Trang nhà > Nhân văn > Hồi tưởng > TÂM TÌNH NGƯỜI ĐI B (kỳ 3)

TÂM TÌNH NGƯỜI ĐI B (kỳ 3)

Chủ Nhật 7, Tháng Ba 2010

Vì tôi đã học ở Quế Lâm, nên anh Đỗ Đoàn nhận là đệ tử của mình. Bởi vậy, nghe tôi lải nhải chuyện đi bộ đội, anh bảo: “Thôi thế này nhá ; cậu biên chế giáo viên cấp ba, được hoãn nhập ngũ (lúc ấy giáo viên cấp hai vẫn đi nghĩa vụ). Cậu muốn sang quân đội, hơi rắc rối đấy, nếu là cựu binh như tớ, chả phải làm đơn, họ cũng lôi đi, như thầy Cừu ấy, giờ đang ở tỉnh đội Quảng Ninh làm trợ lí chính trị.” (Thầy Cừu là trung úy bộ đội chuyển ngành, về làm hiệu phó trường tôi, vừa được gọi lại quân đội, thầy về chơi, vẫn thấy đeo lon cũ, chẳng lên được sao nào). Anh Đỗ Đoàn nghĩ ngợi một lát rồi đập tay xuống bàn, nói to “Có cách rồi, trên cho tớ biết, Bộ sắp tổ chức một đoàn cán bộ giáo dục khá đông vào Nam phục vụ đồng bào vùng mới giải phóng. Cậu làm đơn xin đi B, rồi vào đó, liệu cơm gắp mắm, tuồn sang quân đội, thế là hay nhất”. Anh uống ngụm nước, rồi thở dài: “Nhưng mà đi B “tiêu chuẩn” khiếp lắm, không biết cậu có qua được hay không? Thôi cứ viết đơn đi, mai tớ lên Ty Giáo dục có việc, viết ngay nhé”. Anh đứng dậy chụp cái mũ cói lên đầu, bước vội ra cửa buồng, tôi vội túm áo anh, chỉ tay vào chỗ cúc quần anh quên gài “Cậu chỉ nhiễu sự, cho nó hóng mát tí, không được à?” Tính anh vốn xởi lởi, bỗ bã, nhưng tác phong thiếu mô phạm, ăn mặc lôi thôi lắm, lại hay uống rượu nữa, nên bị nhiều người không ưa. Nhưng tôi vẫn quý anh, vì tình thầy trò cũ Quế Lâm năm nào…

Không ngờ đơn viết xong mới được nửa tháng, đã có giấy gọi đi khám sức khoẻ, về nghỉ được một tuần, lại có giấy báo, yêu cầu bàn giao công việc, đợi quyết định của Bộ, thật mừng quá, mừng vì sắp được làm Trai Thời Loạn….

Từ hôm nhận thêm giấy triệu tập của Ty Giáo dục, chuẩn bị về thị xã gặp cán bộ tổ chức trung ương để thẩm tra lí lịch, tôi bắt đầu rèn luyện thật lực để chuẩn bị lên đường (vì đã gọi thế, chắc là được rồi, nếu không, họ đã chẳng gửi tới ba, bốn cái giấy?) Tôi đã bàn giao xong chuyên môn, đã thanh toán (dù trong nước mắt) xong với Ngọc. Vậy là cứ năm giờ sáng, tôi chạy một mạch xuống bãi tắm Đồng Châu, hít thở không khí trong lành xong lại chạy về, đúng 6 km. Buổi chiều, tập co tay, xà đơn, xà kép, hít đất, ngày nào cũng tập, mưa tập, nắng tập, chỉ sợ không được đi, như anh Đoàn doạ: “Đi B, tiêu chuẩn khiếp lắm, mày không cẩn thận, bị đuổi về, con Ngọc nó lấy thằng khác, thế là công cốc, nghe chửa?”

Đội bóng chuyền trường tôi từ ngày có Quyết Thắng tham gia, đánh đâu, được đấy, vì lúc này còn đang nghỉ hè nên cứ chơi thoải mái. Một hôm chủ nhật, Thắng đến tôi, anh bảo: “Chả mấy khi được nghỉ cả ngày, hôm nay tôi ở đây chơi với thày, chiều mới phải về cơ”. Sao thế? Thắng buồn bã: “Có người đến thay rồi, chắc là tôi đi B, tôi đã chẳng nói rồi ư”.

Hôm ấy hai anh em tôi tâm sự đủ thứ chuyện trên giời dưới bể, đến trưa, hai đứa nấu cơm ăn với cá rán, canh khoai sọ, rau rút, cua đồng, cà pháo chấm mắm tôm chua. Ăn xong lại trà hồng đào, kẹo lạc. Chợt nhìn thấy cây đàn ghi-ta treo trên tường, Thắng cầm lấy, so giây rồi vừa đàn, vừa hát luôn: “Mây núi rừng thiêng chính khí ca, tinh binh rộn rã trên đường xa…” Giọng Thắng trầm ấm, rất vang. Hát đến đoạn kết: “Mùa xuân đi, không tiếc nữa đời hương, em lòng ơi giữ lấy giấc mơ hường, ai mải miết một đời son với phấn, ta hùng anh, từng hát khúc lên đường” (đây là bài “Chính khí ca”, sáng tác của nhạc sĩ Lương Ngọc Trác năm 1946, lời của Mạc Tuyên, cả hai là chiến sĩ quyết tử quân trung đoàn Thủ đô, chiến đấu trong Liên khu một Hà Nội).

Biết tôi thích nghe những bài hát đã “một thời vang bóng”, Thắng chuyển sang bài “Quay tơ” của Tử Phác: Quay quay, thương nhớ cuốn vào tơ, quay quay, tơ quyến luyến chân chàng, rộn ràng tơ lướt tới người chiến sĩ yêu …Quay quay, thương nhớ luyến vào tơ, quay quay, may áo rét dâng chàng, mỗi một đường tơ là mối dây tình, trong lòng em dâng người hiên ngang”. Những bài hát này, ngày ấy bị cấm, vì họ bảo nội dung ủy mị, không hợp thời, chỉ hát lén lút thôi. Vậy mà Thắng hát say sưa, làm tôi sướng quá. Mãi tối mịt, Thắng mới về….

Sang cuối tháng 8, là đến hẹn về Thị xã, suốt đêm ấy, tôi cứ chập trờn, mới hơn năm giờ, đã dậy dắt xe đi ngay. Lạ thật, vừa ra tới đường cái, đã trông thấy Thắng đứng đợi từ lúc nào. Thắng chìa bàn tay hộ pháp nắm chặt tay tôi, giọng oang oang: “Tôi đi B đây, thày giáo ở lại sớm lấy vợ, đẻ nhiều con giai vào để có người mà đánh Mỹ, nhá”. Rồi Thắng trầm giọng: “Tiếc nhỉ, vừa mới quen nhau, đã phải chia tay rồi, thật là chó chết, thôi, đi nhé, chó chết”….

Lúc bấy giờ, đi B còn bí mật lắm, giấy tờ nào cũng ghi câu: yêu cầu đồng chí tuyệt đối không cho ai biết nội dung. Thành thử tôi đâu dám cho Thắng biết là mình cũng sắp lên đường như cậu ta. Nắm tay Thắng, tôi nhẹ nhàng: “Đừng có rủa thế, biết đâu lại chẳng gặp nhau trong ấy không chừng?” Thắng cười rõ to: “Lại động viên anh em rồi, các thày khéo nói lắm, mà thôi, hay là ta đi với nhau một quãng rồi chia tay thày nhỉ?” Hai anh em tôi cùng sánh đôi, tới chỗ rẽ về Cổ Rồng, Thắng bắt tay tôi lần nữa rồi mất hút, chỉ còn loang loáng cái bóng to, cao, đang hùng hục đạp xe về bến sông Lân, nơi lưu dấu biết bao kỉ niệm đời tôi, nơi tôi và Ngọc đã từng thề thốt, nơi tôi sẽ vĩnh viễn không bao giờ trở lại, nếu được lên đường…

Mặt trời đứng bóng thì tôi tới hội trường Ủy ban Hành chính thị xã Thái Bình. (đạp xe 29km mà chẳng thấy mỏi chân) Bước vào phòng họp, đã thấy cả trăm người ngồi chờ ngoài hành lang, nét mặt ai cũng lộ vẻ lo lắng. Trong phòng, dưới cờ tổ quốc và cờ Đảng, kê một cái bàn to. Ngồi sau bàn là một người to béo, đầu hói, đeo kính lão, trên bàn là bộ ấm chén và bao thuốc lá Điện biên bao bạc (vào loại sang lúc ấy). Nghe ông gọi tên mình, tôi bước vào, ông lạnh lùng bắt tay mời ngồi rồi hỏi luôn: “Sao đồng chí vào Đoàn muộn thế? (tôi mới kết nạp Đoàn năm 1964) ham chơi à?”

Tôi thành thực: “Báo cáo anh, tôi không được yêu nghề cho lắm, thành thử chỉ mê thể thao, ngày nghỉ, thường đi săn, hoặc về các làng quê chơi, vì thế Tổ Chức đánh giá tôi kém phấn đấu, có thế thôi ạ”…

Ông cán bộ gật đầu tỏ vẻ đồng tình và thích thú trước sự thành khẩn của tôi. “Thế cô Ngọc có đồng ý cho cậu đi B không? Có hứa rằng: em sẽ đợi anh, tới đầu bạc, răng long, khi anh trở về, dù mất tay mất chân không?”

“Báo cáo anh: cô ấy đồng ý rồi ạ, mà đã thuận tình thì việc gì phải hứa chứ?”

Ông to béo cười khùng khục: “Chia tay dễ thế cơ à? Tôi tưởng gay lắm?”

Báo cáo: “Vì tôi quyết tâm đi, nên Ngọc cũng chả làm khác được…” Ông cán bộ nhướng mắt lên: “Thế cô ấy cứ đợi, thì cậu tính sao đây, hả?”

“Thưa anh, tôi chưa thấy ai đi B, mà lại bảo người ta chờ mình trở về. Đó chỉ là trường hợp vợ, hoặc chồng đi B mà thôi. Còn mới yêu nhau, chưa cưới xin, hứa thế nguy hiểm lắm, nhỡ hi sinh thì sao?? Chắc thủ trưởng định thử tôi phải không ạ”

Ông nghiêm mặt: “Tôi không thử, vì đã đi B là chấp nhận rủi ro, nói trắng ra, là hi sinh. Ai mà biết được, ta sẽ hi sinh vào lúc nào? Có khi chưa đi đã hi sinh, có khi hi sinh trên đường hành quân, rồi vào tới cơ quan, chưa nhận công tác đã hi sinh, vừa nhận công tác, được vài ngày, hi sinh. Ngoài ra, nào là bị thương, mất tay, cụt chân, mù mắt, liệt toàn thân, nào là bị địch bắt, bị tra tấn, bị nó dùng gái, dùng tiền, mua chuộc, không chịu nổi, thế là đầu hàng giặc, là mất hết, cái này mới đáng sợ… Cho nên đồng chí xác định được như vậy là chính xác đấy. Nên nhớ nơi ta sắp vào là chiến trường rất ác liệt, kẻ địch mà ta phải đối phó là cực kì hùng mạnh và nham hiểm. Tổ Chức không hề muốn giấu các đồng chí đâu, vì có giấu cũng chẳng mang lại điều gì, chỉ tổ làm hại nhau thôi, phải không? Sau này, các đồng chí sẽ trải nghiệm hết, không phải đợi lâu, cứ chờ xem, biết ngay thôi mà.”

Ông rót nước vào chén tôi, giọng nhẹ nhàng: “Tôi biết rõ hoàn cảnh gia đình cậu, lại còn biết cả chuyện ông cụ nhà cậu 15 năm phấn đấu, mãi đến lúc bạc đầu về hưu, nhờ sự bảo lãnh của đồng chí Trường Chinh mới được vào Đảng cơ, một tấm gương kiên trì hiếm có đấy, phải không? Tóm lại, về lí lịch của cậu không đáng lo, chỉ nhắc cậu chú ý rèn thêm tính tổ chức, kỉ luật, cái này mà kém, vào trong ấy nguy hiểm lắm? Đồng ý chứ? Đồng ý, thì về nghỉ ăn cơm, nhớ giữ sức để còn đi, bao giờ nhận được giấy báo thì về ngay Hà nội, nhớ qua ngả Hưng Yên, qua phà Triều Dương cho an toàn, phà Tân Đệ dạo này nó bắt đầu nhòm ngó rồi đấy, chúc may mắn nhé.” Ông đứng dậy, bắt tay tôi thật chặt, tiếp tục gọi tên người khác.

Tôi chạy ra khỏi phòng, chẳng còn để ý đến ai, cứ thế lên xe phóng thẳng về Ty Giáo dục để dùng cơm trưa ở đây. Lúc này, đã có gần hai chục người đang chuyện trò quanh mấy cái bàn, ai cũng mặt mày tươi tỉnh, vì ai cũng chắc mẩm mình đã được đi B.

Bữa cơm hôm ấy ngon quá, lần đầu tiên trong đời làm thày, tôi được ăn cơm nấu bằng gạo Dự, những bốn hào 1 kg (sau này vào năm 1970, anh Trần Việt Phương, sư đoàn trưởng sư đoàn 2, từ đoàn 559 Trường Sơn vào công tác Miền Đông, cho chúng tôi biết: ngay Bác Hồ và thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng chỉ ăn loại gạo Dự này thôi). Thức ăn hôm ấy chỉ nhõn hai món: thịt gà và rau muống luộc, chỉ khác dân đen ở chỗ rau muống chấm nước mắm Cát Hải, rất ngon. Đặc biệt bát thịt gà to tú hụ, toàn đầu, chân, cổ, cánh, xào với gừng thơm phức, ai cũng mê, cũng nhét cho đầy bụng. Anh bạn Văn Kỳ, giáo viên trường phổ thông cấp 3 thị xã Thái Bình, khoe với tôi: “Hôm nay, cánh ta được ăn thịt gà phế phẩm, do nhà máy thịt hộp độc nhất của tỉnh nhà thải ra đấy, vinh dự chưa, các vị? Xin thưa với các ngài nữa rằng: chỉ có các ông, bà cỡ trưởng Ty trở lên, tỉnh ủy viên trở lên, mới được bán cho 1 kg một người một ngày; còn dân ta, thì đừng có hòng. Cả con gà còn lại, giành cho Liên Xô, để đổi lấy máy bay, tên lửa, đại bác v.v, về mà choảng nhau với thằng Mẽo. Đừng tưởng thịt phế phẩm, ai cũng được gặm đâu, ưu tiên cả đấy, vì nó rẻ thối ra mà, có 6 hào 1 kg thôi. Ngay tớ dạy học ở cái thị
xã này năm, sáu năm rồi, hôm nay mới được đớp 2 miếng phao câu, rõ hạnh phúc chưa? Các thày nhà ta…” Rồi Văn Kỳ khoát tay: “Cánh ta mà không đi B, thì mạt đời cũng chả biết thịt gà phế phẩm là mô, tê, răng, rứa… Mô? ha ha, ha ha…Đúng như các cụ xưa dạy: sướng như Quan, khổ như Dân, cấm có sai, ha ha, ha ha”. Mồm Kỳ cứ ngoác ra, có vẻ khoái lắm (trong con gà: đầu, cổ, cánh, chân, có lẽ là ngon nhất.).

Văn Kỳ là giáo viên cấp 3 trường thị xã, tôi là giáo viên cấp 3 trường huyện, cùng 3 bạn giáo viên cấp 2 khác là: Lương Duyên Hí, Nguyễn Hữu Đản, Lê Văn Lương, được cho đi đợt ấy. Sau khi về đến Hà nội còn bổ xung thêm một số bạn là sinh viên Đại học sư phạm, Đại học Tổng hơp người Thái Bình, khiến cho đoàn tỉnh nhà đi năm ấy khá đông, phải tới trên 20 người. Riêng đoàn năm người chúng tôi, sau mười năm kết thúc chiến tranh trở về, còn sống ba, gửi lại Miền Nam hai: Văn Kỳ hi sinh năm 1971 tại Cai Lậy, Mỹ Tho; bị vướng mìn của du kích ta gài (gọi là “ trận địa dây chuối”, du kích mình móc trái nổ vào mê cung trong căn cứ, không theo kịp người dẫn đường, thì dính lựu đạn gài ngay) trong khi chạy càn. Đúng như lời Quyết Thắng: trong chiến tranh, chuyện “Quân ta hạ quân mình” là chuyện thường. Lương Duyên Hí hy sinh năm 1967, tại Cái Bè, Mỹ Tho khi đang trên đường về căn cứ dự hội nghị tổng kêt công tác giáo dục của Tỉnh ủy. Anh bị dính pháo bầy. (Hí lấy vợ được hai tuần thì đi B), thế là đi 5, còn 3, lãi chán? Năm 2006, chúng tôi đã đưa ảnh chụp mộ Văn Kỳ ở nghĩa trang Mĩ Tho về cho em trai anh đang sống ở Gia Lâm, để gia đình vào lo việc hậu sự cho anh. Buồn thay, người em đã từ chối, vì “Không bói đâu ra tiền”. Thôi, thế là đã 38 năm bạn nằm ở trong ấy rồi, Kỳ ơi, bạn hãy ráng nằm cho đến khi nào em bạn kiếm đủ tiền thì hãy về nhé, Kỳ ơi.. À, mà Kỳ ơi… nếu bạn có nhớ bữa cơm chân gà hôm nào hai ta ăn với nhau ở hội trường Ty Giáo dục, thì bạn biết cho rằng: các đại nhân Thái bình ngày nay, họ đã vứt chân, đầu, cổ, cánh gà, vào quá khứ từ lâu rồi; bây giờ đã có cá song, tôm hùm, cua bể, thịt rừng và bia ôm chân dài, họ cần gì nữa. Kỳ ơi, nhắc đến bạn, tôi quên sao được bộ đồ mổ sinh vật 12 dụng cụ mà bạn đã cố mang cho bằng được vào Nam để lên lớp dạy học sinh vùng mới giải phóng mà chưa bao giờ bạn được dùng đến, vì có dân đâu, có trường đâu, có học sinh đâu mà giảng với dạy. Bộ đồ mổ ấy, họ có cho vào huyệt (làm gì có quan tài) cùng với xác bạn không, Văn Kỳ ơi, hay là nó rơi xuống kênh, xuống rạch của sông nước Nam Bộ rồi? Bộ đồ mổ ấy giá những mười đồng Cụ Hồ, bằng mười ngày lương giáo viên cấp ba đấy, bạn tôi ơi…

Ngày 20 tháng 9 năm 1965, hiệu trưởng Đỗ Đoàn vào phòng tôi cùng gói trà Hồng Đào, hai bao Tam Đảo. Anh tự tay bóc thuốc, pha trà, mãi sau mới nói: “Xong rồi, quyết định của Bộ đây, đọc đi.” Tôi vồ lấy tờ giấy mỏng tang, chữ đánh máy nhỏ li ti: phía trên, góc trái ghi:

Bộ Giáo dục, số 692 /QĐ

Hà Nội ngày 15 tháng 9 năm 1965.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục

1. Căn cứ sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950. Ban hành quy chế công chức.

2. Căn cứ nghị định số 198/CP ngày 7/11/1961 của Hội đồng Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Bộ Giáo dục.

3.Căn cứ yêu cầu công tác, theo công văn số 335/TU ngày 13/9/1965 của Ban tổ chức trung ương và, sau khi đã trao đổi, nhất trí với Ủy ban Hành chính tỉnh Thái Bình.

4. Căn cứ đề nghị của ông Vụ trưởng Vụ tổ chức cán bộ Bộ Giáo dục, nay quyết định:

Điều một: Điều động đồng chí Nguyễn Hải Bật, giáo viên bộ môn Sinh, Hoá, trường phổ thông cấp ba huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, đến nhận công tác tại Ban Tổ Chức trung ương.

Điều Hai: Lương và các khoản phụ cấp khác của đồng chí Bật, sẽ do cơ quan mới đài thọ, kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1965.

Điều Ba: Ủy ban hành chính tỉnh Thái Bình, Ty Giáo dục Thái Bình và các ông Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ Tổ Chức Cán bộ Bộ Giáo Dục, chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục đã ký: Nguyễn Văn Huyên.

Nơi nhận: Ban Tổ chức TƯ, UBHC tỉnh Thái Bình, Ty GD Thái Bình, Vụ Kế hoạch tài vụ, Vụ Tổ chức cán bộ, Lưu.

Tôi thừ người ra, chưa hết bàng hoàng vì vui sướng thì anh Đoàn lại đưa thêm ba tờ giấy đánh máy nữa: một là quyết định cắt biên chế của Ty Giáo dục Thái Bình; hai là quyết định công nhận là đối tượng xét kết nạp Đảng của chi bộ trường cấp ba Tiền Hải; ba là giấy mời dự bữa cơm liên hoan chia tay của Ủy ban Hành chính tỉnh Thái Bình, do chủ tịch tỉnh Nguyễn Ngọc Trừu kí. Trong ba giấy này, cái giấy thứ hai là quan trọng nhất. Vì sao nhỉ? Chuyện này khá dài dòng, khá lắt léo đây, kể lại cũng thấy ngượng, nhưng cứ kể nhé.

Tôi tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội tháng 6 năm 1962. Hôm vào truờng nhận bằng, thấy tên mình ở danh sách giáo viên vào dạy trường phổ thông cấp 3 Huỳnh Thúc Kháng, mãi trong Vinh, thành phố của gió Lào, của cực khổ, của xa nhà… như nguời ta vẫn thuờng nói. Tôi bực phát lộn ruột, khi thấy cậu Chu Bá Cuờng, nguời Hoa Kiều, học dốt như con bò, “dân lang bang” (ngoài Đoàn) lại đuợc dạy Hà Nội. Bây giờ sau hơn 40 năm, tôi mới nhận ra một điều là: ngay từ hồi đó, đã có chuyện “chạy chọt” rồi. Thảo nào cái đám sinh viên Hoa Kiều kia, dù học dốt đến mấy, dù là dân “lang bang” (hồi đó nguời ta vẫn gọi như vậy) thì đứa đi xa nhất cũng chỉ đến truờng phổ thông cấp ba Ứng Hoà Hà Đông là cùng…. Vậy mà cứ mỗi lần sinh hoạt lớp, khi ông Mai Phát An là lớp truởng lên thuyết trình, bao giờ ông ta cũng nói: “ Chúng ta là những thanh niên thời đại Hồ Chí Minh, chúng ta phải nghe lời Đảng dạy, tức là sống theo phương châm: Ba bất kì (đi bất kì nơi đâu, làm bất kì việc gì, nhận bất kì sự đãi ngộ nào) thì mấy ông Hoa Kiều đó lại vỗ tay hăng nhất, cổ vũ mạnh nhất “ba cái bất kì đó”. Khiến ai cũng tưởng phen này đi đến những vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn nhất nước, sẽ là những ông này. Thế nhưng khi tôi xem danh sách các bạn về dạy ở Hà nội, toàn thấy Hoa Kiều. Lạ lùng chưa ! Ngày ấy Hà Nội có 5 trường trung học phổ thông là: Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Lý Thường Kiệt, Trưng Vương và Trung học Trung Hoa (phải công nhận người Hoa luôn “khôn” hơn người Việt ta.)

Về nhà tôi nói với cha tôi: “Con không đi Vinh đâu, cứ ở nhà đợi họ gọi đi bộ đội, còn suớng hơn ở trong đấy.” Cha tôi không nói gì, mãi tới giữa tháng 8, nguời đưa tôi một tờ quyết định điều giáo viên Nguyễn Hải Bật về Thái Bình dạy học. Cha bảo: “Có người Nghệ An được phân dạy Thái Bình, lại muốn vào trong Vinh cho gần nhà, họ đánh đổi cho con, về đó được đấy con ạ. Thái Bình là quê lúa, nguời dân thuần hậu, học trò chăm ngoan, là quê huơng nhà bác học Lê Quý Đôn nổi tiếng của nước ta. Con cứ đi đi, rồi sẽ thấy thích.” Nghe lời cha (nguời lúc này đã già đi nhiều), tôi vác ba lô về đây dạy học. Sau một tuần nằm đợi ở Ty Giáo dục, tôi thấy tên mình được điều về truờng phổ thông cấp 3 Thái Ninh mới thành lập (còn gọi là trường Thái Thụy, vì hai huyện Thái Ninh và Thụy Anh lúc ấy, mới có một truờng cấp 3). Anh Hoàn, một bạn tôi về đây từ trước, ghé tai tôi nói nhỏ: “Thái Ninh nghèo lắm mày ơi, toàn đất cát pha, nhiễm mặn, bão gió quanh năm, nguời dân cơm không no, áo chẳng lành, chỉ đuợc cái học sinh rất ngoan, rất chăm học, rất kính trọng lễ phép với thầy, mày đúng là thằng “tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa”. Mày đúng là thằng ngố, đi đâu cũng thế thôi”. Nghe tôi nói chuyện về mấy ông Hoa Kiều học dốt như bò mà đứa nào cũng dạy Hà Nội, anh bảo tôi: “Chúng nó sướng đấy, mà cũng khổ đấy, học sinh Hà Nội chúa là coi thường thầy, mày với tao là học sinh Hà Nội, thì còn lạ gì nữa, mình cứ đi theo phân công của nhà nước, chẳng mất đồng chó nào mà chạy như mấy tướng Hoa Kiều kia, vả lại gia đình chúng mình nghèo, lấy cứt mà chạy à?”. Nghe lời anh Hoàn, tôi vui vẻ vác ba lô về Thái Ninh.

Truờng Phổ thông cấp ba Thái Thụy lúc này nghèo lắm. Cả truờng có mỗi ngôi nhà bé bằng bàn tay làm phòng thí nghiệm, có một ngôi nhà nữa gồm bốn lớp học xây bằng gạch. Còn lại đều là tuờng rơm trộn bùn, mái lợp rạ, ban trưa nằm ngủ, cứ thấy người ngứa rất khó chịu, mặt thì như có mạng nhện dính vào, buồn buồn thật khó tả, mãi sau mới biết, đó là những con bọ từ trên mái nhà đáp xuống, hành hạ mấy ông thầy Hà Nội vì không có tiền chạy, phải đâm đầu vào đây, khổ như…! Đã khổ như vậy, thầy giáo, cô giáo, còn bị hành hạ đủ thứ: ví dụ, thỉnh thoảng huyện lại bắt đi đắp đê chống bão, chiều thứ bảy nào cũng phải xuống hợp tác xã Thái Thủy (là hợp tác xã lớn nhất Thái Bình lúc đó) để khi thì gặt lúa, khi thì trục lúa, khi thì gánh lúa, khi thì mót lúa, cùng “cải tạo tư tuởng” với các ông văn nghệ sĩ từ Hà nội về đây như: nhà văn Tô Hoài, nhà báo Như Phong, nhà viết kịch Lộng Chuơng, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, nhà thơ Hoàng Cầm, và nhà văn mới nổi Hà Minh Tuân… Mấy ông này “cải tạo” ra sao, ai mà biết được, chỉ thấy họ ăn như thần trùng. Cơm ba bữa độc nhất một món: dưa cải muối chua, chấm nước cáy, chẳng bao giờ biết mặt tôm, cua, cá, nó giống con gì, vậy mà vị nào cũng béo tròn béo trục, vì được ăn no cơm gạo mới, được sống ở vùng quê mênh mông bát ngát, không khí trong lành, vì sắp trở thành những con người Xã hội chủ nghĩa, như Đảng ta kêu gọi, hăng lắm…

Tháng 9 năm 1963, họ chuyển tôi về thị xã Thái Bình, dạy môn giải phẫu sinh lí ở trường sư phạm sơ cấp Cầu Bo, ở đây tôi đã quen cô bé Ngọc. Sở dĩ tôi về đây không phải vì cải tạo tiến bộ (tôi vẫn chưa được vào Đoàn) mà chỉ vì mình ở trong đội bóng bàn của Ty Giáo dục Thái Bình, về để tiện luyện tập và đi thi đấu, có khi phải sang Nam Định (dự giải thể thao Hà, Nam, Ninh, Thái)…

Dạy được một năm, trường lại thay đổi, bỏ môn giải phẫu sinh lí, thế là tôi thất nghiệp, lại mò về truờng cấp ba Tiền Hải với anh Đỗ Đoàn, một thầy giáo cũ hồi còn ở Trường Thiếu nhi Việt nam mãi bên Quế Lâm (Trung Quốc). Tính tôi hiếu động, chỉ thích chơi thể thao, chơi bắn chim, chơi đàn hát, chơi tụ tập bạn bè, nên chả được ông hiệu trưởng nào ưa cả. Cái khoản phấn đấu vào Đoàn, rồi lên Đảng, trở thành người lính
tiên phong của nước nhà, chẳng bao giờ tôi nghĩ đến, Cũng may, trước khi rời truờng sư phạm sơ cấp Cầu Bo, họ kịp nhét tôi vào Đoàn, tất nhiên là đi “chuyến tàu vét” vào năm 1964, khiến tôi cũng ngỡ ngàng, không hiểu sao mình lại vào Đoàn nên chưa bao giờ tôi dám đeo huy hiệu đoàn viên lên ngực áo, chỉ dám gài nó trong miệng túi quần (có lẽ thầy giáo mà không phải Đoàn viên chắc là chướng lắm, nên họ đưa tôi vào, mặc dù tôi chưa xứng). Nhưng còn cái khoản phấn đấu lên Đảng thì không bao giờ tôi léo hánh tới, vì nó gập ghềnh, chông gai quá. Muốn vào Đảng, phải nỗ lực mửa mật ra, cái gì cũng phải xung xong gương mẫu, rồi lại qua mấy tấm cửa sắt từ “cảm tình” lên “đối tượng” , mà muốn được hai thứ này, trước hết phải là Đoàn viên ưu tú cái đã, như vậy là ba tấm cửa sắt, phải xuyên thủng nó, mới trở thành Đảng viên. Mà ngay khi trở thành “đối tượng xét kết nạp Đảng” rồi, lại còn phải đầu tầu gương mẫu nữa, ít ra cũng vài năm, khéo lắm may ra mới được. Tôi còn nhớ anh bạn cùng dạy với mình là dân Khu Học xá cũ. Anh là đối tượng Đảng đã hai năm, mà chả thấy họ tỉ tê gì. Anh liền nghĩ ra một kế: một hôm trời nổi giông tố, giữa sân trường là đống cát to như cái mả thằng quan tham, cứ tênh hênh ra, mưa xuống là trôi hết. Cả trường ai cũng mải lo thu vén đồ đạc cá nhân để chạy bão, anh này lẳng lặng kiếm đôi quang thúng, cứ thế oằn lưng gánh suốt từ 3 giờ chiều tới 7h tối, thì chuyển hết đống cát vào nhà kho. Sau đận ấy, anh được kết nạp vào Đảng với cái lưng bị lệch đĩa đệm cột sống. Anh hí hởn chống gậy đi dự lễ kết nạp của mình, cố nở nụ cuời thật tươi, nhưng thỉnh thoảng lại nhăn nhó, vì cái lưng chết tiệt.

Tôi chưa bao giờ hung hăng “xả thân vì cát” như anh bạn kia, lại còn ham chơi nữa, thì đảng viên cái nỗi gì, tôi chỉ thấy làm như anh, nó không thật với lương tâm mình. Nó cứ ngượng ngượng làm sao ấy, hơn nữa ăn đói thế, sức đâu mà gánh, gánh để chết à?

Do đó lần này cầm tờ quyết định của chi bộ truờng nâng tôi lên hàng “đối tượng xét kết nạp Đảng”… tôi cứ thấy bâng khuâng như là đi trên mây, vì niềm vui lớn quá, giáng xuống đầu tôi bất ngờ quá… Anh Đỗ Đoàn bảo: “Chi bộ chúng tớ đã họp và thấy rằng từ khi về đây, ngoài dạy tốt ra, cậu còn rất tích cực tham gia xây dựng phong trào thể thao văn nghệ của truờng, giúp trường ta dự đủ các kì hội diễn, đồng diễn, thi đấu, diễn kịch… nhất là gần đây khi tham gia “quai đê lấn biển” ở xã Thái Đô, cậu liên tục dành danh hiệu “kiện tướng gánh đất”. Thái độ sống với anh em thì chan hoà trung thực, với học trò thì thân mật nghiêm túc. Với một giáo viên như thế, là đủ tiêu chuẩn đi vào diện “cảm tình Đảng” rồi. Bây giờ lại xung phong đi B nữa, để tạo điều kiện cho cậu cống hiến hết mình cho cách mạng, chi bộ quyết định nâng cậu lên “đối tượng kết nạp Đảng” là hợp lí rồi, thường vụ huyện ủy cũng nhất trí, vậy vào trong ấy cậu hãy cố lên, để sớm được đứng trong hàng ngũ tiền phong của giai cấp công nhân Việt nam.”

Vào những năm 60 của thế kỉ 20, việc vào Đảng cũng khó như “cá chép vượt vũ môn”. Trường tôi có ông thầy dạy môn vật lí, tuổi trên 40, tổ trưởng bộ môn Lí Hoá Sinh, là người mẫu mực về đạo đức, xuất sắc về chuyên môn, đồng nghiệp cảm phục anh, học trò kính mến anh, lúc nào anh cũng chan hoà, gương mẫu, đưa tổ bộ môn lên hàng tiên tiến xuất sắc đến 4 năm liền, vậy mà không được kết nạp Đảng. Hỏi chuyện, anh bảo tôi: “Tớ phấn đấu liên tục 10 năm rồi mà chả được, dẫu không năm nào không được bình “lao động tiên tiến”, “giáo viên dạy giỏi”, cậu biết vì sao không? Vì năm 1945, tớ có tham gia vào Đoàn Thanh niên do Đảng Dân chủ Việt nam tổ chức. Do đó, dù chi bộ đưa tớ vào diện cảm tình, nhưng huỵện ủy không chấp thuận. Cậu lí lịch tốt, cố mà phấn đấu lên, còn tớ, cứ coi như là đồ bỏ đi, buồn thối ruột ra, nhưng biết làm sao được, phải đợi bao giờ Đảng thay đổi điều lệ cơ, mới may ra… mà bao giờ, là bao giờ?” Nói xong, anh cười như mếu, lát sau, bỗng ôm mặt, khóc hu hu như con trẻ…

Bởi vậy khi nhận từ tay anh Đoàn tờ quyết định cùng cuốn sổ tay và cây bút máy Hồng Hà, quà tặng của chi bộ trước ngày lên đường đi B (anh chỉ đưa tôi tờ giấy này, khi đã biết chắc chắn tôi có quyết định đi B, nếu không, chưa chắc đâu), tôi bỗng rưng rưng nước mắt vì biết ơn và xúc động quá. Đến giờ, đã qua nửa thế kỉ, tôi vẫn giữ nguyên trong lòng sự biết ơn anh Đoàn và các đồng nghiệp là Đảng viên hồi ấy.

Anh Đỗ Đoàn trao quà xong liền bảo: “Vào trong ấy cố nhé, đừng có “trường kì kháng chiến”, như ông cụ nhà cậu, thì khiếp quá. Ai lại mười lăm năm đeo đuổi, ngày mai về hưu, hôm nay mới được kết nạp mà tuổi đã 60 chứ ít gì, tao chịu cụ mày đấy! Hồi đầu kháng chiến, bọn tao vào Đảng dễ như đi chợ ấy mà… ngay Phạm Tuyên kia, còn đuợc kết nạp nữa là…”

Tôi ngớ người: “Anh Phạm Tuyên làm sao ạ? Anh là bộ đội, học viên lục quân Trần Quốc Tuấn, khó cái nỗi gi cơ chứ” Anh Đoàn tặc lưỡi: “Cậu không biết à? Cha đẻ Phạm Tuyên là cụ Phạm Quỳnh, Thượng thư bộ Học (Giáo dục) triều đình nhà Nguyễn. Năm cách mạng 1945, bị Việt Minh Thừa Thiên bắt, giam ở đồn Mang Cá. Chả hiểu làm sao, khi Tây nhảy dù xuống đồn để cứu đám tù binh Pháp bị Nhật giam tại đây, mấy ông nhà ta sợ quá liền “khử” cụ luôn, cùng lượt với Ngô Đình Khả, Ngô Đình Khôi là cha và anh ruột Ngô Đình Diệm, nghe nói còn đem đầu ba cụ vứt mãi ngoài Cửa Đại, cho cá nó gặm kia; vậy mà Phạm Tuyên vẫn được kết nạp Đảng năm 1948, có sao đâu. Tớ nghe nói, Bác Hồ có lần còn dặn ông Trần Huy Liệu rằng: Cụ Phạm là người của lịch sử, sau này sẽ được lịch sử đánh giá lại. Bây giờ, các con cháu Cụ cứ vững tâm đi theo cách mạng... Bởi thế ba anh con trai Cụ Phạm là bác sĩ Phạm Khuê, nhạc sĩ Phạm Tuyên, nhạc sĩ Phạm Vinh đều trở thành cán bộ, đảng viên có uy tín của ta. Còn cụ nhà cậu suốt đời dạy học, xuất thân chí sĩ yêu nước (ông nội tôi là cử nhân Nguyễn Hữu Cầu, một trong 7 người sáng lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục Hà Nội ), cụ lại từng đi kháng chiến, sao lại khổ thế, hả, có vướng cái chết tiệt gì không?” Cái chết tiệt thì tôi chẳng biết, chỉ biết cha mình phấn đấu vào Đảng từ năm 1945 đến năm 1960 thì được kết nạp, cuối năm ấy trên cho về hưu.

Cha tôi sinh năm 1900. Lên 5 tuổi đã được bố dạy chữ Hán, bảy tuổi học chữ quốc ngữ, 12 tuổi học chữ Pháp. Năm 20 tuổi học “Cao đẳng sư phạm Đông Dương” còn gọi là trường Bưởi (tức trường Chu Văn An ngày nay, vì nằm trên đường đi chợ Buởi, nên gọi là trường Bưởi). Năm 1924, cha tôi tốt nghiệp cùng khoá với các cụ Song An Hoàng Ngọc Phách (tác giả tiểu thuyết Tố Tâm nổi tiếng một thời), cụ Thạch Quang Tuấn, cụ Mai Phương… Cha tôi được bổ về trường Thành Chung Nam Định, dạy môn toán lí. Thành Chung ngày ấy tương đương trung học cơ sở bây giờ, nhưng học sinh rất giỏi tiếng Pháp (trường ấy bây giờ là trường Lê Hồng Phong). Lúc bấy giờ phong trào đấu tranh của nhân dân ta đang sôi sục, nhất là trong thanh niên học sinh. Ở trường Thành Chung, có người học trò tên là Đặng Xuân Khu, gia đình khá giả, tư chất thông minh, học vấn uyên bác. Anh này thường tụ tập số bạn bè cùng chí hướng, chuyền tay nhau đọc những sách cấm (như Tuyên ngôn Đảng cộng sản của Mác-Angghen, Cách mạng Tân Hợi ở Trung Hoa, Con đường Duy Tân của Nhật Bản… của Lương Khải Siêu, Tôn Dật Tiên…). Cha tôi chẳng những không ngăn cản mà còn khuyến khích họ bằng cách trong bài giảng của mình thường đề cao các anh hùng dân tộc: Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, hoặc các danh nhân của đất nước, chẳng hạn giảng về toán học quốc tế, cụ ca ngợi tấm gương của Trạng Lường Lương Thế Vinh của Việt Nam, hoặc đề cao Lưu Vĩnh Phúc, thủ lĩnh quân Cờ Đen người Trung Quốc, giúp tổng đốc Hoàng Kế Viêm đánh Pháp năm 1873 và 1882, là người yêu nước, chứ không phải là bọn giặc cướp như Pháp vẫn nói.

Vậy Lưu Vĩnh Phúc là ai?... Ông là người Trung Quốc, thuộc tộc Kahe (Khách Gia), Quảng Đông. Lưu xuất thân nhà nghèo, mù chữ, tên tự là Uyên Đình, sinh năm 1837. Mới 21 tuổi, ông đã là tướng tâm phúc của Ngô Vân (tức Ngô Lăng Vương), một yếu nhân của đảng Thái Bình Thiên Quốc, thế hệ thứ Hai (thế hệ thứ Nhất gồm các Đại Vương lẫy lừng như: trung vương Hồng Tú Toàn, đông vương Dương Tú Thanh, tây vương Lý Vân Trình, nam vương Vi Xương Huy, bắc vương Thạch Đạt Khai. Thế hệ này đã chết hết trong chiến đấu và trong các cuộc tranh giành, thanh toán lẫn nhau). Thái Bình Thiên Quốc lúc này đang tan rã, liên miên thua trận, sắp kết thúc 12 năm phát động nông dân khởi nghĩa ở tỉnh Quảng Tây, do bị ba danh tướng của Từ Hi Thái Hậu là: Tăng Quốc Phiên, Tả Tôn Đường, Lý Hồng Chương vây đánh quyết liệt. Năm 1863, Ngô Vân chết trận cùng với ngày tận thế của Đảng Thái Bình Thiên Quốc của mình, con trai là Ngô Côn lên thay, Lưu Vĩnh Phúc không phục, bèn dẫn 200 quân vượt biên giới Việt Trung vào đánh phá các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta. Với lá cờ Đen khét tiếng chết chóc, quân của Phúc đánh đâu được đấy. Đến năm 1875, sau khi tiêu diệt đạo binh gồm 2000 người là giặc Cờ Vàng của Hoàng Sùng Anh (cũng là tàn quân Thái Bình Thiên Quốc của Ngô Lăng Vương) tại tỉnh Hà Giang thì thế lực của Cờ Đen đã mạnh đến nỗi cả triều đình nhà Thanh bên Tầu lẫn triều đình nhà Nguyễn bên Ta đều phải trọng dụng để dùng cho công cuộc kháng Pháp, tuy cả hai bên Tầu, Ta, đều không mấy tin tưởng đạo binh thổ phỉ này. Năm 1884, chiến tranh Pháp Hoa bùng nổ, nhà Thanh gọi Phúc về, cho làm Tổng Binh thành Quảng Châu, 10 năm sau, 1894, lại điều ra Đài Loan chỉ huy chống Nhật, năm 1917, Phúc tự mắc bệnh mà chết, hưởng thọ 80 tuổi. Cuộc đời Lưu Vĩnh Phúc là chinh chiến và chiến chinh không biết mỏi, từng lãnh 10 vết thương, từng kết nghĩa huynh đệ uống máu ăn thề với Đại Võ Sư của Trung Quốc lúc bấy giờ là Hoàng Phi Hồng (1847-1924). Lưu Vĩnh Phúc là thủ lĩnh đội quân cờ đen chiến đấu rất giỏi và gan dạ. Bởi thế sau khi Hoàng Diệu mất, Tổng đốc Hoàng Kế Viêm lên thay, ông này đã dùng Phúc làm tướng tiên phong trong các trận đánh Pháp và Quân Cờ Đen đã không phụ lòng. Họ lập nhiều chiến công lẫy lừng như: năm 1873 giết chết đại úy Phơrăngxi Gácniê tại Cầu Giấy, năm 1882
tiêu diệt đại tá tư lệnh Hăngri Rivie cũng tại đây. Nhưng Quân Cờ Đen thỉnh thoảng cũng đi cướp phá các nhà giàu để có cái ăn và thuốc phiện, bởi thế bọn Pháp vin vào đó để gọi họ là giặc Cờ Đen (đúng ra chỉ có quân Cờ Vàng của Hoàng Sùng Anh mới là giặc, bọn này chuyên cướp phá dân lành, giết người không ghê tay, thường đánh nhau với quân của Lưu Vĩnh Phúc, và đầu hàng nhà cầm quyền Pháp, trở thành đạo quân Việt gian chống lại nhân dân ta).

Quân Cờ Đen và Lưu Vĩnh Phúc là kẻ thù không đội trời chung của nhà cầm quyền Pháp. Vậy mà cha tôi lại ca ngợi họ, thế thì không mang vạ sao được?

Năm 1926, Đặng Xuân Khu cùng các bạn để tang chí sĩ Phan Châu Trinh trong 2 ngày. Viên hiệu trưởng người Pháp có ý định đuổi số học trò yêu nước này để trừ hậu hoạ (gồm: Khuất Duy Tiến, Phan Đình Khải, Hoàng Tùng v.v..). Cha tôi đã kiên quyết phản đối với lý lẽ: đây là những trò giỏi của trường, những thanh niên sống có đạo đức, tư cách mẫu mực, những nhân tài tương lai của Nước Nam, cần phải giữ lại làm mầm ươm lâu dài cho dân tộc. Than ôi, chẳng những cha tôi không bảo vệ được họ, mà ngay bản thân mình cũng mắc tai ương: lấy cớ cha tôi đề cao Lưu Vĩnh Phúc là người yêu nước, viên Công sứ Nam Định (tức Tỉnh trưởng, người Pháp), đã thuyên chuyển ông về dạy Trường Bonnan Hải Phòng, và đuổi vĩnh viễn số thiếu niên yêu nước kia.

Sở dĩ cha tôi quý yêu những học sinh ưu tú và có bản lĩnh ấy vì con đường học vấn của ông trải vô vàn chông gai, cơ cực: năm 1915, vừa thi đỗ vào trường Cao Đẳng Tiểu Học (học chung với Cao Đẳng Sư Phạm Đông Dương tại Bưởi, nơi là trường Chu Văn An ngày nay), chưa kịp hưởng niềm vui tựu trường thì tai hoạ bỗng ập xuống: Thân phụ cha tôi là cụ Cử Đông Tác Nguyễn Hữu Cầu bị mật thám nhà cầm quyền Hà Nội bắt giam, hai năm sau (1917) đưa ra Toà Đại Hình, kết án 5 năm tù cộng 5 năm quản chế tại quê quán sau khi hết hạn tù, đầy ra Côn Đảo với tội danh: năm 1907 cùng với các cụ sĩ phu yêu nước Lương Văn Can, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Quyền, Dương Bá Trạc, Vũ Hoành, Lê Đại, Lương Trúc Đàm, Phạm Tư Trực, Đào Nguyên Phổ, Nguyễn Phan Lãng v.v.., mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục (tức Trường học vì nghĩa của Hà Nội) để một là bồi dưỡng lòng yêu nước cho quần chúng; hai là truyền bá nếp sống văn minh, tiến bộ; ba là hỗ trợ phong trào dân tộc, dân chủ chống Pháp ở trong và ngoài nước. Tội thứ hai (quan trọng hơn cả) là từ năm 1907 đến năm 1915 đã cùng với các yếu nhân khác của Đông Kinh Nghĩa Thục (như Lương Ngọc Quyến (con trai cả cụ Cử Can) người cùng Đội Cấn (Trịnh Văn Cấn) phát động cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1914), bí mật tuyển chọn và chu cấp cho một số thanh niên yêu nước của Hà Nội xuất dương qua Nhật Bản nhằm hưởng ứng phong trào Đông du cầu học của nhà chí sĩ ái quốc Phan Bội Châu. Với hai trọng tội trên, cụ Cử Nguyễn Hữu Cầu cùng hai người bạn là Thọ Đơn Trịnh Đình Lưu, Phật Tích Nguyễn Cảnh Lâm, bị lên tàu vượt biển ra ở tù Côn Đảo vào tháng ba năm 1917, mãi tám năm sau mới được về.

Vì có cha là “Quốc sự phạm” (tội phạm nguy hiểm của nhà nước) nên vừa xong buổi học khai trường, cha tôi đã bị tay Hiệu trưởng người Pháp (tên là Đờ Guyô) gọi lên, nói thẳng vào mặt, không úp mở: “Anh xuất thân thành phần chống lại nhà nước bảo hộ Pháp, rất xấu, vậy anh chỉ có duy nhất một con đường: đó là phải học thật giỏi, trong bốn năm ở đây, chỉ được phép đứng thứ nhất, hoặc cùng lắm thứ nhì lớp mà thôi. Anh có dám hứa với tôi không?” Thế là cha tôi bỏ quên tất cả mọi việc trên đời, dốc toàn bộ tâm trí và sức lực vào việc học. Ngày hai buổi lên lớp: Sáng từ 7 giờ đến 11 giờ rưỡi; chiều từ 1 giờ rưỡi đến 5 giờ. Từ nhà tới trường đúng 6 km, cha tôi phải dậy từ 4 giờ sáng, ăn cơm thật no (cơm một món: tương chưng chấm đọt sung), 5 giờ lên đường, vượt cánh đồng lúa lên đê La Thành, hết đê, tới Ô chợ Dừa, đi dọc phố Hàng Bột, Chu Văn An, đường Cột Cờ, rẽ phải qua vườn hoa Ba Đình, men theo đường tàu điện Quán Thánh, là đến trường Bưởi. Kể ra nếu có tiền, có thể đi tầu điện một quãng hết phố Hàng Bột, nhưng nhà nghèo, lại đông anh em (những tám người), cha đi tù vắng, nên ông chỉ đi bộ, mỗi ngày 12 km, ròng rã 4 năm (sau này học tiếp Cao đẳng Sư phạm Đông Dương 5 năm nữa, tổng cộng 9 năm đi bộ) với trang phục duy nhất là tấm áo dài thâm, chiếc quần mầu cháo lòng, đầu cạo trọc, không mũ nón, và đôi guốc mộc.

H.B.


Xem online : Kỳ đầu