Trang nhà > Giáo dục > Viết > Sự thay hình đổi dạng của sách

Sự thay hình đổi dạng của sách

Thứ Ba 7, Tháng Mười 2008

Một cuốn Kinh Thánh cổ dạng sách cuộn, mở ở đoạn Isiah 33,1-24 (Bảo tàng Kinh Thánh, TP Münster)

Các ngôn ngữ sẽ trở thành những đường đi trong không gian và thời gian. Trong khi các dân tộc sẽ được thống nhất nhờ những thổ ngữ mới của họ, những người đọc sách riêng rẽ có thể tìm kiếm những lục địa xa xăm và du hành vào trong quá khứ xa xưa. Từ Cicero đến Gutenberg, sách vốn là phương tiện chuyển tải điều diệu kỳ của ngôn ngữ, sẽ được biến đổi thật sâu xa khiến không còn nhận ra được nữa.

Bản thảo về giải phẫu, 1600TCN, papyrus

Thư riêng, chữ Hy Lạp, TK2, papyrus

Định nghĩa chuyên môn hiện đại về sách, được các chuyên viên thư viện và UNESCO chấp nhận vì mục đích thống kê, cho thấy “sách” đã biến đổi. Theo định nghĩa này, một cuốn sách là một “ấn phẩm không định kỳ có ít nhất 49 trang không kể bìa”. Nhưng trong hầu hết lịch sử, sách thậm chí không có trang gì cả. Từ “cuốn” của chúng ta (các tiếng châu Âu gọi là volume” có gốc La tinh là volvere, nghĩa là “cuộn lại”) thoạt đầu là tên gọi những thủ bản được cuộn tròn thành cuốn.

Thời Ai Cập cổ đại, người ta viết trên những tờ papyrus làm bằng sợi cây cói giấy mọc ở châu thổ sông Nil. Người ta đập dẹp những cây cói giấy rồi đan những sợi ngang và dọc để làm thành những tấm giống như chiếu. Những tấm này sau khi được ngâm ướt, nện cho mịn, rồi phơi khô, sẽ rất thích hợp để viết trên đó. Rồi người ta dính những tấm này lại với nhau thành những dải dài để làm những tấm biển ngữ căng trên các đền thờ Ai Cập xưa. Khi cuộn lại, chúng trở thành một “cuộn” hay “cuốn” dễ mang, dễ cất giữ và tương đối để được lâu. Đây chính là tiền thân của sách ngày nay.

Bản thảo y học, 668TCN, đất sét, chữ hình nêm

Ở những nơi khác, đương nhiên, người ta cũng đã thử nhiều loại vật liệu khác để viết. Người Babylon cổ đại viết các chữ hình nêm của họ trên những bảng làm bằng đất sét còn ướt. Rồi họ đem phơi những bảng này dưới mặt trời nóng chảy của vùng Trung Đông, để có những tấm bia lưu truyền những thông điệp của họ qua hàng ngàn năm. Người Trung Hoa trước khi sử dụng giấy đã từng dùng những thẻ tre, rồi dùng những tấm vải lụa cũ. Tại Ấn Độ, người ta viết trên những vỏ cây cáng lò và lá cây cọ. Tại Tibet, xương bả vai của con dê được dùng để khắc những câu thần chú. Da thú được dùng nhiều ở Trung Đông và người Miến Điện thường viết trên những tờ mỏng bằng đồng.

Bản thảo cổ Hy Lạp, cuộn papyrus

Nguyên liệu người Rôma dùng để viết là giấy cói Ai Cập. Trong Lịch sử thiên nhiên, Pliny Lớn (23-79.C.N) mô tả nhiều cấp độ, từ chất lượng hạng nhất lấy trong ruột cây cói gọi là “Augustan” và hạng hai gọi là “Livian” theo tên của hoàng hậu, cho tới những hạng kém chất lượng hơn ở gần vỏ ngoài thân cây. Để viết những đoạn ngắn, người Rôma thường dùng những bảng gỗ nhỏ đôi khi phủ một lớp sáp mỏng. Ở phương Tây những nơi có sẵn cây, người ta thường thích dùng giấy cói để viết hơn.

J.Sofer: 10 điều răn, 1768, giấy da 60x50cm

Kế đến, theo truyền thống kể lại, giấy da đã được vua Eumenes II (197-159 C.N) phát minh vì ông muốn làm cho thành phố Pergammum ở Tiểu Á thành một trung tâm văn hóa Hi Lạp lớn. Khi địch thủ của ông là vua Ptolêmê VI của Ai Cập cắt nguồn cung cấp giấy cói, ông đã chế ra một kỹ thuật mới để rửa sạch, căng ra và làm mịn da cừu và dê để có thể viết trên cả hai mặt. Đó là giấy da, tiếng Anh là parchment (từ tên thành phố Hi Lạp Pergamum). Loại giấy da thật mịn được gọi là “vellum” làm bằng da con bê hay da con dê non (từ tiếng Pháp cổ veel).

Giấy da là một phát minh làm cơ sở cho bước tiến bộ tiếp theo và lớn nhất trong kỹ thuật làm sách trước khi có máy in. Ý tưởng này quá đơn giản khiến chúng ta không ngờ nó là một phát minh. Các trang không còn được dính liền với nhau thành một dải dài và cuộn tròn thành một cuốn nữa. Thay vì cuộn, người ta khâu các trang lại thành một bộ (codex).

Một trang sách cổ nghìn năm

Sách cuốn có nhiều bất tiện. Người đọc phải trải dần cuốn thủ bản ra khi đọc rồi khi đọc xong lại phải cuộn lại nó để sau này sử dụng lại, giống như một cuộn phim phải cuộn lại sau mỗi lần chiếu. Vào thế kỷ 2 trước C.N khi người ta còn dùng sách cuốn, một cuốn sách trung bình dài 40 feet. Một số sách của Ai Cập trước kia còn có thể dài tới 150 feet. Không lạ gì nhà ngữ pháp Callimachus (305-240 trước C.N), thư viện trưởng của thư viện Alexandria, đã nói “một cuốn sách to làm người ta ngán”. Sau thời đó, các cuốn nhỏ hơn đã trở thành tiêu chuẩn. Nhưng hồi đó mỗi cuốn chỉ chưa được khoảng 750 dòng, những cuốn dài nhất cũng chỉ chứa được chừng hai trăm chữ và bản văn của Iliad và Odysseus phải dùng tới ba mươi sáu cuốn. Sách khi đọc phải mở ra rồi cuộn lại, vì thế sau mỗi lần đọc, bản văn bị hư mòn dần.

Hình vẽ cổ Ai Cập trên papyrus

Ngược lại với sách cuốn, sách bộ bằng những tờ giấy da khâu lại có dạng giống như sách ngày nay tiện lợi hơn nhiều. Nó dễ sử dụng, bền hơn, chứa được nhiều nội dung hơn và gọn hơn để cất giữ. Với sách đó, dần dần người ta có thể đưa thêm vào nhiều mục ghi chú và tham khảo - một trang đầu đề, một bảng mục lục nội dung, đánh số trang và một bảng mục lục phân tích. Tất cả những đặc điểm này giúp chúng ta thích tra cứu. Chúng cũng giúp chúng ta dễ tìm kiếm, khích lệ chúng ta kiểm tra sự chính xác của những lời trích và những sự kiện đáng nhớ.

Sách bộ bằng giấy da đã được phương Tây sử dụng vào khoảng đầu kỷ nguyên Kitô giáo. Dựa theo mẫu các tập sách bằng lá cây dùng để ghi chép của người Rôma, nó đã được sử dụng trước tiên làm sách ghi chép hay làm sổ. Dạng sách mới này giúp cho các nhà rao giảng của Kitô giáo vừa mới khai sinh có thể giảng giải Tin Mừng trong các sách Tân ước của họ, thay vì những cuộn sách Cựu ước hay những cuộn sách Do Thái khác. Sách bộ khi dùng cho văn chương Kitô giáo có thể chứa được nhiều hơn là một bản Tin Mừng hay một Thánh Thư. Đến thế kỷ 4, các thủ bản ngoại giáo cũng xuất hiện dưới dạng sách bộ này. Nhưng dạng sách cuộn vẫn giữ được hào quang của truyền thống và còn được sử dụng một thời gian dài cho các văn kiện trang trọng và chính thức. Người Do Thái vẫn duy trì sách luật Torah của họ dưới dạng sách cuộn.

Người Trung Hoa từng chế ra một loại giấy thô từ năm 105 C.N, khi Thái Luân lần đầu tiên chế ra giấy cho hoàng đế bằng cây dâu, lưới đánh cá và giẻ rách. Những tù binh chiến tranh người Trung Hoa bị người Ả Rập bắt giữ ở Samarkand đã chỉ cho họ nghệ thuật làm giấy. Năm 800, vị giáo chủ lỗi lạc Harun al-Rashid (764-809) đã truyền cho người chế tạo giấy phục vụ ở Baghdad. Rồi nhờ người Ả Rập, giấy được đưa sang Byzance và qua Địa Trung Hải tới Tây Ban Nha, từ đó nó đã lan ra khắp châu Âu. Ngay cả trước khi có máy in, các thủ bản viết trên giấy cũng không phải hiếm và đã có những nhà máy giấy ở Tây Ban Nha, Ý, Pháp và Đức. Nhưng thời đó giấy vẫn được di chuyển dưới tên gọi cũ là giấy cói.

Trích: Những phát hiện về vạn vật và con người (VE)


Xem online : Sáng chế giấy sợi