LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Trang nhà > Nhân văn > Hồi tưởng > TÂM TÌNH NGƯỜI ĐI B (kỳ 1)

TÂM TÌNH NGƯỜI ĐI B (kỳ 1)

Thứ Sáu 19, Tháng Hai 2010

Tháng Sáu mùa hè năm 1965, nóng khủng khiếp. Lúc đó tôi đang là giáo viên dạy Sinh vật trường phổ thông cấp 3 huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Nhiệt độ ngoài trời ở đây có hôm lên đến 45 độ, đường nhựa mới rải ở thị xã chảy thành từng đám nhão nhoẹt, vết xe hằn trên đường; những thửa ruộng mới cày, đất vỡ ra dưới cái nắng chói chang, loá mắt.

Tôi về Hà Nội thăm cha già mới được hai hôm, thì có điện của trường gọi xuống tập quân sự. Trường vừa mới thành lập trung đội tự vệ, gồm các giáo viên dưới 45 tuổi, xuất thân thành phần cơ bản, như công nhân, nông dân, trí thức cách mạng, hoặc cán bộ Đảng viên. Nếu ai thuộc thành phần “lang bang” như, công chức lưu dung (là những công chức thời Pháp tạm chiếm, mà ta vẫn giữ lại dùng) hoặc quan lại chế độ cũ thì dù có là Đoàn viên thanh niên Lao Động, là giáo viên tiên tiến, xuất sắc chăng nữa, cũng nhất quyết không được vào tự vệ cầm súng chiến đấu. Đủ biết đường lối chuyên chính vô sản và chủ nghĩa thành phần ở ta độc đáo như thế nào. Nó chỉ có ở Trung Quốc, Cu Ba và Bắc Triều tiên nữa thôi. Nghe nói Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu, họ thoáng hơn. Lại nhớ dạo ấy tôi có cô bạn là giáo viên dạy giỏi, Đoàn viên thanh niên ưu tú, lao động tiên tiến bốn năm liền, cô được cả tỉnh biết tên và quý trọng. Vậy mà cô không được vào đội tự vệ, chỉ vì có cha là Thư Kí Kho bạc thành phố Hà Nội thời tạm chiếm. Mỗi lần gặp nhau nói chuyện, chỉ được dăm câu cô đã ôm mặt khóc thút thít vì nhục, vì tủi thân, cô bảo tôi “Mình rất ngượng khi lên lớp giảng bài, cứ thấy các em học sinh không nghe lời cô mà chỉ thì thầm bàn tán to nhỏ rồi cười sau lưng mình. Chắc là chuyện đội viên tự vệ thôi, buồn lắm, cậu ạ, có cách nào giúp mình với?”… Tôi đem việc này bàn cùng thày Hiệu trưởng là anh Đỗ Đoàn, anh lắc đầu: “Chớ, chớ; đó là nguyên tắc, đừng có động vào. Cụ nhà cậu mà chưa vào Đảng, cậu còn khươn ma tươi mới được phát súng nhá. Rõ là ốc chẳng mang nổi mình ốc, còn đòi làm cọc cho rêu …”.

Từ ngày 5 tháng 8 năm 1964, sau trận oanh tạc đầu tiên của không quân Mỹ xuống vùng mỏ Quảng Ninh, chiến tranh bắt đầu lan ra khắp miền duyên hải, từ Móng Cái tới Cửa Tùng. Ở cửa biển Lạch Trường (Thanh Hoá) và giới tuyến quân sự Vĩnh Linh, ngoài không quân ra, Mỹ còn cho tàu chiến đậu ngoài Biển Đông nã pháo hạng nặng vào các làng quê thanh bình của ta.(Chẳng hạn: chiến hạm New Jersey thuộc hạm đội 7 của Mỹ dài 125 m, rộng 35 m, trang bị 9 hải pháo 406 li, 18 hải pháo 303 li, 20 đại bác 127 li, 94 đại bác liên thanh cỡ nòng 20, 30, 40 li, mỗi viên đạn hải pháo 406 li nặng 862 kg, bay xa 39 km, mỗi viên hải pháo 303 li nặng 400 kg, bay xa 30 km. Chiếc tàu tuần dương lớn nhất hạm đội 7 này thường xuyên lảng vảng ngoài khơi, bắn phá các tỉnh khu Bốn, mãi đến năm 1968, nó mới về hưu). Trường tôi cách biển chỉ 3 km, đạp xe loáng cái đã đến bãi tắm Đồng Châu là có thể thưởng thức món cá khoai, tôm vàng, rất ngon, và rẻ. Vậy mà bây giờ về Đồng Châu, thay cho khách tắm, chỉ là những chiếc xe phủ bạt kín mít, đêm đêm chở vật tư để xây trận địa phòng thủ, đề phòng quân địch đổ bộ (mà cũng không có chuyện này, vì nghe nói Trung Quốc đã cảnh cáo Mỹ: “không được cho quân vượt qua vĩ tuyến 17”. Sau chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) Mỹ sợ nhất là giáp mặt bộ binh Trung Quốc dùng chiến thuật biển người, nên ta thấy suốt 20 năm chiến tranh Việt Nam (1955-1975) không có tên lính Mỹ nào bước qua cầu Hiền Lương ra Miền Bắc dạo chơi, mặc dù là họ rất muốn.

Thực ra nói chiến tranh không quân của Mỹ bắt đầu từ mồng 5 tháng 8 năm 1964 là lấy cái mốc trận không kích lớn nhất của Mỹ xuống miền Bắc nước ta tại Quảng Ninh, vào sáng mồng 5 tháng 8 năm 1964 mà thôi. Trận này ta hạ 08 máy bay, bắt sống 01 phi công Mỹ. Chứ thực ra, ngay từ ngày 11 tháng 8 năm 1963 (trước đó 1 năm) đã có 2 máy bay phản lực RF101 của Mỹ đột nhập không phận Hà Nội rồi. Nhưng chúng chỉ bay thăm dò khả năng phòng không và trực chiến của ta chứ không bắn phá. Chúng chọn Hà Nội, là nơi ta có lưới lửa cao xạ mạnh nhất và ở sâu trong đất liền, để thí nghiệm đòn đột kích đầu tiên, sau 10 năm miền Bắc được sống trong hoà bình (hú vía, hôm ấy chúng mà cắt bom, không hiểu chuyện gì sẽ xảy ra cho Thủ Đô ta đây?)

Lần đó, cả 3 trung đoàn cao xạ hạng nặng của ta (24 khẩu) bảo vệ quanh Hà Nội đã kịp thời nổ súng (tức cao xạ 100 li, tầm bắn 30 nghìn mét, gọi là đại cao, trận địa gần nhà tôi nhất là pháo đài Láng, có 3 khẩu). Nhưng tiếc rằng đạn chỉ bay lên trời mà chẳng hạ được chiếc nào. Nghe nói vì các đài ra-đa của ta đều mất cảnh giác, không theo dõi 24/24 bầu trời, không bắt được mục tiêu ngay từ khi chúng xuất kích ngoài biển Đông. Kết quả là 45 viên đạn mất hút vào trời thu Hà Nội (giá tiền mỗi viên đạn đại cao đủ nuôi sống một gia đình trung nông trong một năm). Đúng như lời Hồ Chủ Tịch nói với thiếu tướng Phùng Thế Tài (lúc ấy là Tư lệnh quân chủng phòng không, không quân) ngay hôm sau: “Bác nghe nói hôm qua, chú cho anh em bắn lên trời 45 viên đạn đại cao, thế có được con chim nào đem biếu Bác không?”

…Tệ hơn nữa, ngay trong tháng 7 năm 1964 (chỉ cách trận mồng 5 tháng 8 một tháng), máy bay AD6 và T28 của Mỹ, sơn cờ nước Lào, đã dội bom đồn biên phòng Nậm Cắn (tây Quảng Bình) và huyện lị Kỳ Anh (Nghệ An) rồi….Tại sao chúng đánh phá vùng này ngay từ năm 1964? Bởi vì từ giữa năm 1961 (cách đó 3 năm) ta đã điều trung đoàn 101, thuộc sư đoàn 325 (sư đoàn chủ lực của Bình - Trị - Thiên, tập kết ra Bắc, lúc ấy đang đóng quân tại Đồng Hới, Quảng Bình) tiến quân thần tốc sang Lào, qua đường chiến lược làng Ho – Cù Bai, rồi vượt biên giới ở Nậm Oát, đánh úp đồn Nà Khoỏng thuộc huyện Sê Pôn, tỉnh Xa Vản Nà Khẹt của Lào. Ta gải phóng một vùng rộng lớn thuộc trung Lào, chạy dọc theo quốc lộ 9 và quốc lộ 12, từ cửa khẩu Lao Bảo tới tận phía Đông Mường Pha Lan. Trận này ta thắng giòn giã: thu được 10 xe vận tải GMC, 4 khẩu đại bác 105 li, 50 tấn gạo, 50 tấn muối, cùng nhiều quân trang quân dụng khác. Trận đánh này đã gây chấn động cuộc chiến Đông Dương lúc đó, trước khi hiệp định Duy-rich (Thụy Sĩ) về nền trung lập của nước Lào có hiệu lực thi hành. Nên Mỹ mới cho máy bay dội bom để trả đũa cuộc tấn công của ta suốt từ đầu năm 1961 đến hết năm 1962, giải phóng hơn nửa nước Lào, uy hiếp thủ đô Viên Chăn, khiến thủ tướng phái hữu Lào là Phủi Xa Na Ni Con phải cho vợ con chạy sang Thái Lan. Cả nước Lào hoang mang, run sợ trước đòn đột kích táo bạo của quân đội nhân dân Việt Nam lúc ấy mới đang tiến lên chính quy hiện đại, chứ chưa phải đã là quân chính quy hiện đại, như quân lực Việt Nam Cộng Hoà, được Mỹ trang bị vũ khí tối tân: xe tăng, máy bay, tàu chiến, đại bác tầm xa…

Một hôm, tôi đang ngồi soạn bài thì có anh bộ đội đến tìm. Anh trạc 25 tuổi, to cao, mặt chữ điền, da bánh mật, đeo lon trúng úy. Anh ta dựng xe vào giá sắt, miệng oang oang: “Tôi là Quyết Thắng, đại đội trưởng tiểu cao, mới về trận địa phòng không tại Cổ Rồng”.(cao xạ có 3 loại: đại cao 100 li, trung cao 57 li, tiểu cao 37 li). Nói rồi, hắn chỉ tay về phía cái bến sông Lân sâu hun hút cách chỗ tôi ở không xa, nơi ấy đông vui tấp nập, thuyền nâu, bè nứa, mảng tre, người lên bờ, kẻ xuống sông, gọi nhau í ới suốt ngày đêm, nơi mà, vào tháng hè oi bức, không tối nào, tôi không đạp xe ra, ngắm trăng thanh gió mát, mênh mông nước trời… Anh bộ đội mới quen nắm chặt tay tôi, giọng năn nỉ: “Thầy giáo cho tôi nhập đội bóng chuyền trường ta nhé, chơi cho quên ngày, quên tháng mà”. Tôi reo lên: “Giời đất ơi, thế thì còn gì bằng, cậu Tuân - cây đập chủ công của tôi, vừa đi hôm kia; đang thiếu người đây” (phi công Phạm Tuân lúc ấy, là học sinh lớp 10c, do cô giáo Lanh làm chủ nhiệm, Tuân mới được gọi nhập ngũ vào không quân).

Hai chúng tôi uống nước trà với kẹo bột… Thắng tâm sự: “Là trai thời loạn, chẳng trước thì sau, đi lính tuốt cả thôi. Thầy là giáo viên, cứ việc “gõ đầu trẻ” hết đời, chả như tôi, nay đây mai đó, không chừng có lệnh gọi đi B lúc nào cũng không hay…”. Thấy nói đi B, tôi vờ hỏi: “Đi B ư? B là đâu?” Thắng đặt chén nước xuống, giọng ngạc nhiên: “Còn đâu nữa? Đi B, là đi Nam đánh Mỹ, còn đi C, là đi Lào đánh phỉ Vàng Pao, thầy không biết ư?... À này thầy, nó mới đổ 50 ngàn quân Mỹ vào cảng Đà Nẵng sáng qua đấy, đài ta kêu um cả lên, chết thật, việc động trời mà thầy vẫn ngồi đây kẹo bột với trà Hồng Đào”. Tôi cười lớn: “Thôi mà, từ từ, để tôi xem nào”, rồi giơ tay với cuốn “Chống xâm lăng” của nhà sử học Trần Văn Giàu, lật trang 73, quay sang Thắng: “Thế là sau 107 năm, Đà Nẵng của ta lại đón một anh mắt xanh, mũi lõ thứ hai nữa, thật đen đủi…”. Quyết Thắng chăm chú nhìn tôi: “Thế cái thằng thứ nhất là thằng nào, hở thầy?”

“Thằng ấy là thằng Pháp.” Rồi tôi đọc cho Thắng nghe một đoạn:

“Ngày 31 tháng 8 năm 1858, hạm đội hải quân Pháp gồm 14 tầu chiến, nã đại bác suốt ba ngày hai đêm vào Đà nẵng, rồi cho 3000 lính Pháp và Tây Ban Nha xung phong đánh chiếm Cửa Đại, bao vây Huế suốt 3 tháng. Triều đình nhà Nguyễn dù giữ được kinh thành (may có tướng Nguyễn tri Phương chỉ huy mười nghìn quân Cấm Vệ và 30 nghìn dân binh bám đánh suốt ngày đêm.) song vẫn phải nhượng bộ, để chúng vào buôn bán tự do, không thu thuế. Ba tháng sau, chúng rút số quân này vào Nam Kỳ tính chuyện lâu dài. Ngày 7-2-1861, hạm đội Pháp gồm 10 tầu chiến và 1000 quân đóng tại Sài Gòn bất ngờ tấn công đồn Chí Hoà lớn nhất của ta lúc ấy. Quân ta thảm bại: hơn 10000 binh sĩ chết và bị thương. Tán Lí Quân Vụ Nguyễn Duy (em ruột Nguyễn Tri Phương) cùng Tham Tán Phạm thế Hiển hi sinh tại trận. Nguyễn Tri Phương trọng thương, chạy về Bình Thuận, triều đình Huế buộc phải cắt lần lượt 3 tỉnh Miền Đông và 3 tỉnh Miền Tây Nam Bộ cho chúng làm đất nhượng địa (nhượng là cho; 6 tỉnh của Nam Bộ gồm: Gia Định, Biên Hoà, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên ). Cứ thế, theo kiểu vết dầu
loang, thực dân Pháp đã gặm dần hết toàn Nam Bộ từ 1861 đến 1863, và đến năm 1873, (mười năm sau), chúng điều 2 pháo hạm, 200 quân, đi theo sông Hồng, tấn công Hà Nội lần thứ nhất. 12000 quân ta không giữ nổi thành, Tổng đốc Nguyễn Tri Phương lại bị thương nặng, con trai tử trận, Hà Nội thất thủ. Để bảo toàn danh dự, Cụ không cho giặc băng bó, tuyệt thực, tìm đến cái chết trong vinh quang, giữ trọn lòng son. Chưa thoả cơn khát thực dân, 9 năm sau, năm 1882 quân Pháp lại đem 4 tàu chiến, 300 thủy binh, 4 đại bác, phối hợp với 1200 lính Việt gian từ Ô Cầu Giấy kéo sang, đánh chiếm Hà Nội lần thứ 2. Tổng đốc Hoàng Diệu (người Quảng Nam), chỉ huy 8000 quân triều đình, 15.000 dân binh, 12 thớt voi chiến, 80 khẩu thần công, chống cự được nửa ngày thì bại trận sau khi kho thuốc súng bị bốc cháy. Cụ bình tĩnh vào trướng viết biểu tạ tội dâng vua Tự Đức, rồi treo cổ tự vẫn trên cây đa trong Thành Nội (cây đa ấy, bây giờ vẫn còn, vết đạn đại bác của Pháp từ Sông Hồng nã vào, nay vẫn hằn sâu trên tường thành Cửa Bắc). Từ đó, nước ta bắt đầu kỉ nguyên nô lệ. Năm 1884, bằng Hiệp Ước Giáp Thân ký tại Pa-ri, toàn bộ nước ta rơi vào tay giặc Pháp. Như thế tính từ năm 1858 đến năm 1945, khi dân ta rũ được ách đô hộ bằng cuộc Cách mạng Tháng Tám, nước Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp đúng 87 năm.”

Nghe tôi đọc lại lịch sử u buồn của nước nhà, Thắng lẩm bẩm: “Thảo nào ta hay nói 80 năm đô hộ của thực dân Pháp, thầy giáo được học có khác, cứ vanh vách, thông văn tự…”. Nhìn chén nước của Thắng đã nguội, tôi bảo: “Uống nước đi, tôi đọc trong sách ấy mà, tài giỏi gì đâu, thế bao giờ thì đi B?” “ Sắp rồi, thầy giáo ạ” (ở vùng quê Thái Bình, bà con hay gọi là thầy giáo, chứ Hà Nội quê tôi, họ chỉ gọi mỗi chữ thầy, chắc quê Thắng ở gần đây thôi). Thắng tiếp lời: “Tôi đi rồi, thầy giáo ở lại lấy vợ, đẻ thật nhiều con vào, thay phần tôi nhé.” Tôi cười: “Ấy! Rồi gặp nhau ở B lúc nào không chừng”. Thắng nắm lấy tay tôi: “Thầy giáo khéo động viên anh em, thôi, tôi xin phép về đơn vị, sắp giao ca rồi.” Thắng dắt xe đi, rắn rỏi trong bộ quân phục mùa hè bạc phếch, chiếc mũ cối đính sao đã cũ, đôi dép cao su mòn vẹt, chân bước vững chãi, dáng người cao lớn. Nhìn Thắng tôi mỉm cười, vì lúc này trong túi áo tôi, đã có mảnh giấy nhỏ ghi vẻn vẹn mấy dòng chữ:

“Ty Giáo dục Thái Bình kính gửi thầy Nguyễn Hải Bật, giáo viên trường phổ thông cấp 3 Tiền Hải. Chúng tôi trân trọng kính mời thầy vào 7 giờ 30 sáng ngày 20 tháng 8, 1965, đến hội trường Ty để khám sức khoẻ chuẩn bị đi công tác đặc biệt. Khi đi nhớ đem theo áo mưa và tem gạo cho một ngày ăn, kí tên: Nguyễn Quang Thường – Trưởng Ty”

Còn nhớ hồi đầu hè, một hôm tôi đang ngắm đoàn bộ đội toàn lính trẻ, quân phục, vũ khí mới tinh, đi qua trước cổng trường, họ đi rời rạc, uể oải (chắc là mệt lắm) trên con đường đá dăm, chạy từ thị trấn Tây An (huyện lị Tiền Hải) ra thôn Đông Cơ, xã Đông Lâm, ngoài bãi tắm Đồng Châu dưới cái nắng mờ mắt, bụi bốc vàng trời… Nhìn họ, lòng tôi bỗng nao nao nhớ câu hát thuở nào, hồi kháng chiến chống Pháp: “Đoàn quân đi dưới nắng gắt gao, mình đẫm mồ hôi, thép súng say đời, vai nặng trữu căm thù, lòng sôi…”.“Đoàn quân đi thấp thoáng trong đêm không một vì sao, uốn khúc đường đèo, mưa tuôn rừng sâu”…. Rồi kết thúc bằng câu: “Hẹn ngày mai chiến thắng chớ quên đường về làng xưa, em vẫn mong chờ, đến ngày ấy đôi ta cùng mơ”…

Thật lãng mạn biết bao… Bài hát mang tên: Đoàn quân đi, sáng tác của nhạc sĩ Việt Lang (1948) thưở ấy rất được ưa chuộng, tôi được nghe chị gái mình hát nhiều lần, nên thuộc lòng. Nhìn đoàn bộ đội đi trong cát bụi, tôi bỗng nhớ một kỷ niệm:

Ngày ấy – cách đây đã 16 năm (1949), nhà tôi cũng ở bên cạnh con đường đá dăm chạy từ trường lục quân Trần Quốc Tuấn ra thị trấn Phúc Trừu, thuộc huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên (bây giờ nền trường Lục Quân cũ là nhà máy Đi-ê-zen Sông Công). Chiều chiều, cũng có đoàn bộ đội đủ mọi lứa tuổi, đi tập xong, hành quân về trường, họ cũng lặng lẽ đi trong bóng hoàng hôn, áo quần vá víu, đầu đội mũ nan, lưng đeo ba lô gài lá ngụy trang, vai vác súng dài cũ kĩ, đủ kiểu, trong bụi vàng mờ mịt như hôm nay. Chỉ có điều, họ không hề rời rạc và mệt mỏi, mà vừa đi theo đội ngũ chỉnh tề, vừa hát vang bài ca hùng tráng, mà tôi vẫn còn nhớ: “Nhìn ngàn đám mây che mịt mù bầu trời, nhìn lớp lớp sóng người, nhìn muôn phương xa vời, nhìn gió, gió cuốn bay, đi muôn nơi…”. Đó là bài hát “Hành khúc lục quân Trần Quốc Tuấn” do nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sáng tác, mà bây giờ trong các lễ duyệt binh của ta dàn kèn đồng quân nhạc vẫn hay trình diễn, tiết tấu hùng hồn, rộn rã lòng người. Vậy có điều gì khác nhau giữa người lính chống Pháp oai hùng năm xưa và người lính sắp lên đường đánh Mỹ mệt mỏi hôm nay đây?

Tôi đang bồi hồi nhớ lại thời còn thơ dại ở Thái Nguyên, khi mới mười tuổi đầu và băn khoăn với câu hỏi trên, thì bỗng đâu có tiếng đạn nổ ngay trên không, mảnh rơi rào rào, ai nấy chạy tán loạn. Tôi bàng hoàng chưa hiểu chuyện gì đã xảy ra thì thấy 5 chiếc máy bay phản lực Mỹ màu cánh bạc, hình cái vỉ ruồi, vút qua bầu trời, lao về phía thành phố Nam Định. Nó bay theo đội hình chữ V, khá thấp. Từ trường tôi muốn sang Nam Định phải đi 30 km theo đường 39 về thị xã, rồi đi tiếp 20 km nữa theo đường 10, qua phà Tân Đệ mới tới nơi. Nhưng đứng ở đây nhìn sang bên ấy thấy rất rõ khói đen bốc lên trời, nghe rõ cả tiếng nổ rền vang nữa, chứng tỏ đường chim bay sang đó khá gần. Bờ biển Tiền Hải nối sang Nam Định có hình vòng thúng. Tiền Hải là một huyện lớn nằm về phía Đông Nam của tỉnh Thái Bình, ba mặt là biển, nó ở nơi tận cùng của con sông Hồng lớn và dài nhất miền Bắc. Nếu ta đứng ở kè biển Giao Thủy gần cửa sông Ba Lạt thuộc vùng Cồn Đen, Nam Định, nhìn sang đất Tiền Hải, thì biển chỗ này lõm vào hình chữ C. Tiền Hải và Nam Định ở đúng hai đầu chữ C, nên đường chim bay sang đó, đâu có là bao?

Tiền Hải là vùng đất phì nhiêu, được đoạn cuối của ba con sông bồi dắp phù sa màu mỡ: đó là sông Hồng, sông Lân và sông Trà Lý. Vì thế đồng ruộng ở đây tươi tốt, canh tác thuần lúa nước, sản vật dồi dào, khung cảnh thật nên thơ. Ai đến đây cũng phải bàng hoàng trước không gian bao la của vùng châu thổ thẳng cánh cò bay, mới hơn trăm tuổi. Tiền Hải được cụ Nguyễn Công Trứ cho dân binh khai hoang, lấn biển mà nên, cùng lúc với huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình, do đó người ta gọi cụ là: Cụ Sứ (Dinh điền sứ), tức sứ thần trông coi việc khẩn hoang, .

Tiền Hải chẳng những giàu có mà còn là huyện có truyền thống cách mạng quật cường vào loại nhất đồng bằng Bắc Bộ, chỉ sau Xô Viết Nghệ Tĩnh. Chính tại đây, ngày 14 tháng 10 năm 1930, nông dân ba làng Đông Cao, Thanh Giám, Nho Lâm, thuộc xã Đông Lâm, đã kéo nhau về huyện đường đấu tranh, đòi xoá bỏ việc bắt muối, bắt phu, ủng hộ công nông Nghệ Tĩnh, ủng hộ Liên bang Xô Viết (Huyện Đường ở Tây An, tức làng Trình Phố, quê ông trung tướng Hoàng văn Thái).

Cuộc đấu tranh này đã bị địch đàn áp khốc liệt. Tổng đốc Thái Bình lúc đó là Vi Văn Định phái một tiểu đoàn bảo an từ thị xã kéo về, cùng với chánh mật thám Sô-đa (người Pháp) và thanh tra Ri-gân (gốc Ý) chỉ huy quân hiến binh, bắn xả vào đoàn người tay không, làm sáu người chết, muời ba người trọng thuơng, bắt đi sáu mươi người, triệt hạ cả ba làng, đốt 17 nóc nhà. Sau một thời gian giam cầm tra tấn dã man, Vi Văn Đinh mở phiên toà đại hình tại thị xã xử 72 đồng chí của ta với án phạt 370 năm tù. Cuộc đấu tranh lưu huyết Tiền Hải nổ ra ngày 14 tháng 10 năm 1930 trùng với ngày trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Hồng Công (Trung Quốc), quyết định thành lập tổng hội nông dân Việt Nam, nên ngày 14 tháng 10 được chọn là ngày truyền thống của giai cấp nông dân Việt Nam, câu ca ngày ấy nay vẫn còn lưu truyền cho các thế hệ con cháu Tiền Hải, đến muôn đời:

“Trai gái một lòng non với nuớc

Tiếng thơm muôn thuở thác như còn”

Được dạy học ở đây là một dịp may lớn cho tôi. Bởi vậy vào những ngày nghỉ, tôi thuờng ra Đông Lâm thăm đình làng, nơi cất giữ chiếc trống cái đã phát lên tiếng trống hiệu lệnh đầu tiên của cuộc đấu tranh oanh liệt ấy, gọi là “tiếng trống năm ba mươi”. Thú vị nhất là được nghe cụ Đính, ngừời tham gia cuộc biểu tình, kể lại chuyện ngày xưa. Đặc biệt là chuyện liệt sĩ Sản tự mổ bụng mình rồi lôi ruột ra cho đồng bào khiêng lên huyện đấu tranh. Tôi có hỏi cụ Đính về chuyện này thì cụ chỉ lắc đầu cuời: “Tôi cũng chỉ nghe người ta đồn vậy thôi, chứ có thấy anh Sản bao giờ đâu. Năm 1945, khi tôi hết hạn tù Côn Đảo trở về, gặp số bạn cũ có hỏi thì họ đều lắc đầu, thầy giáo nhắc lại chuyện ấy làm gì, nó lâu rồi, đến nay đã hơn 30 năm, ai còn nhớ nữa, mà gợi lại, cũng chỉ tổ gây tranh cãi thôi.”

Tiền Hải giàu truyền thống cách mạng, nhiều lúa gạo tôm cá, nhưng khi tôi dạy học ở đây thì lúc nào cũng chỉ thấy đói, thấy nghèo, đến nỗi học sinh tôi đi học chỉ có bộ quần áo nâu, đi chân không, em nào sang lắm thì có thêm chiếc áo sơ mi vải mậu dịch, chỉ mặc vào dịp khai giảng và bế giảng, các em gái thì quần đen áo nâu màu gụ, chân còn đi được đôi guốc mộc, hơn các em nam. Ngay Phạm Tuân, cao lớn đẹp trai mà đi học cũng chỉ đánh bộ nâu sồng mộc mạc, nhưng lại rất lễ phép, rất người lớn. Mỗi chiều thứ bảy, nhìn các em hối hả đi về, em nào cũng đi bộ, xe đạp đâu, giày dép đâu? Để rồi đến chiều chủ nhật lại tất bật lên chỗ trọ cho kịp buổi chào cờ thứ Hai, em nào cũng vội vã, em nào trên đầu cũng đội một bó rơm dùng để nấu cơm. Cũng may là hồi ấy ở trọ không mất tiền, cứ như bây giờ, có lẽ các em bỏ học hết. Buổi tối nào tôi cũng xuống khu trọ leo lét ánh đèn dầu, thăm học sinh, khi hỏi các em ăn cơm với gì, thì được biết ngoài cơm độn khoai ra, món ăn độc nhất là dưa cải chấm mắm cáy vào mùa đông, còn mùa hè, là rau muống luộc chấm tuơng. Chỉ có ngày chủ nhật về nhà với mẹ là biết mùi con tôm con tép. Bao nhiêu thịt lợn, bao nhiêu
cá tươi, là của hợp tác xã … Vậy thì chất xám đâu để mà học? Lại còn vướng cái nợ đóng tiền xây dựng trường nữa, tuy chỉ 5 đồng một học kì thôi, nhưng với gia đình các em là khoản tiền lớn, bởi vì chỉ một đồng, các em đã mua được số rơm đun trong một tháng. Ngay tôi hồi đó, luơng tháng là năm muơi lăm đồng, hai hào, năm xu, riêng tiền ăn là mừơi tám đồng, lặt vặt hai đồng nữa, là hai mươi đồng, còn ba mươi đồng, thì quà sáng hết muời đồng, hai muơi đồng còn lại, để sau khi soạn bài đêm phải bồi duỡng bằng khoai, sắn. Cảm giác thuờng xuyên của tôi hồi đó chỉ là một chữ: “Đói”… Lúc nào cũng đói, tháng nào hết tiền tháng ấy, không một xu để dành, đến nỗi không dám lấy vợ, vì lấy gì mà nuôi vợ con… Mỗi dịp hè về thăm nhà ở Hà Nội thì quà biếu duy nhất cho cha mẹ chỉ là chai nước mắm Quang Lang, chai mỡ nước, vài con tôm khô, những thứ mà Hà nội rất hiếm và đắt… Thầy còn thế, thử hỏi học trò ra sao? Vậy mà lên lớp, lúc nào cũng phải nói với các em: hợp tác xã là tế bào của nông nghiệp Việt Nam, ai không vào là có tội với Đảng, thực ra lại là:

“Mỗi người làm việc bằng hai

Để ông chủ nhiệm mua đài mua xe”

Đài ở đây cũng chỉ là đài “Xiong Mao” của Trung Quốc, vừa nghe vừa lắc, nếu không nói thì đập cho một cái là phải nói, còn xe, là xe đạp Thống Nhất do ta làm, cứ lên xe, là coi chừng tụt xích, nếu chưa bơm căng thì cẩn thận lốp vỡ.

Truờng tôi nằm cạnh con đuờng Cái chạy về Đồng Châu. Ra đường, rẽ tay phải một cây số là tới thôn An Ninh, xã Tây An, quê hương trung tướng Hoàng Văn Thái, ngày xưa gọi là làng Trình Phố. Nếu rẽ tay trái một cây số là tới thôn Tây Giang, quê hương thiếu tuớng Trần Độ, ngày xưa gọi là làng Thư Điền. Cả hai làng này đều không có nhà gạch.

Một hôm, tôi ra Tây An chơi, thấy một dãy xe com măng ca và xe con đỗ kín đuờng, nguời đi lại lố nhố, toàn quan lớn, quan bé, lon vàng, quần áo thẳng nếp, ông nào cũng áo bốn túi (tức là sĩ quan) chỉ có mấy anh lính lái xe là áo hai túi mà thôi. Hỏi ra mới biết, hôm nay là đám tang mẹ trung tuớng, thọ tám muơi nhăm tuổi. Người đứng đầu từ Hà Nội về là thượng tướng Văn Tiến Dũng, còn lại là thiếu tướng, đại tá, trung tá, bét cũng là thiếu tá. Ông nào cũng mũ lưỡi trai, quân phục đắt tiền, một vòng hoa to như cái nia đựơc khiêng vào, băng đỏ, chữ vàng ghi rõ: Đại tướng Võ Nguyên Giáp kính viếng hương hồn Cụ. Hôm đó quan khách chỉ vài trăm người thôi, nhưng dân Tiền Hải kéo đến xem thì phải hàng nghìn, chủ yếu xem mặt những ai từ Hà Nội về, về càng nhiều, càng oai, vì Tiền Hải đã sinh ra những hai ông tướng, ở cách nhau chỉ hai cây số.

Nhắc chuyện này, tôi lại nhớ câu dân dã ngày ấy: “Tường Tấn, Tá tạ, Uý Ki lô”. Chả là hồi đó, nguời ta định giá thiên hạ giàu nghèo bằng gạo, chứ không phải bằng vàng, bằng đô như bây giờ.

Nhà tuớng, thì gạo hàng tấn.

Nhà tá, thì gạo hàng tạ.

Nhà úy, thì gạo hàng cân.

Đây là gạo để dành, chứ không phải là gạo ăn hàng ngày đâu, còn dân Tiền Hải thì quanh năm giật gấu vá vai, mùa sau chưa tới, gạo trong bồ đã nhẵn đáy.

Bây giờ nhớ lại sao mà buồn thế. Tiền Hải đất màu mỡ, dân cần cù, nhưng sao lại chỉ có nghèo? Mà so với các huyện khác của tỉnh, Tiền Hải được xếp loại khá đấy, vì sao nhỉ???… Thật không thể trả lời được câu hỏi này, không thể và không thể… các bạn ạ.

Lứa học sinh của tôi ngày đó nay đều đã nghỉ hưu. Các em còn nhớ những buổi đội rơm đi trọ học không? Còn nhớ bữa cơm độn khoai với mắm cáy dưa cải không? Còn nhớ bát tuơng mặn chát và rau muống luộc không? Tôi chắc rằng: - Trung tuớng không quân Phạm Tuân - Phi công vũ trụ Phạm Tuân - Anh hùng quân đội Phạm Tuân chưa thể quên những mùa đông rét buốt, mà trên mình chỉ hai chiếc áo cánh bận đi học? Chưa thể quên những buổi đấu bóng chuyền về, thầy và trò mỗi người bồi dưỡng một đẫn mía, hai quả quýt chua loét?... Nhớ lại càng buồn phải không các bạn? Bây giờ, đã nửa thế kỷ trôi qua mà hình ảnh các em học sinh trường phổ thông cấp ba Tiền Hải ngày đó mỗi lần hiện lên lại khiến nước mắt tôi trào ra, vì các em thiếu thốn mọi đường. Chỉ có điều ai cũng phải công nhận: Các em tuy nghèo nhưng rất ngoan. Các em là lớp học trò “tôn sư trọng đạo” vào loại nhất nhì của Việt Nam, tới tân bây giờ vẫn giữ được truyền thống tốt đẹp ấy. Vì vậy các em rất truởng thành. Nhiều em thành đạt, mà đại diện cho các em chính là Trung tướng Phạm Tuân. Nhưng thôi, bây giờ ta hãy trở lại chuyện trận đánh đang diễn ra, có vẻ ngày một thêm ác liệt …

Lại nói bữa ấy, nó đánh trúng kho xăng dầu của ta, hèn nào cháy dữ quá. Đứng từ bên này nhìn sang Nam Định chỉ thấy một đụn khói cuồn cuộn bốc lên cao. Trong màn khói khổng lồ ấy, những chiếc máy bay màu cánh bạc, thay nhau bổ nhào thẳng đứng, vãi bom xuống cái thành phố tội nghiệp kia. Những tiếng nổ nối nhau dậy đất, từng chùm đạn cao xạ của ta vút lên trời mây, nổ lép bép trên cao, rồi vỡ ra, tròn xoe như những quả bong bóng bay, khói mầu xám trắng. Nhưng lạ thay, nhìn mãi, nhìn mãi, cũng chẳng thấy chiếc máy bay nào bị rơi, chỉ thấy khói là khói, bốc lên như cây nấm khổng lồ. Gió thổi, cây nấm ấy ngả sang phía tỉnh Ninh Bình. Còn tiếng nổ chát tai ban nãy làm tôi hết cả hồn, là của một trái đạn cao xạ 37 li, không tìm máy bay Mỹ mà diệt, lại vi vu sang đất Tiền Hải, gọi là “đạn mồ côi” (sau trận bom ấy, khi nghe tôi kể lại, Quyết Thắng đã giải thích như vậy, anh còn bảo trong chiến đấu, chuyện “đạn mồ côi”, chuyện “quân ta hạ quân mình” là bình thường. Thắng còn đùa: “Cũng may cho thầy giáo, hôm đó nó mà sà thấp tí nữa thì thầy đã chẳng còn để khoe chuyện với tôi.” Nói rồi, Thắng cuời hơ hớ).

Như thế là lửa chiến tranh đã lan từ Quảng Ninh qua Hải Phòng tới Nam Định rồi còn gì, chuyện Thái Bình bước vào cuộc chiến chỉ còn là lâu hay mau thôi. Tôi sốt ruột quá, cứ bồn chồn nghĩ: “Nhà mình tám anh em trai, hai bà chị gái, toàn đi công tác, dạy học, có mỗi ông cả đi bộ đội, lại giảng dạy chính trị ở truờng Trung Cao quân sự, đóng giữa Hà Nội, trong khi cả nước đã lên đuờng ra mặt trận. Ngay trường mình đây, một phần ba học sinh đã nhập ngũ, có cả những em con liệt sĩ, con một, cũng xung phong đi. Ngày xưa các cụ thuờng nói “Trai thời loạn, gái thời bình”. Cái thời loạn đó là đây, chứ còn đâu nữa? Nếu mình không nhân dịp này mà chuồn, thì có bạc đầu cũng chẳng thoát kiếp “gõ đầu trẻ”, làm sao trở thành trai thời loạn???”.

Thật cầu được ước thấy, hôm sau, ông hiệu truởng tự nhiên lò dò vào phòng tôi chơi. Tên anh là Đỗ Đoàn, 40 tuổi, quê huyện Kiến Xương, người to béo, mặt tròn, lúc nào cũng toét miệng cuời, ăn mặc thì chúa xuề xoà, đi đâu cũng đội chiếc mũ cói rộng vành, loẹt quẹt đôi dép cao su, không bao giờ có quai hậu.

H.B.

(còn nữa)


Xem online : Kỳ sau