các cơ chế xác định vị thế. Jacobs et al. (1990) đã đưa ra những ví dụ minh hoạ về người Nagas mà vị thế khác biệt của họ cũng có thể dựa trên những kết hợp về các phẩm chất thừa kế và các phẩm chất do cá nhân đạt được; huyết thống, hôn nhân, số đầu người săn được (phản ánh năng lực đặc biệt), số lượng các loại tiệc tùng được tổ chức (thể hiện mức độ dồi dào về của cải) tất cả đều được khai thác bằng sự khác biệt vị thế, nhưng cũng có thể được nhấn mạnh bằng nhiều cách thức khác nhau về không gian và thời gian để tạo ra các mức độ và các dạng thức phân cấp xã hội. Các cá nhân, nhất là đàn ông, thậm chí từ những huyết hệ bậc thấp cũng có thể xây dựng các chiến lược nhằm đạt được vị thế xã hội thông qua các hành động riêng của họ. Vị thế xã hội không được xác định bằng một mô hình thứ bậc hình nón hoặc một hệ thống giá trị cố định, mà là một hệ thống đa phương để xác định vị thế trong những bối cảnh đặc biệt bắt nguồn từ tiềm năng đa dạng hoá các phương thức sắp xếp thứ bậc một cách linh động.

Các hệ thống chính trị xã hội liên minh tập trung tại ĐNA muộn

Các hệ thống chính trị dân tộc học lịch sử và lịch sử ở ĐNA cũng thể hiện những yếu tố chung bằng cách nhấn mạnh vào tính chất linh động và sự hình thành liên minh. Việc các nhà lãnh đạo thành công thể hiện kỹ năng ngoại giao thông qua việc duy trì các mối quan hệ liên nhân (Wolters 1982:18), thương lượng hoà bình, hoặc trao đổi với bên ngoài (Hall 1985:191) là có tính quyết định. Mặc dù nhiều cuộc chiến tranh đã được ghi chép lại, nhưng dường như các sử gia vẫn không coi các cuộc chiến đó là loại hành động tổ chức tập trung đối với các nhà cai trị sớm (Wolters 1982:17), hoặc chí ít sự cai trị hoà bình và quá trình hình thành liên minh cũng thường xuyên phải chịu sức ép (Hall 1985:6, 138).

Một hệ luận tất yếu của phong cách cai trị thần uy là tính hướng tâm đối lập với bản chất động lực ly tâm giữa nhà nước và dân chúng. Sức hấp dẫn của các thủ lĩnh và của trung tâm đối với dân chúng tác động lớn đến việc bành trướng sự thống trị hoặc đến những cưỡng bách từ trung tâm lên toàn lãnh thổ (Christie 1985:9). Sắc thái ấy có thể thấy rất rõ khi không có các tình huống phải nhấn mạnh đến các biên giới lãnh thổ thường hằng, sự giao động, tính chất lỏng lẻo, và thậm chí cả sự chồng chéo của các biên giới đó. Các nhà nước đã không được coi là các thực thể giới hạn độc nhất, vì vậy mà một vài khu vực đã tự nhận mình là những bộ phận của cả nhà nước này lẫn nhà nước khác trong cùng một thời điểm (Winichakul 1994).

Một hệ luận về động lực hướng tâm giữa nhà nước và dân chúng của nó là việc kiểm soát lãnh thổ thường không được coi là trọng tâm bằng việc kiểm soát lao dịch, có nghĩa là kiểm soát dân cư của nó. Hall (1985:4) cho rằng cuộc tranh đấu để kiểm soát dân cư có nghĩa là kiểm soát nguồn nhân lực về nguyên tắc là thông qua quá trình hình thành các liên minh chính trị với nhóm tinh hoa điền sản địa phương là mối bận tâm hàng đầu đối với kẻ cai trị. Mật độ dân số thấp luôn luôn là “một vấn đề” đối với các nhà nước ĐNA. Việc xây dựng các mối quan hệ giữa kẻ che chở - kẻ được che chở tạo cơ sở cho việc tuyển dụng lao dịch hơn là xác định những mối quan hệ về vai trò được phân tầng. Bọn thủ lĩnh cuốn hút lũ theo đuôi, thậm chí là toàn bộ các làng bằng việc hứa hẹn đảm bảo an toàn, chu cấp đất đai, cơm áo, tạo dựng uy tín, sự bảo vệ và khả năng tiếp cận với nguồn nước, tất cả đều là những phương tiện tăng thêm nhân đinh ủng hộ chúng. Bọn “nô lệ” hoặc “nông nô” được đề cập tới trong các văn liệu có lẽ giúp người đọc một cách tốt nhất để hình dung ra một lũ rơi vào tình trạng của kẻ được che chở (Aung-Thwin 1985:87).

Nhân học xã hội và chính trị của khu vực này luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hình thành liên minh chính trị và trạng huống đồng tồn tại của những tương tác linh động giữa các hệ thống giá trị thứ bậc và phương thức bình quân (có thể xem Leach 1954; McKinnon 1991). Những nghiên cứu của Graves (1994) về người Kalinga đã cho thấy rằng các khu vực cư trú được hình thành dựa trên cơ sở các thoả thuận hoà bình được thương lượng liên tục. Công trình Các hệ thống Chính trị Cao nguyên Mianma của Leach (1954) đã cho thấy một trường hợp phức tạp điển hình về cái có thể được xác định một cách dễ dàng là cấu trúc mạng: các mối liên hệ mờ ảo và sự dao động (chứ không phải là tiến hoá) giữa các hệ thống tự trị gumsa phân cấp theo thứ bậc và các hệ thống gumlao chia bè phải theo phương thức bình quân. Bất cứ một cộng đồng đơn lẻ nào cũng có thể vận hành theo cách thức tương đối có thứ bậc hoặc theo cách thức dân chủ, và theo thời gian có thể thay thế nhau giữa hai phương thức đó. Hơn nữa mối quan hệ bên trên giữa những kẻ-cho-vợ và kẻ-nhận-vợ hàm chứa một hệ thống thứ bậc mang tính ngữ cảnh trong các hệ thống liên minh hôn phối bất đối xứng thường thấy trong các nhóm ĐNA (cũng đã được McKinnon [1991] và những người khác đề cập đến) vì các dòng tộc cưới gả cho nhau theo mô thức vòng tròn. Về mặt lý thuyết, phạm vi của các mối quan hệ bên trên giữa kẻ-cho-vợ và kẻ-nhận-vợ làm nảy sinh mô thức vận hành nghịch lý, và đó chính là cơ sở cho việc nảy sinh khái niệm cấu trúc mạng (McCulloch 1945).

Jacobs et al. (1990) đã mô tả những hệ thống dao động cấu trúc (các hệ thống Thendu/Thenkoh và Sema/Angami) trong cuốn sách của ông về người Nagas ở đông Ấn Độ. Các nhóm ĐNA khác đã thể hiện những ngữ cảnh khác nhau về hành vi dao động, chẳng hạn như trong bản sắc tộc thuộc hoặc hành vi nghi lễ (chẳng hạn Kirsch 1973). Tóm lại, văn liệu dân tộc học cung cấp nhiều ví dụ về các nhóm ĐNA coi các mối quan hệ thứ bậc trong chính trị và xã hội là có tính ngữ cảnh và mềm dẻo.

(Xem phần 3)

Joyce C. White

Dịch giả: TS. Hà Hữu Nga

Nguồn: http://www.baotangnhanhoc.org/