Xem lẹ

Trang nhà > Khoa học > Ngữ học > Tản mạn về tiếng Việt "hiện tượng đồng hoá âm thanh" (phần 1b)

Tản mạn về tiếng Việt "hiện tượng đồng hoá âm thanh" (phần 1b)

Nguyễn Cung Thông

Thứ Hai 7, Tháng Ba 2016

4. Phất phới hay phấp phới

Phất phới được dùng như trạng từ hay động từ như "cờ bay phất phới", tuy nhiên dạng phấp phới cũng hiện diện và tần số dùng nhiều hơn trong sách vở và báo chí. Đây là kết quả của khuynh hướng đồng hóa âm thanh (ĐH1) như đã viết bên trên. Phất HV 拂 có nghĩa là phẩy, phủi như trong cách dùng phất trần (quét bụi)/phất y (giũ áo); một dạng biến âm của phất10 là phớt như "phớt qua" ...v.v... Phất phất 拂拂 là từ láy toàn phần dùng từ thời Đường (Ngô Dung 吳融). Khuynh hướng ĐH1 cũng từng xẩy ra từ thời VBL, như thấp thoảng có người đọc là thất thoảng (VBL trang 773). Dạng phấp 法 trong phấp phới 法派cũng từng hiện diện trong một số tác phẩm Nôm9 như

Chỉn thấy cái hạc dâm liệng trên không, phấp phới mà múa (Truyền Kỳ Mạn Lục)
Cờ mây phấp phới soi sáng bãi sông (Truyền Kỳ Mạn Lục)
Lốm đốm sao thưa phấp phới sương thưa (Sơ Kính Tân Trang/Phạm Thái)
Bốn mảnh quần hồng bay phất phới (Hồ Xuân Hương)

5. Khám phá và khám bệnh

Tiếng Việt hiện đại có cách dùng xâm bổ lượng (từ Hán Việt là thanh bố lương/lượng 清補涼 một món giải khát phổ thông ở Quảng Đông, Quảng Tây, Hương Cảng, Áo Môn, Hải Nam và Việt Nam) - thanh HV đọc là xanh, phụ âm cuối -nh bị môi hóa trở thành *xâm vì đứng trước âm môi b- (bổ). Đây là khuynh hướng đồng hóa phụ âm trong khẩu ngữ theo nguyên tắc ĐH1. Ngoài xâm bổ lương, ta còn có thể khảo sát thêm những trường hợp tương tự là khám phá và khám bệnh: các nhóm từ HV này rất đặc biệt vì đã từng hiện diện với cách dùng khán phá và khán bệnh (trong tiếng Hán). Các dạng biến âm dễ xẩy ra trong khẩu ngữ vì không bị giới hạn bởi chữ viết (chữ Nho).

5.1 Khám phá

Chữ khám 勘 (thanh mẫu khê 溪 vận mẫu đàm 覃 khứ thanh, khai khẩu nhất đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết

苦紺切,堪去聲 khổ cám thiết, kham khứ thanh (TVGT, NT, ĐV, QV, TV, VH, CV, TVi, TTTH)
枯含切,音堪 khô hàm thiết, âm kham (TV, LT) - bình thanh
口含切 khẩu hàm thiết (CTT)
...v.v...

Giọng BK bây giờ là kān kàn so với giọng Quảng Đông ham1 ham2 và các giọng Mân Nam 客家话:[梅县腔] kam1 kam5 [宝安腔] kam5 [客英字典] kam5 [海陆丰腔] kam1 kam5 [客语拼音字汇] kam3 [台湾四县腔] kam1 kam5 [东莞腔] kam5 潮州话:kam3 (khàm) 「澄海」kang3, giọng Mân Nam/Đài Loan kham1, tiếng Nhật kan và tiếng Han kam. Dạng khám tiếng Việt (khứ thanh) cho thấy khả năng hiện diện trước thời Tập Vận (1037/1067) và Loại Thiên (1039/1066) - thời VBL còn ghi dạng khấm (khấm việc, quan đi khấm). Điều này giải thích được tại sao khám được dùng tự do (free morpheme) cũng như trong các từ Hán Việt khác như khám phá, khám nghiệm ... Nếu tiếng Việt và các giọng địa phương miền Nam TQ còn duy trì âm cổ hơn kham, thì tiếng TQ bây giờ đã đọc khác hơn: phụ âm cuối -m đã trở thành -n nên đọc khám thành kān hay kàn; các cách đọc này cũng chính là cách đọc chữ khán11 看 bây giờ. Cách dùng khám phá và khán phá đã hiện diện từ thời Tống, các tài liệu12 cho thấy khán phá dùng trước khám phá:

"看破空花塵世,放輕昨夢浮名" khán phá không hoa trần thế, phóng khinh tạc mộng phù danh (Lục Du 1125-1210, "Phá Trận Tử")

"死生已勘破,身世如遺忘" tử sanh dĩ khám phá, thân thế như di vong (Văn Thiên Tường 1236-1283, "Thất Nguyệt Chi Nhật Đại Vũ Ca")

【勘破】犹看破 [khám phá] do khán phá (Hán Ngữ Đại Tự Điển) - còn được ghi nhận9 lại trong từ điển trên mạng như http://www.zdic.net/c/8/6b/103335.htm

Một cách giải thích sự xuất hiện của động từ khám phá là khuynh hướng đồng hóa phụ âm (ĐH1): phụ âm cuối -n (khán) đã trở thành phụ âm môi -m (khám) để phù hợp với phụ âm môi ph- (phá) đứng ngay sau đó. Điều này có thể xẩy ra khi trước khi phụ âm -m trở thành -n trong tiếng Hán trung cổ, cho ra cách đọc giống nhau về sau của khám và khán (kàn BK bây giờ). Người Trung Quốc cũng nêu ra thắc mắc về cách dùng khám phá hay khán phá (đều đọc là kàn pò BK bây giờ), tuy nhiên không thấy được vấn đề rõ hơn so với người VN vì cả hai dạng đều hiện diện trong tiếng (Hán) Việt cho đến nay. Tiếng Việt bây giờ hiểu "khám tai" (đi bác sĩ để khám tai) rất khác với khám tai 勘災 có nghĩa là tra xét sự tình (tai nạn nào đó) trong tiếng Hán!

5.2 Khám bệnh

Các từ điển Génibrel (1898/SaiGon), Vallot (1898/HaNoi), Bonet (1899), Aubaret (1867), Béhaine (1772), Taberd (1838), VBL (1651) đều không ghi các cách dùng khán bệnh 看病 hay khám bệnh 勘病; Huỳnh Tịnh Của ghi coi bệnh (1895) và Gouzien (1897) có ghi khám bệnh, cho thấy cách dùng này đã hiện diện trong khẩu ngữ:

Manuel franco-tonkinois de conversation spécialement à l’usage du médecin, précédé d’un exposé des règles de l’intonation et de la prononciation annamites, TG Paul Gouzien (1897)

Tương quan khám và khán còn thấy trong cách dùng từ ghép trong Đại Nam Quấc Âm Tự Vị/ĐNQATV (Huỳnh Tịnh Của, 1895)

Khám khán 勘看 Xét xem (trang 478, ĐNQATV - Tome I)

Không thấy các tài liệu TQ dùng khám bệnh như trong tiếng Việt, theo học giả Đào Duy Anh trong Hán Việt Tự Điển/HVTĐ (1931) thì chỉ có khán bệnh (không có khám bệnh, so với khám nghiệm); Gustave Hue (“Dictionnaire vietnamien chinois francais”, 1937) thì ghi cả hai cách dùng khám bệnh và khán bệnh (cùng một nghĩa examiner une maladie), theo Nguyễn Văn Khôn (HVTĐ, 1960) thì có khán bệnh (không có khám bệnh). Chị Bùi Thị Duyên Hà13, trong một bản báo cáo mới đây (2012) có nêu lên khả năng lẫn lộn trong cách đọc khám và khán. Trường hợp khám bệnh có thể giải thích bằng khả năng đồng hóa phụ âm ĐH1: phụ âm mũi -n trong khán bệnh đã trở thành phụ âm môi -m để phù hợp với phụ âm môi (âm mũi) b- của bệnh.

Tóm lại, dựa vào nguyên tắc đồng hóa âm thanh rất tự nhiên trong ngôn ngữ, ta có thể giải thích phần nào các hiện tượng lắp láy như phưng phức, ròng rọc, nơm nớp, vằng vặc (láy bộ phận). Ngoài ra, dựa vào khuynh hướng đọc cho dễ (qua cách đồng hóa các phụ âm gần nhau) mà ta có cơ sở giải thích các cách dùng rất đặc biệt như phấp phới, khám phá/khán phá và khám bệnh/khán bệnh trong tiếng Việt và Hán Việt.

6. Phụ chú và phê bình thêm

Phần này không hoàn toàn theo cách ghi tài liệu (Bibliography) tham khảo APA hay MLA vì bao gồm các phê bình thêm về đề tài, tài liệu và tác giả để người đọc có thể tra cứu thêm chi tiết và chính xác. Chi tiết về cấu trúc từ láy trong tiếng Việt có thể đọc trong "Từ láy - những vấn đề còn để ngỏ" NXB Khoa Học Xã Hội - Trung Tâm Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Quốc Gia/Viện Ngôn Ngữ Học (Hà Nội, 1998) trang 170-172, "Từ tiếng Việt - Hình thái, Cấu trúc, Từ láy, Từ ghép, Chuyển loại" NXB Khoa Học Xã Hội, Viện Ngôn Ngữ Học, Hoàng Văn Hành (Chủ biên) - Hà Nội (1998) trang 79, "Cơ sở Ngôn Ngữ Học và tiếng Việt" NXB Giáo Dục, Mai Ngọc Chừ/Vũ Đức Nghiệu/Hoàng Trọng Phiến - Hà Nội (tái bản lần thứ sáu, 2005) trang 117, trang 147 …, "Từ vựng học tiếng Việt" Nguyễn Thiện Giáp - NXB Giáo Dục (Hà Nội, 2002) trang 89, "Dẫn luận Ngôn Ngữ học" Nguyễn Thiện Giáp (Chủ biên)/Đoàn Thiện Thuật/Nguyễn Minh Thuyết - NXB Giáo Dục (Hà Nội, 2006) trang 200-201. Nguyễn Đức Tồn ghi nhận một số vấn đề về cấu trúc từ láy trong tiếng Việt qua các bài viết "Về các phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt nhìn từ góc độ nhận thức và bản thể" đăng trong tạp chí Ngôn Ngữ (2011 - Số 8(267) trang 1-10), hay có thể xem trên mạng trang này http://www.tgn.edu.vn/bai-viet/c45/i51/ve-cac-phuong-thuc-cau-tao-tu-trong-tieng-viet-nhin-tu-goc-do-nhan-thuc-va-ban-the-.html ...v.v... Thanh điệu cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành tiếng Việt hiện đại. Thí dụ như cách dùng nước miếng, tiếng Khme là tức mót (nước miệng), tiếng Chăm là ia pabah (nước miệng), tiếng Chao Bon (Nyah Kur) là dáak páang (nước miệng), tiếng Mông (H’Mong) là kuz ndâux (ndâux là miệng), tiếng Gia-Rai là ia bah (bô là miệng) ... Ngoài ra một dạng chữ Nôm dùng chỉ miệng cũng như miếng (nước miếng), do đó ta có cơ sở để đề nghị nước miếng là nước miệng, nhưng đã bị ảnh hưởng của thanh sắc (nước) để cho ra dạng nước miếng hiện nay. Cá đuối từng là cá đuôi (VBL - hàm ý cá có đuôi đặc thù), thợ nê (nê 泥 là bùn, bôi/trát) trở thành thợ nề (cùng âm vực thấp), chúng cư và chung cư ...v.v... Tuy nhiên, bài viết này không bàn đến ảnh hưởng của thanh điệu trong hiện tượng đồng hoá phụ âm.

1) Khuynh hướng đồng hóa phụ âm, có thể theo chiều xuôi (như s trở thành z trong lúc đọc observe tiếng Anh), gọi là lagging assimilation. Khả năng đồng hóa phụ âm có thể ngược lại (như b trở thành p trong lúc đọc observer tiếng Pháp) gọi là leading assimilation, có tác giả gọi là progressive assimilation (ĐH1 xuôi) so với regressive assimilation (ĐH1 ngược). Đây là những khuynh hướng đồng hóa trực tiếp (direct assimilation) vì các âm kề nhau mà ta dễ nhận ra hơn, so với ảnh hưởng gián tiếp (indirect assimilation) của nguyên âm trước và sau cũng như thanh điệu của các từ này. Các hiện tượng trên có khả năng cho ra nhiều kết quả thú vị nhưng không nằm trong phạm vi bài này.

2) David Crystal, 1987 "The Cambridge Encyclopedia of language" NXB Cambridge University Press Cambridge, Anh Quốc). Một tỉ số cũng được dùng để khảo sát các loại hình ngôn ngữ là tỉ số tổng hợp (index of synthesis) hay số (lượng) hình vị chia cho số (lượng) từ; thí dụ như câu "The boys saw the girl" có 5 từ nhưng có 8 hình vị trong tiếng Anh, tỉ số tổng hợp là 8/5 = 1.6, trung bình của tỉ số này cho tiếng Anh là 1.68 so với tỉ số (trung bình) của tiếng Việt là 1.06, tiếng Ba Tư là 1.52, tiếng Phạn là 2.59, tiếng Anh Cổ (Old English) là 2.12 và tiếng Eskimo là 3.72. Bạn đọc có thể tham khảo thêm chi tiết về cách phân tích định lượng này của nhà ngôn ngữ học Joseph Greenberg (1960) trang này chẳng hạn http://ngonngu.net/index.php?m=print&p=230

3) Léopold Michel Cadière, 1905 "Phonétique annamite (dialecte du Haut-Annam)" Ecole française d’Extrême-Orient,Volume 3 of Publications de l’Ecole française d’Extreme-Orient (113 trang). Linh Mục Cadière nhận xét rằng trường hợp phụ âm cuối một chữ bị ảnh hưởng của phụ âm đầu của chữ sau đó (khi phát âm một họ thành một sọ) : "C’est un cas curieux d’agglutination ..." (tạm dịch: đây là trường hợp kỳ lạ của hiện tượng chắp dính ..." (trang 56).

4) Các tài liệu Hán cổ có ghi các tổ hợp phương phức 芳馥, phân phức 芳馥 đều hàm ý hương thơm ngào ngạt (phân hương 芳香). Chữ phương bộ thảo khó giải thích liên hệ với phưng so với tương quan phương 方 và vuông, tuy rằng cùng âm vực và cũng có tương ứng giữa khương và gừng, cương và cứng ... Ngoài ra, phới cũng có thể dùng làm từ láy toàn phần phới phới như trong VBL (trang 603) và các tác phẩm Nôm
Tám bức quần hồng bay phới phới (Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập)
Lòng mừng phới phới nhẹ tăm tăm (Bạch Vân Am Thi Tập/Nguyễn Bỉnh Khiêm)
...

5) Một cách nhìn khác dựa vào tính chất trong-đục của tiếng Việt: đặc tính hữu thanh của nguyên chuỗi âm thanh lạng so với lạc, láng so với lác (vô thanh ở phần cuối -c). Xem thêm "Ngữ âm tiếng Việt" Đoàn Thiên Thuật, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội (tái bản năm 2007), trang 139-140. Cao Xuân Hạo cũng nhắc đến hiện tượng láy HĐ2, cho thấy khả năng phân biệt "không đúng các thành phần của cấu trúc âm tiết" trong lý thuyết ngôn ngữ truyền thống, ông nêu ra quy tắc cấu tạo L.01 cho loại từ láy này - trang 79-87 (bài viết vào 8/1957 - 12/1997, đăng trong cuốn "Tiếng Việt - mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa" NXB Giáo Dục - tái bản lần thứ hai - Thành Phố HCM).

6) Hoàng Văn Ma—Lục Văn Pảo—Hoàng Chí, 1974 "Từ điển Tày-Nùng-Việt" NXB Khoa Học Xã Hội (Hà Nội)

7) J.B. Petrus Trương Vĩnh Ký, 1884 "Petit Dictionnaire francas annamite" Imprimerie de la Mission, à Tân-Định (SaiGon)

8) Chữ lộc 轆 (thanh mẫu lai 來 vận mẫu ốc 屋 nhập thanh, khai khẩu nhất đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết

盧谷切,音鹿 lô cốc thiết, âm lộc (QV, TV, VH, CV, LT, TVi) - TVi ghi âm lục 音六
力木反 lực mộc phản (NTLQ 玉篇零卷)
音鹿 âm lộc (LKTG)
力木切 lực mộc thiết (NT)
徒谷切 đồ cốc thiết (NT, TV, LT)
徒谷乀 đồ cốc phật (TNTTĐTA 精嚴新集大藏音)
CV ghi cùng vần 祿 漉 淥 盝 簏 琭 簶 麓 碌 鹿 轆 錄 睩 甪 摝 騼 六 陸 稑 穋 蓼 戮 僇 勠 籙 綠 醁 騄 菉 (lộc lục liệu)
力竹切,音祿 lực trúc thiết, âm lộc (CTT)
...v.v...

Giọng BK bây giờ là lù so với giọng Quảng Đông luk1 luk6 và các giọng Mân Nam 客家话:[海陆丰腔] luk8 [宝安腔] luk7 [台湾四县腔] luk8 [客英字典] luk8 [梅县腔] luk8 [客语拼音字汇] lug5, tiếng Nhật là roku và tiếng Hàn lok.

Ròng rọc tiếng Trung (Quốc) bây giờ là hoạt xa 滑車 hay hoạt luân 滑輪 (tiếng Nhật là kassha, tiếng Hàn là hwal’cha cùng một gốc so với dạng mượn từ tiếng Anh pūrī và pulli) - còn lộc (lộc lô) là từ Hán cổ và được Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa ghi là “Lộc lô rọc rọc khéo làm”. Một dạng chữ Nôm của rọc là lục/lộc HV 淥, tương quan lộc và rọc có thể nhận ra qua các cặp long rồng 蠬 瀧, lọc lộc 漉 ...

9) Nguyễn Quang Hồng (Chủ biên) "Tự Điển chữ Nôm" NXB Giáo Dục - Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam (Hà Nội, 2006)
10) Chữ phất 拂 (thanh mẫu bàng 滂 vận mẫu vật 物 nhập thanh, hợp khẩu tam đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết

敷勿切,音髴 phu vật thiết, âm phất (TVGT, ĐV, QV, TV, VH, CV, TVi, CTT) - TVi/CTT ghi âm phất 音弗
符勿切,音佛 phù vật thiết, âm phật (TV, VH)
薄密切。與弼同 bạc mật thiết - dữ bật đồng (TV, LT, VH, CV)
芳勿反 phương vật phản (LKTG)
孚勿翻 phu vật phiên (BH 佩觿)
無勿切 vô vật thiết (NT)
普密切,讀與匹近 phổ mật thiết, độc dữ thất cận (TV) - thất đọc là pǐ (giọng BK bây giờ)
父沸切 phụ phất thiết (TV, LT)
方味切 phương vị thiết (TVi)
方未切,音沸 phương vị thiết, âm phí (LT, KH)
非乙切 phi ất thiết (TViB)
...v.v...

Giọng BK bây giờ là fú pǐ so với giọng Quảng Đông fat1 bat6 faak1 và các giọng Mân Nam 客家话:[台湾四县腔] fut7 fit8 fin5 [客语拼音字汇] fag5 fid5 fid6 fud5 fug5 [海陆丰腔] fut7 fit8 fin5 [梅县腔] fut7 [陆丰腔] fut7 [客英字典] fut7 [宝安腔] fut7 fin5, giọng Mân Nam/Đài Loan hut1, tiếng Nhật futsu hotsu hitsu và tiếng Hàn pwul phil.

11) Chữ khán 看 (thanh mẫu khê 溪 vận mẫu hàn 寒, bình hay khứ thanh, khai khẩu nhất đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết

苦寒切 khổ hàn thiết (TVGT, ĐV, NT, TTTH)
苦干切 khổ can thiết (QV)
苦安切 khổ an thiết (NT, TTTH)
丘寒切,音刊 khâu hàn thiết, âm khan (TV, VH, CV, LT, TG 字鑑, TVi)
苦旰切 khổ cán thiết (ĐV)
墟旰切 khư cán thiết (TV, VH)
袪幹切,刊去聲 khư cán thiết, khan khứ thanh (CV, TVi) - TVi ghi thêm âm khám 音勘
苦堅切,音牽 khổ kiên thiết, âm khiên (KH)
苦甸切,牽去聲 khổ điện thiết, khiên khứ thanh (KH)
丘電切,音牽 khâu điện thiết, âm khiên (TVi)
...v.v...

Giọng Bắc Kinh bây giờ là kān, kàn so với giọng Quảng Đông hon1, hon2 và các giọng Mân Nam 客家话:[海陆丰腔] kon5 kon1 [客英字典] kon5 kan1 [台湾四县腔] kon5 kon1 [宝安腔] kon5 [陆丰腔] kon5 [梅县腔] kon5 [沙头角腔] kon5 [东莞腔] kon5 [客语拼音字汇] kon4. Để ý là đến thời TVi (Tự Vị/1615) thì hai âm khán và khám đã đọc giống nhau (so với giọng BK kàn bây giờ của khán và khám). Âm HV vẫn bảo lưu hai vần -ám và -án khác nhau (trước thời TVi) của khám và khán.

12) Xem thêm chi tiết trong “Hán Ngữ Đại Tự Điển” (1986) … hay “Khang Hi Tự Điển” (1716) trang này chẳng hạn http://www.zdic.net/c/b/149/321204.htm

13) Bùi Thị Duyên Hà (Hải?), 2012 "Biến thể Hán Việt trong tiếng Việt" đăng trong kỷ yếu hội thảo ’Nghiên Cứu và Giảng Dạy Việt Nam Học và tiếng Việt’ trang 62-74 - NXB Tổng Hợp Thành Phố HCM. Có thể xem toàn bài trang này http://www.vns.edu.vn/vns/images/stories/Bai_NCKH/13_BuiThiDuyenHai/2_buithiduyenhai.pdf

Nguyễn Cung Thông
nguyencungthong@yahoo.com


Xem online : Tản mạn về tiếng Việt "hiện tượng đồng hoá âm thanh" (phần 1a)