LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Xem lẹ

Trang nhà > Khoa học > Ngữ học > Tản mạn về tiếng Việt "hiện tượng đồng hoá âm thanh" (phần 1a)

Tản mạn về tiếng Việt "hiện tượng đồng hoá âm thanh" (phần 1a)

Nguyễn Cung Thông

Thứ Hai 7, Tháng Ba 2016

Hiện tượng đồng hóa âm thanh (linguistic assimilation) trong ngôn ngữ rất thường gặp: từ thanh điệu (điều hòa thanh điệu) cho đến các âm đứng gần nhau, phụ âm hay nguyên âm, đều có thể ảnh hưởng qua lạ i- nhất là trong khẩu ngữ. Điều này không làm ta ngạc nhiên vì âm thanh phát ra cũng phải tuân theo một số định luật vật lí tự nhiên của con người, khi lưỡi và họng ở những vị trí phát âm sao cho trôi chảy (nói) và thuận tai (nghe). Thành ra, ngoài các dữ kiện từ các tiếng nước ngoài, bài này còn đề cập đến một số liên hệ Hán Việt (HV), tuy không nhất thiết xác định nguồn gốc của các từ này (Việt cổ, Hán cổ). Các chữ viết tắt trong bài này là BK (Bắc Kinh), TVGT Thuyết Văn Giải Tự (khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), Tập Vận (TV/1037/1067), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), Tự Vị Bổ (TViB/1666), KH (Khang Hi/1716), HNĐTĐ (Hán Ngữ Đại Tự Điển/1986), Thiết Vận (ThV/601), Vận Kinh (VK/1161), VBL (từ điển Việt Bồ La, Dictionarium Annamiticum-Lusitanum-Latinum, Alexandre de Rhodes/1651). Chỉ số sau một âm tiết là chỉ thanh điệu, khác với số phụ chú ghi theo thứ tự trong bài.

Hai nguyên tắc đồng hóa âm thanh ĐH1 và ĐH2 được đề nghị để giải thích các dạng khám phá/khán phá, khám bệnh/khán bệnh cùng cấu trúc từ láy ưng ức/phưng phức và ròng rọc. Ảnh hưởng của nguyên âm trước và sau, cũng như khuynh hướng điều hòa thanh điệu không nằm trong phạm vi bài viết nhỏ này (thường gặp trong các ngôn ngữ thanh điệu/tonal language hơn). Hi vọng loạt bài "Tản mạn về tiếng Việt" sẽ giúp người đọc tìm hiểu thêm về tiếng mẹ đẻ rất phong phú của chúng ta.

1. Khuynh hướng đồng hóa âm thanh

Một số ngôn ngữ trên thế giới thuộc vào loại chắp dính (agglutinative/synthetic language) so với loại hòa kết (fusional/inflectional language). Loại ngôn ngữ chắp dính dùng nhiều phụ tố (affix) như tiền tố (prefix), hậu tố (suffix) để tạo từ mới cũng như các cấu trúc câu (sentence) hay một nhóm từ (đoản ngữ/phrase), khác với loại ngôn ngữ hòa kết thường thay đổi các dạng tiền tố, hậu tố khi nhập các thành phần này vào cấu trúc mới. Thí dụ của loại hình chắp dính là tiếng Nhật, Hàn, Thổ Nhĩ Kỳ, Mông Cổ, Armenia, Esquimo-Aleut, Basque ...v.v... Thí dụ của loại hình hòa kết là tiếng Phạn, La Tinh, Hy Lạp, Nga, Đức (họ Ấn-Âu). Khác với các ngôn ngữ nói trên là loại đơn lập (isolating language), thường mỗi hình vị (morpheme) đều có nghĩa riêng biệt, như tiếng Việt, Trung (Quốc)...v.v... Khuynh hướng đồng hóa âm thanh thường gặp trong các ngôn ngữ chắp dính hay hòa kết vì khả năng kết hợp các hình vị với nhau rất cao. Các thí dụ trong tiếng Anh (Mỹ) như

1.1 Mười đồng là ten bucks khi đọc nhanh trở thành *tem bucks vì phụ âm cuối -n (đầu lưỡi) của ten đồng hóa với phụ âm đầu b- (môi) của bucks để trở thành -m (môi).

1.2 Tiền tố in- (gốc La Tinh nghĩa là không) thường được dùng để cấu tạo các chữ mới như incorrect (correct là đúng, incorrect là không đúng/sai - tiếng Pháp là incorrect), indirect (direct là trực tiếp, indirect là không trực tiếp/gián tiếp - tiếng Pháp là indirect), inaudible (audible là nghe được, inaudible là không nghe được - tiếng Pháp là inaudible) ...v.v… Tuy nhiên, khi tiền tố in- hợp với tính từ possible (có thể) để cho ra *inpossible, thì phụ âm cuối -n (đầu lưỡi) lại bị đồng hóa bởi phụ âm đầu (môi) để cho ra dạng impossible (không thể - tiếng Pháp là impossible); cũng như polite (lễ độ) hợp với tiền tố in- để cho ra dạng impolite (không lễ độ/thô tục - tiếng Pháp là impoli) so với các dạng irresponsible (vô trách nhiệm, irresponsable tiếng Pháp - dạng in- đã trở thành ir- vì phụ âm đầu responsible), illegal (bất hợp pháp, illégal tiếng Pháp - dạng in- đã trở thành il- vì phụ âm đầu legal), immeasurable (vô số kể, incommensurable tiếng Pháp - gồm có in- tiền tố La Tinh nghĩa là không, com- gốc La Tinh cum nghĩa là với, mesure là đo và able có gốc La Tinh là habilis nghĩa là tiện lợi, có thể) …v.v…

1.3 Cái xách tay (túi xách) là handbag, nhưng khi đọc thì có phụ âm đầu lưỡi d (hand) bị tha hóa (nhược hoá/mất đi/elision, vì không cùng hay gần vị trí phát âm như phụ âm b trong bag) trở thành *hanbag, sau đó phụ âm đầu lưỡi n lại bị đồng hóa với phụ âm b (môi) của bag để trở thành *hambag /hæmbæg/ , đây là âm đọc mà ta thường nghe hơn.

Trong bài này, các trường hợp phụ âm hữu thanh n trở thành phụ âm hữu thanh m gọi tắt là khuynh hướng đồng hóa 1 (ĐH1) vì vị trí phát âm gần nhau của các phụ âm này.

1.4 Một cách thành lập danh từ chỉ số nhiều trong tiếng Anh là thêm hậu tố -s (phụ âm đầu lưỡi, xát và vô thanh) vào sau danh từ như

book —> books
lot —> lots
...

Tuy nhiên khi danh từ có phụ âm cuối hữu thanh thì âm s lại trở thành phụ âm đầu lưỡi, xát và hữu thanh z, do ảnh hưởng của phụ âm g đứng trước

bags đọc là /*bæɡs/ —> hữu thanh hóa —> /bæɡz/
friends đọc là /fɹɛn(d)z/ (phụ âm đầu lưỡi d mất đi, s trở thành z)


Trong tiếng Pháp, ta cũng thấy các trường hợp đồng hóa âm thanh:

1.5 Động từ observer là canh giữ, xem xét trong tiếng Pháp - đọc là /ɔp.sɛʁ.ve/ với phụ âm môi hữu thanh b trở thành phụ âm môi vô thanh p vì đứng trước phụ âm xát vô thanh s. Tuy nhiên1 động từ observe tiếng Anh (gốc từ tiếng Pháp) đọc là /ɒbˈzɜː(ɹ)v/ với phụ âm xát vô thanh (đầu lưỡi) s trở thành âm xát hữu thanh z vì đứng sau phụ âm hữu thanh b.

1.6 Tôi không biết là je ne sai pas trở thành *je n’sais pas, sau đó thành *j’sais pas và cuối cùng ra dạng *chai pas mà ta thường nghe thấy hơn.

1.7 Tính từ diễn tả thứ hai, thứ nhì (phụ, không phải chính) là secondaire, đọc chậm là /sə.ɡɔ̃.dɛʁ/, khi đọc nhanh hơn trở thành /sɡɔ̃.dɛʁ/ và cho ra dạng /zɡɔ̃.dɛʁ/. Phụ âm cuối lưỡi -c (k) đã hữu thanh hóa (kêu/voiced) trở thành -g, cũng như phụ âm xát vô thanh s- trở thành hữu thanh z-, âm /ə/ đã tha hóa (mất đi/elision) để đọc cho dễ hơn và nhanh hơn.

Trong bài này, các trường hợp phụ âm vô thanh (như s, c/k) trở thành phụ âm hữu thanh (như z, g) gọi tắt là khuynh hướng đồng hóa 2 (ĐH2) do kết quả của quá trình hữu thanh hóa.

Các nguyên tắc ĐH1 và ĐH2 thật ra chỉ là hai trong nhiều kết quả tất yếu của nguyên tắc dùng sức (công) ít nhất của khoa học tự nhiên (principle of least effort): con người thường chọn những cách đọc (hay làm việc) ngắn gọn và dễ dàng nhất.

2. Tiếng Việt đơn lập?

Các ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập2 thường có tỉ số hình vị và từ (morpheme-word ratio) rất gần 1 so với các loại ngôn ngữ chắp dính hay hòa kết. Thí dụ như tiếng Việt mỗi chữ (từ) đều có nghĩa và không thể tách chữ này ra thành những thành phần có nghĩa khác nhau như tiếng Anh. Tiếng Anh unhappiness là một từ có nghĩa là sự không vui (dùng ít nhất là 3 từ độc lập tiếng Việt), unhappiness lại gồm có tiền tố un- nghĩa là không, happy là vui và -ness là hậu tố thành lập danh từ. Do đó tỉ số hình vị-từ là 3/1 = 3 so với cấu trúc tiếng Việt sự không vui có tỉ số 3/3 = 1. Hãy xem cấu trúc của trạng từ (phó từ/adverb) tiếng Anh slowly (hậu tố -ly hợp với tính từ slow) mà tiếng Việt là chậm:

She walks slowly
Bà ta đi (bộ) chậm

Nhưng ta cũng có thể nói Bà ta đi chầm-chậm, trường hợp này cho thấy từ láy chầm-chậm dùng tương đương với chậm và tỉ số hình vị-từ có thể là 2 hay 1, trong đó chữ chầm không có nghĩa và có thể coi như một phụ tố cùng âm vực với chậm. Trường hợp từ láy ba như sạch-sành-sanh cho thấy tỉ số hình vị-từ là 3/1 = 3 với các chữ sành và sanh không có nghĩa trong cách dùng này (hay chỉ là phụ tố):

Đồ tế nhuyễn của riêng tây
Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham (Truyện Kiều)

Những trường hợp từ láy (hai, ba hay bốn) trong tiếng Việt cho ta khả năng đưa tiếng Việt đến gần ngôn ngữ loại chắp dính hay hòa kết và do đó các nguyên tắc hòa đồng âm thanh được thể hiện rất rõ nét. Khuynh hướng đồng hóa âm thanh trong tiếng Việt cho thấy cách phân loại ngôn ngữ thành đơn lập hay chắp dính không hoàn toàn chính xác - xem các dữ kiện từ các ngôn ngữ trên thế giới (như trường hợp sở hữu possessive ...) trang http://wals.info/. Khuynh hướng đồng hóa âm thanh dựa vào nguyên tắc vật lí tự nhiên (của hệ thống phát âm con người) và có thể xẩy ra trong tiếng Việt là điều không làm cho ta ngạc nhiên. Linh Mục Léopold Cadière (1869-1955) đã từng nhận xét3 về hiện tượng chắp dính (agglutination) trong tiếng Việt, dù ông cho rằng rất ‘là lạ’ so cho loại ngôn ngữ đơn âm. Trường hợp này xẩy ra cho phụ âm cuối t (đầu lưỡi, tắc) như khi một số người Việt phát âm một họ giống như một sọ, nhứt hạng trở thành nhứt sạng. Ta thử tìm hiểu khuynh hướng biến đổi cũng như thêm bớt phụ âm để phù hợp với môi trường âm thanh chung quanh cho dễ phát âm hơn (đọc/nói thuận và nhanh hơn), bắt đầu bằng từ láy đôi trong tiếng Việt.

3. Giải thích một loại cấu trúc từ láy đôi

3.1 Trường hợp từ láy "phưng phức"

Xem chữ phức 馥 (thanh mẫu tịnh 並 vận mẫu ốc 屋 nhập thanh, khai khẩu tam đẳng), có các cách đọc theo phiên thiết

房六切,音伏 phòng lục thiết, âm phục (TVGT, QV, TV, LT, VH, CV, TTTH)
符逼切 phù bức thiết (QV)
房六反 phòng lục phản (LKTG)
芳福符逼二反 phương phúc phù bức nhị phản (LKTG)
反福扶福二切 phản phúc phù phúc nhị thiết (NT, TTTH)
弼力切,音愎。義同 bật lực thiết, âm phức - nghĩa đồng (TV, LT)
拍逼切,音堛 phách bức thiết, âm bức (TV, LT)
音復 âm phục (TNTTĐTA 精嚴新集大藏音)
方六切,音福 phương lục thiết, âm phúc (CV, TVi)
CV ghi cùng vần 福 腹 複 復 輹 副 葍 楅 輻 幅 覆 蝮 鍑 馥 蝠 (phúc phức phục phó bức)
非律切 phi luật thiết (TVi)
方六切,音復 phương lục thiết, âm phục (CTT, TViB)
音拂 âm phất (CTT)
...v.v...

Giọng BK bây giờ là fù bì so với giọng Quảng Đông fuk1 fuk6 và các giọng Mân Nam 客家话:[海陆丰腔] fuk8 fuk7 put7 [陆丰腔] fuk7 [梅县腔] fuk8 [客语拼音字汇] fug5 [宝安腔] fuk8 [客英字典] buk7 [台湾四县腔] fuk8 buk7 put7, giọng Mân Nam/Đài Loan hok8, tiếng Nhật fuku hyoku và tiếng Hàn pok.

Phức phức là từ láy toàn phần hàm ý mùi thơm tỏa ra ngào ngạt, đã có từ thời Tô Vũ (140 - 60 TCN) trong thơ "Biệt Hữu" 别友:
燭燭晨明月, 
馥馥秋蘭芳
Chúc chúc thần minh nguyệt
Phức phức thu lan phương

Từ láy toàn phần phức phức đã có trong các tác phẩm Nôm9 cổ như

Tây tử điểm thôi hương phức phức (Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập)
Mùi hương phức phức phàm trần đã khônog (Thiền Tông Bản Hạnh)

Tiếng Việt còn dùng từ láy phưng phức4: khác dạng phức phức vì phụ âm cuối tắc -c của chữ phức đầu đã tha hóa, và thay vào đó là phụ âm cuối lưỡi/hữu thanh -g sau đó trở thành ŋ (ng) vì tiếng Việt không có dạng *phưg. Ngoài ra, phụ âm mũi n với luồng hơi qua mũi tạo sự liên tục (cầu nối) giữa hai âm phư và phức - đây là khuynh hướng ĐH2 xẩy ra trong âm vực cao:

phức > phức phức > *phưg phức > phưng phức (cùng âm vực cao)
VBL ghi hai cách dùng phưng phức và phức phức - trang 608)

Ta cũng có các từ láy liên hệ như ưng ức, tưng tức ... So với cấu trúc tương tự cho âm vực thấp như phừng phực ... hừng hực ... sừng sực ...v.v... Các phụ âm mũi m/n/ng/nh là một cầu nối làm các âm tiết phát ra trở thành liên tục hơn - đây là một đặc tính của ngôn ngữ nói chung khi ta ngâm (thơ) hay ngân (hát) và tạo thêm tính chất biểu cảm của âm phát ra - bản chất của các phụ âm tắc k/p/t khó mà tạo ra hiệu quả như vậy!

Ngoài trường hợp lắp láy nguyên âm ư, ta cũng có thể áp dụng nguyên tắc HĐ2 cho các từ láy với nguyên âm a như tan tác, nguyên âm e như eng éc, nguyên âm ô như mồn một ...v.v... Để ý rằng quá trình hữu thanh hóa5 các phụ âm cuối tắc c/p/t để cho ra dạng -ng, nhưng cũng có thể cho ra dạng -nh như bịch bịch > bình bịch phình phịch (tiếng Việt không dùng các dạng *bìng, *phìng). Trang 762 VBL ghi dạng thịc thịc so với thịch thịch > thình thịch (thường gặp hơn).

3.2 Trường hợp từ láy “ròng rọc”

Từ láy ròng rọc phản ánh kết quả của hai nguyên tắc ĐH1 và ĐH2 đã nói trên: căn tố (chính tố/root) là rọc với các biến thể như rọc rọc, róc rách, ròng rọc là lộc lô (HV), lộc lộc (HV) và lốc cốc. Tra lại các tài liệu tiếng Việt trước đây ta thấy

- lộc, sấp: trochlea. Trang 420, tự điển Việt Bồ La (1651). Tiếng La Tinh trochlea là ròng rọc (để ý tiếng Bồ Đào Nha là roldana trong cả ba trường hợp dùng trong VBL)

- răọc răọc: roldana: rotula, z. alij roc rọc. Trang 641, tự điển Việt Bồ La (1651) - tiếng La Tinh rotula là một bánh (xe) nhỏ /a small wheel

Từ láy toàn phần rọc rọc đã có trong các tác phẩm Nôm cổ như

- Lộc lô rọc rọc khéo làm (Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa)

- lucão volũtaria: pollui liberè. sấp, lộc sấp kéo lên kéo xuống: roldana: rotula. sấp ấn, vide ấn, sấp rèm, vide rèm. tan ra, bở ra, idem. fát, bó fát: năo darbem a casca a fruita ou outra coufa.... Trang 680-681, tự điển Việt Bồ La (1651)

- Poule.... Gà, gà mái: poule couveuse, gà đẻ; poule à chair noire, gà ấc; poule d’eau, chim trích; [poulet, gà tơ].
- Poulie.... Róc rách.
Trang 313 " Annamite-français & grammaire" của Gabriel Aubaret (1867)

Rọc rọc hiện diện từ thời VBL (1651), Béhaine (1772), Taberd (1838) ... đến thời Đại Nam Quấc Âm Tự Vị (Huỳnh Tịnh Của, 1895), thời Việt Nam Tự Điển (1932/1854) cũng ghi là rọc rọc, nhưng cũng thường gọi là ròng rọc. Trương Vĩnh Ký6 ghi poulie là róc-rách (1884). Rọc tiếng Thái là rôk รอก , tiếng Khme là rok, tiếng Tày–Nùng7 lôc là guồng nước so với chữ hiếm lộc/lục 樚 (Unicode 6A1A) có các cách đọc theo phiên thiết

盧谷切,音六 lô cốc thiết, âm lục (TV, VH, LT, LT)
徒谷切。同櫝 đồ cốc thiết, đồng độc (NT) - TViB ghi âm độc 音獨
力竹切,音六 lực trúc thiết, âm lục (CTT)
音鹿 âm lộc (TĐTAT 重訂直音篇)
...v.v...

Giọng BK bây giờ là lù so với giọng Quảng Đông luk6 và các giọng Mân Nam 客家话:[梅县腔] luk8 [台湾四县腔] luk8 luk7 [客英字典] luk8 [海陆丰腔] luk8 luk7, tiếng Nhật là roku toku doku. Róc rách bây giờ có nghĩa là tiếng nước chảy (nước suối chảy róc rách …). Theo nguyên tắc ĐH2, rọc rọc trở thành ròng rọc:

rọc > rọc rọc > *rog rọc > ròng rọc (cùng âm vực thấp)

Tương ứng với cấu trúc ròng rọc (âm vực thấp) ta có òng ọc, nòng nọc, chòng chọc, xòng xọc, sòng sọc ... So với (âm vực cao) long lóc, cong cóc, xong xóc ...v.v...

Từ láy ròng rọc cho thấy căn tố rọc (*lộc) đã từng láy toàn phần (rọc rọc), sau đó trở thành từ láy bộ phận (ròng rọc) cho đến ngày nay, cũng như trường hợp từ láy phưng phức. Có nhiều cách viết chữ Hán để ký âm rọc: như lộc bộ mộc như đã nói ở phần trên (hàm ý ròng rọc làm bằng cây) hay lộc bộ xa8 hợp với chữ lộc 轆 (tần số dùng cao nhất trong nhóm, 178 trên 175865108), lộc bộ thủ hợp với chữ lộc 摝 (tần số dùng 19 trên 171894734) ... Hay lô viết bằng bộ xa hợp với chữ lô 轤 (tần số dùng 96 trên 173881764). Ròng rọc còn gọi là lộc lô 轆轤 (một dạng từ láy). Điều đáng chú ý là từ láy HV toàn phần lộc lộc 轆轆 chỉ tiếng ồn (của xe chạy), tương ứng với các dạng lộc cộc, lọc cọc hay lốc cốc, lóc cóc tiếng Việt; điểm khác biệt là dạng từ láy tiếng Việt đã thể hiện kết quả của nguyên tắc đồng hóa âm thanh (ĐH1): phụ âm cuối -c của lốc đã biến đổi phụ âm đầu l- của lốc thành –c (cốc).

3.3 Trường hợp từ láy “nơm nớp”

Nớp là sợ, khiếp (nớp lòng, VBL trang 571) - một dạng chữ Nôm dùng chữ nạp HV 納 - thí dụ các cách dùng9 xưa:

Oán người nớp nớp những âu người (Nguyễn Trãi/Ức Trai Thi Tập)
Nớp nớp thửa run sợ (Thi Kinh giải âm)
Đứa cuồng còn sợ nớp nớp (Thi Kinh giải âm)
Kẻ sĩ lành lo nớp nớp (Thi Kinh giải âm)
...v.v...

Từ láy nớp nớp sau này trở thành nơm nớp qua quá trình hữu thanh hóa và chuyển âm vực:

nớp nớp > *nớm nớp > nơm nớp (cùng âm vực cao) - khuynh hướng ĐH2

Tương tự như trên, vặc chữ Nôm dùng chữ 域 vực HV, và vặc vặc là từ láy toàn phần hàm ý sáng rực:

Lòng bạn trăng vặc vặc cao (Nguyễn Trãi)
Nước uống nguồn Tào vặc vặc lặng thanh (Thiên Tông Bản Hạnh)
Cung xanh vặc vặc ngọc âm từ rày (Thiên Nam Ngữ Lục)
...v.v...

Hiện nay, ta thường nghe cách dùng vằng vặc hơn so với vặc vặc (trăng sáng vằng vặc), đây là kết quả trực tiếp của quá trình ĐH2:

vặc vặc > *văg vặc > vằng vặc (cùng âm vực thấp)

(còn nữa)


Xem online : Tản mạn về tiếng Việt "hiện tượng đồng hoá âm thanh" (phần 1b)