Trang nhà > Văn chương > Thi ca > Thi sĩ Hồ Dzếnh (1916-1991)

Thi sĩ Hồ Dzếnh (1916-1991)

Thứ Ba 3, Tháng Bảy 2007

Tên thật là Hà Triệu Anh, sinh năm 1916 tại tại làng Đông Bích, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Cha ông là Hà Kiến Huân, người gốc Quảng Đông, mẹ Đặng Thị Văn là người Việt.
Ông học trung học, dạy tư, làm thơ, viết báo từ năm 1931 tại Hà Nội. Tham gia kháng chiến chống Pháp từ đầu, năm 1950 vì vợ mất mà con quá nhỏ ông phải trở về Hà Nội làm thợ cơ khí để sinh sống. Năm 1953 ông vào Sài Gòn làm báo, năm 1954 trở về Hà Nội tiếp tục viết báo, làm thơ. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam ngay từ buổi đầu thành lập (1957). Ông mất ngày 13 tháng 8 năm 1991 tại Hà Nội. Năm 2007, Hồ Dzếnh được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật.
Nhà văn Kiều Thanh Quế viết: "Ngòi bút Hồ Dzếnh đã có được lắm đặc tánh khả quan trong khi phô diễn. Nó nên tỏ ra có sức mạnh trong những tiểu thuyết dày dặn, thì tên tuổi của người Minh Hương ấy – Hồ Dzếnh là người Minh Hương, văn học quốc ngữ không nề hà chẳng đón tiếp như đã đón tiếp bao nhiêu nhà văn Việt Nam hữu tài." (Tạp chí Tri Tân số 67, 13/6/1942)
"Lời giới thiệu" Tuyển tập Hồ Dzếnh – Tác phẩm chọn lọc, NXB Văn Học 1988, nhận định: "Tác phẩm của Hồ Dzếnh không nhiều, lại không tập trung ở một tờ báo hay đặc san nào. Với bản chất trầm lắng, ông luôn luôn khiêm tốn tự cho mình là người mới bắt đầu bước vào nghề viết. Tuy nhiên, với hai tập văn thơ Chân trời cũ và Quê ngoại, Hồ Dzếnh được biết đến như một nhà thơ có chân tài. "
Nhà thơ Hoài Anh viết về Hồ Dzếnh: "Phần đóng góp quan trọng nhất cho văn học Việt Nam của anh lại là tập Chân trời cũ, thể hiện nếp sinh họat, tính cách, tình cảm, tâm lý của bà con gốc Hoa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Hồ Dzếnh chỉ kể chuyện về người cha mình, các anh, chị, em mình, con ngựa của cha mình... mà làm cho người đọc Việt Nam rung động tận đáy lòng." (Chân dung văn học, NXB Hội Nhà văn 2001)
Nhà văn, giáo sư Đặng Thai Mai đánh giá tập truyện Cô gái Bình Xuyên (NXB Tiếng Phương Đông, 1946) viết về cuộc kháng chiến chống Pháp của người dân Nam bộ thời 1945-1946 như là một trong những tín hiệu đầu tiên của văn học kháng chiến.
Một số tác phẩm
Một chuyện tình 15 năm về trước (1942)
Chân trời cũ (1942)
Quê ngoại (1942)
Hoa Xuân Đất Việt (1946)
Người cứu thương Trung Hoa (1947)
Đi hay ở (1955)
Anh đỏ phụ
Chân trời cũ (hồi ký, 1942)
Một Truyện Tình 15 Năm Về Trước (ký bút hiệu Lưu Thị Hạnh, 1942)
Hai Mối Tình hay Tiếng Kêu Trong Máu (truyện dài, ký bút hiệu Lưu thị Hạnh, do NXB Hợp Lực, Sài Gòn, tái bản năm 1968);
Những Vành Khăn Trắng (tiểu thuyết, ký bút hiệu Lưu thị Hạnh, 1946);
Đường Kẽ Mãnh (truyện ngắn, 1943);
Nhà Nhiều Con (truyện ngắn, 1944).
Chị Yên
Chú Nhì
Con ngựa trắng của ba tôi
Em Dìn
Hai anh em
Lòng Mẹ
Ngày gặp gỡ
Ngày lên đường