Trang nhà > Bạn đọc > Kẻ trong cuộc > TS Nguyễn Nhã: Một đời nặng nợ với Hoàng Sa - Trường Sa

TS Nguyễn Nhã: Một đời nặng nợ với Hoàng Sa - Trường Sa

Thứ Tư 13, Tháng Năm 2009

Giờ đây, cái tên Nguyễn Nhã dường như đã gắn liền với những sự kiện nào có liên quan đến Hoàng Sa – Trường Sa. Nhận thức được tầm quan trọng của Hoàng Sa – Trường Sa từ rất sớm, Tiến sĩ Nguyễn Nhã đã dành trọn một đời mình để nghiên cứu, dốc sức bảo vệ hòng khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên các đảo này. Ông đã dành cho phóng viên báo Đại Đoàn Kết một buổi trò chuyện khá lý thú xung quanh niềm đam mê đã đốc thúc ông một đời nặng nợ với Hoàng Sa – Trường Sa.

* Là một Tiến sĩ sử học quan tâm đặc biệt đến việc nghiên cứu về Hoàng Sa – Trường Sa, chắc hẳn nhiều năm qua tiến sĩ đã dành nhiều tâm sức để nghiên cứu về vấn đề này. Vậy, xuất phát từ đâu khiến ông chọn đề tài này để nghiên cứu và đã dành bao nhiêu năm để theo đuổi công trình nghiên cứu này?

- Tiến sĩ Nguyễn Nhã: Bản thân tôi là một người nghiên cứu lịch sử, vào năm 1965 tôi là chủ bút của Tập san Sử Địa, tôi cũng có điều kiện để tiếp cận với các tư liệu về Hoàng Sa và Trường Sa. Không chỉ với trách nhiệm là một nhà nghiên cứu lịch sử mà còn là của một người công dân Việt Nam, tôi muốn làm điều gì đó cho tổ quốc để làm tròn nghĩa vụ của một công dân. Đến số 29, tôi và đồng sự quyết định biên soạn tập san về Hoàng Sa. Lúc đầu, tôi chủ trương biên soạn chủ yếu là khảo cứu, trình bày những sự kiện đã xảy ra mang tính khách quan với tập hợp các bài viết của những giáo sư từ Hoàng Xuân Hãn đến các vị nghiên cứu đầu ngành lịch sử.

Nhưng trong thời gian nghiên cứu để hoàn thành quyển tập san (1974), tôi đã nhận thức được tầm quan trọng của Hoàng Sa – Trường Sa: là yết hầu, cổ họng của Việt Nam, là một bộ phận không thể tách rời. Và, ngay từ lúc đó, trong tôi đã xuất hiện ý tưởng theo đuổi nghiên cứu đề tài này. Tôi muốn đưa vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa ra thế giới trong đó có cả nước láng giềng với những luận cứ xác lập chủ quyền chắc chắn, rõ ràng. Do đó, một năm sau (1975) chúng tôi tổ chức một cuộc triển lãm, và nhân đó phát hành tập san Sử Địa số 29 chuyên về Hoàng Sa. Tôi còn nhớ lúc đó nhà văn Sơn Nam có đánh giá rằng đây là một triển lãm mang tầm cỡ quốc tế.

* Mong muốn của ông khi khởi xướng chương trình xây dựng Tủ sách Hoàng Sa – Trường Sa là gì, thưa Tiến sĩ?

- Tủ sách ra đời vào ngày 20-1-2008, đánh dấu quá trình hơn 40 năm nghiên cứu của tôi về Hoàng Sa – Trường Sa. Thiết nghĩ, một công trình mà tôi đeo đuổi cả đời mình giờ phải có những người tiếp bước. Tủ sách tập trung những tư liệu sống động và những tài liệu quý giá, phong phú sẽ giúp cho những người nghiên cứu Hoàng Sa – Trường Sa đỡ tốn công sức, nhất là giới trẻ đang học tại các trường đại học, làm thuyết trình, làm luận văn nghiên cứu hay luận án thạc sĩ, tiến sĩ... Không chỉ vậy, nếu bạn trẻ nào muốn “nhiều hơn nữa”, tôi sẵn sàng dành thời gian hướng dẫn với mục tiêu có nhiều người hơn nữa tiếp bước để nghiên cứu, quảng bá sâu rộng khẳng định chủ quyền của Việt Nam.

* Ông có thể cho biết tên một số tài liệu quý về Hoàng Sa – Trường Sa mà hiện giờ thầy còn lưu giữ?

Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã tiếp cận với rất nhiều tài liệu gốc, tài liệu chính sử. Tôi chỉ giữ được bản sao của các tài liệu, xưa nhất là tập bản đồ Toản nam tứ chí lộ đồ thư vào cuối thế kỷ 17 hay Toản tập An Nam lô của Đỗ Bá Công Đạo có vẽ và ghi chú về “bãi cát vàng”, tức Hoàng Sa. Tiếp đó là Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn mô tả chi tiết về hoạt động của các đội Hoàng Sa, Bắc Hải minh chứng sự xác lập và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Còn nữa, như: Châu bản triều Nguyễn, Hội điển, Phủ biên tạp lục, Đại Nam thực lục chính biên, Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam nhất thống chí, Quốc triều chính biên toát yếu, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ...

* Nghiên cứu khoa học để có thể đưa ra các luận chứng bảo vệ quyền lợi dân tộc, đó là việc làm hết sức ý nghĩa và được dư luận đánh giá cao. Xin ông cho biết trong thời gian tới, ông sẽ phát triển công trình nghiên cứu về Hoàng Sa – Trường Sa như thế nào để có thể góp thêm vào kho tàng sử liệu của dân tộc những tư liệu quý, khẳng định chủ quyền lãnh thổ Việt Nam trên 2 quần đảo này?

- Thứ nhất, tôi nghĩ rằng Tủ sách về Hoàng Sa – Trường Sa đã phát huy tác dụng. Mới đây, đã có sinh viên bảo vệ thành công luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ về đề tài bảo vệ Hoàng Sa – Trường Sa là nhờ vào tủ sách này. Tôi đang chờ nhiều luận văn, luận án như thế và phát huy hơn nữa. Tiếp theo, sẽ thu thập những phát hiện mới về chủ quyền của Việt Nam trên Hoàng Sa như vừa rồi, những văn bản quý ở đảo Lý Sơn. Làm thế nào để sưu tầm những văn bản có tính pháp lý như vậy còn lưu lạc các nơi... Vì theo pháp lý quốc tế, chiếm hữu phải thật sự mang tính nhà nước, liên tục và hoà bình.

* Sống và làm việc hết mình vì khoa học và lợi ích dân tộc, Tiến sĩ có mong ước gì đối với bản thân và thế hệ trẻ mai sau?

- Điều tôi đau đáu hiện nay là làm cách nào để đưa những gì mình đã nghiên cứu được ra thế thế giới, một khi cả thế giới hiểu được sự thật thì chắc chắn họ sẽ ủng hộ, kể cả các học giả các nước trong khu vực. Vừa qua, có một nữ sinh viên làm luận văn thạc sĩ ở Đài Loan có dịch một số đoạn trong luận án “Chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa” của tôi. Các vị giáo sư bên đó rất ngạc nhiên vì sự thật là như thế, họ yêu cầu cô ấy viết bài để đăng lên tờ báo của trường. Tôi nghĩ đó là một cách làm rất hay và hiệu quả.

* Xin ông kể một hoặc vài câu chuyện mà theo ông là đáng nhớ nhất trong quá trình nghiên cứu về Hoàng Sa và Trường Sa của mình?

- Tôi cứ nhớ mãi một kỷ niệm cách đây 34 năm, đó là ngày mà tôi và các đồng sự quyết định ấn hành Tập san Sử Địa số 29 đồng thời triển lãm sử liệu minh chứng chủ quyền Việt Nam. Tôi cùng với Giáo sư Ngô Gia Hy (Trưởng Ban vận động xây dựng Đền thờ Tổ Hùng Vương) và Giáo sư Trần Huy Phong (Trưởng môn Võ Vovinam) đứng ra tổ chức. Tại buổi triển lãm, tôi có mời 5 vị Quốc lão, trong đó có Ái Nam Trần Tuấn Khải. Sau 3 hồi chiêng trịnh trọng và trong không khí thiêng liêng đó, tôi xúc động bật khóc, quay qua 2 đồng sự của mình, mắt cả 2 người cũng hoe đỏ, mọi người cùng ôm nhau khóc. Tôi nghĩ, trong khung cảnh đó, tấm lòng người con đất Việt được thể hiện một cách mãnh liệt nhất. Một kỷ niệm sâu sắc, tôi không bao giờ quên.

Còn một kỷ niệm nữa, là mới đây Chủ tịch huyện đảo Lý Sơn vừa gọi cho tôi mong có dịp tôi sẽ ra thăm đảo và ông cho biết đã coi tôi là một người con của đảo. Vậy là, tôi có 2 quê hương, một ở Sài Gòn và hai là ở Lý Sơn. Tôi rất vui vì nhận được sự ưu ái đó.

* Trân trọng cám ơn ông

Thy Huyền (thực hiện)