Quick browsing

Home > Văn chương > Thi ca > Thi sĩ Hoàng Cầm (1922-2010)

Thi sĩ Hoàng Cầm (1922-2010)

Thursday 21 August 2008

Hoàng Cầm đi về phía rạng đông

Tháng 9-2005, tôi đến thăm Hoàng Cầm trên căn gác nhà ông. Lão thi sĩ vừa bị ngã gãy chân, phải nằm nghiêng nghiêng tiếp khách. Thực ra thì “nằm nghiêng nghiêng” là cái tư thế thường xuyên của ông từ những năm còn khỏe mạnh.

Hoàng Cầm bên sông Đuống. Ảnh: NGUYỄN ĐÌNH TOÁN 1996
Nhiều lần tới thăm, tôi vẫn thấy ông nghiêng nghiêng theo cái thế nằm quen thuộc ấy, gợi nhớ hình ảnh rất huyền ảo trong bài thơ Bên kia sông Đuống tuyệt vời:
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến
trường kỳ...

Tôi từng được nghe ông giải thích rằng đó còn là cái thế chông chênh mà vĩnh hằng của những bãi cát ven bờ sông Đuống quê hương ông. Hình ảnh ấy không bao giờ mờ phai trong ký ức ông, mà kỳ lạ thay, nó lại như là biểu tượng của chính cuộc đời ông vậy. Số phận ông là số phận nghiêng nghiêng.
Và, trong cái thế “nằm nghiêng nghiêng”, ông “kháng chiến trường kỳ” chống lại chính số phận...
Chàng trai tài hoa và đa tình của xứ Kinh Bắc ấy sinh năm 1922, đã đậu tú tài toàn phần năm 1940; từng làm thơ, viết văn, soạn kịch, dịch sách trước khi tham gia lực lượng Thanh niên Cứu quốc của Mặt trận Việt Minh; từng là sáng lập viên Đội Văn nghệ tuyên truyền thuộc chiến khu Việt Bắc (1947), Trưởng Đoàn Văn công Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam (1952); hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam và được bầu vào Ban Chấp hành khoá 1 (1957)... Vóc dáng ông lồng lộng một thời.
Rồi tai nạn ập đến. Bị cơn bão “Nhân văn Giai phẩm” xô ngã (năm 1958), ông đã cố gượng dậy nhưng số phận bắt ông mang cái dáng “nghiêng nghiêng” từ đó.
Từ năm 1959, ông phải chịu kỷ luật “khai trừ khỏi Ban Chấp hành hội..., không được ấn hành tác phẩm..., lương chính bị cắt mất 65%..., lao động chân tay bắt buộc trong 3 năm..., sau đó được tự giác tìm một nơi nào đó lao động chân tay để có thêm tiền bồi dưỡng...” (Tự thuật của Hoàng Cầm – sách Hoàng Cầm – tác phẩm thơ - NXB Hội Nhà văn, 2003, trang 193).
Và liên tiếp những nỗi đau đời tư, vợ mất, con gái mất... Năm 1982, lại đột ngột gặp tai nạn nghề nghiệp với tập thơ Về Kinh Bắc...
Trong tình cảnh ấy, ông đã “không mang trong lòng nỗi oán hận hoặc trách móc, hờn giận ai. Đôi lúc, chỉ nghĩ về chính số phận mình, có cay đắng, có xót xa.
Nhưng vì “đã mang lấy nghiệp vào thân” như Nguyễn Du nói, cái nghiệp thơ... Hào quang toả ra từ tâm linh và từ những câu chữ kỳ diệu đã đem đến cho mình không ít giờ phút say sưa, ngay trong cuộc sống bình nhật cũng không ít hạnh ngộ đẹp. Tôi được gặp nhiều người rất trong sáng, yêu thương mình hết lòng. Dân tộc là thế đấy...” (Tự thuật của Hoàng Cầm – sách đã dẫn).
Âm thầm với cách thế ứng xử của mình, ông lặng lẽ viết Về Kinh Bắc (1959 – 1960) rất đậm “chất” Hoàng Cầm, một tác phẩm đặc sắc của nền thơ Việt Nam, đã được chép tay và truyền khẩu rộng rãi từ trước khi được in thành sách, một hiện tượng hiếm có.

Từ 1988, sau khi được phục hồi tư cách hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và quyền được công bố tác phẩm, Hoàng Cầm đã cho tái bản và xuất bản hàng loạt sách, trong đó có những tập thơ ông sáng tác liên tục từ 1958 tới những năm đầu thiên niên kỷ mới, như Mưa Thuận Thành, Đến từ hư không...
Danh mục tác phẩm của Hoàng Cầm, kể từ những kịch thơ Hận Nam Quan (1942), Kiều Loan (1942) đến nay, kể cả thơ, văn và kịch đã có hàng chục đầu sách, một số lượng không phải tác giả nổi tiếng nào cũng có được. Quan trọng hơn, chất lượng tác phẩm đã nâng Hoàng Cầm lên ngôi vị những nhà thơ hàng đầu của nền thơ hiện đại Việt Nam.
Ông là một trong số không nhiều thi sĩ lớn sống hết với thơ, trang trọng đặt thơ cao hơn chính bản thân mình, bất chấp hoàn cảnh, cứ nghiêng nghiêng mà sáng tác trường kỳ....
Xin kính cẩn nghiêng mình tiễn đưa người đi về phía rạng đông:
bỏ lại sau lưng hoàng hôn ráng đỏ
gậy nghiêng mình chào những sớm mai xanh...

(Đi về phía rạng đông -
thơ Hoàng Cầm, 2002)
Nguyễn Duy
Đêm 6-5-2010


Hoàng Cầm - Nghĩ lúc nằm im

(P/v của Nguyễn Thị Ngọc Hải)
Hoàng Cầm – người thơ mang vị thuốc đắng ấy bây giờ lúc ngồi lúc nằm. Nếu không, phải chống tay thế này. Ngã gãy mất xương đùi trái. Đã 86 tuổi, bây giờ chàng thi sĩ đa tình và tài hoa xứ Kinh Bắc nằm yên một chỗ. Nhưng hễ có bạn bè lên thì vẫn nụ cười “ như mùa thu toả nắng”.
Bây giờ chắc ông khó mà đưa em nào buồn về bên kia sông Đuống như ngày xưa nữa rồi?
- (Cười) Gãy chân đã 5 năm. Bác sĩ bảo mổ. Không. Thôi, què thế cũng được rồi. 24/24 giờ xoay xoả mãi một kiểu nằm ở cái giường. Đám Thuỵ Kha, Trọng Tạo bảo thơ nó vận vào đó. Suốt đời “nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ” như sông Đuống. Vậy mà tôi vừa về quê năm ngoái đấy.

Đi đứng thế nào ạ?
- Ngồi xe lăn. Ô tô thuê. Về làng Lạc Thổ - Đông Hồ, còn một ông anh con bác ruột. Vài người bạn cũng thành cụ cả rồi. Yếu. Gặp nhau mừng lắm. Tôi về cùng các con dự giỗ tổ họ Bùi.

Bên kia sông Đuống vẫn xanh bãi mía bờ dâu, những cô hàng xén, những nàng dệt sợi đi bán lụa màu, những em sột soạt quần nâu.. giờ thay đổi nhiều lắm phải không ạ? Có còn “dấu vết” gì không?
- Làng ấy nửa buôn bán nửa nông nghiệp, xưa nay vẫn thế. Đi chợ này chợ khác, không hẳn thuần tuý là cái làng Việt Nam. Tranh Đông Hồ thì xóm bên cạnh Tết vẫn làm. Vẫn con lợn con gà, đám cưới chuột.

Vậy làng còn đẹp như trong thơ không?
- Nó đẹp hay không tự mình. Lúc nào tôi cũng thấy nó đẹp. Nhưng bến đò không còn cảm giác quê hương. Hai bên bờ đã khác. Văn minh hơn. Bến đò nay xây cầu sắt hẳn hoi, tiện cho dân. Mất thơ mộng, chả có cảm xúc gì. Chỉ thấy văn minh.

Thưa, thấy văn minh là cảm xúc…
- Trước bến đò không nhà tầng bên sông, chỉ đi bộ xuống. Bây giờ thông thống cả. Mất đi không khí quê cũ. Chỉ cần một ngôi nhà ngói chen vào là hỏng rồi. Mất cái gì không biết, chỉ thấy mất. Đã gọi là bến mà, phải chờ phải đậu. Xưa có quán tạm để người chờ vào đó uống nước. Bây giờ có cầu, tất nhiên bến đò mất đi không phải chờ, vào đó uống nước làm quái gì. Văn minh phá không khí. Trẻ không có kỷ niệm. Càng già kỷ niệm càng gay gắt.

Trẻ lại có kỷ niệm khác chứ thưa ông. Nói họ không có kỷ niệm e là họ không đồng ý?
- Kỷ niệm là cái đã qua, bao giờ cũng trôi về thuở ấu thơ ấy chứ. Bọn trẻ có kỷ niệm giống nhau hết cả. Thí dụ một anh 20 thì kỷ niệm của anh ta hồi 7-8 tuổi làm gì có nữa. Lúc đó bắt đầu đổi mới rồi. Không có thời gian, lấy đâu ra kỷ niệm. Mà họ giống nhau: Cùng được bố mẹ nuôi, sống ở thành phố, đi học…

Nhưng bây giờ tâm tưởng họ khác, phong phú nhiều bề, bận rộn, căng thẳng lắm chứ đâu có thong dong suy ngẫm kỷ niệm?
- Cứ lấy thí dụ con cái thân thiết của gia đình mỗi nhà mà xem. Tâm tưởng thì chúng nó nghèo lắm đấy. Con tôi chẳng hạn, ngoan giỏi, yêu kính bố. Nhưng tập thơ tôi in ra. Sáng dậy nó còn ngủ. Tôi để cuốn thơ đầu giường, ngay mang tai nó, dậy nhất định thấy liền. Nó: Ờ, hay quá. Bố mới xuất bản ạ. Rồi giở lướt ra: In đẹp đấy nhỉ. Rồi để lại chỗ cũ, không cầm đi theo. Không có gì nó quý.

Vậy nó “quý” gì?
- Bố có khách, nó quý người khách lắm. Họ nói chuyện thơ là nó thích, dù nó bận không nghe. Nó quý bạn thơ của bố mà chưa biết quý thơ. Đứa nào cũng phải tính làm ăn. Có tiền nuôi vợ con khá lên. Thời đại nó thế mất rồi. Giỗ vợ tôi mà đông khách khứa, bạn bè thăm bố, nó phấn khởi. Nhưng nghĩ ít. Hay là nó nghĩ gì không biết.

Con cháu có thuộc thơ ông không – cả nước phải học, vừa rồi cũng lại “Bên kia sông Đuống” là đề thi Văn mà?
- Con cháu tôi đều đức độ, không phải loại vô học nhưng nó không quan tâm lắm dù cũng đã học qua rồi, bài của bố nó là tác giả. Nhưng đứa cháu lại thuộc, con chị học bên Hà Lan thì sưu tầm cẩn thận lắm.

Bài “Bên kia sông Đuống” dài lắm, đọc lên khi nào cũng nao lòng. Ông còn thuộc khômg?
- Đây này, tôi sẽ đọc …(Ông đọc liền tới hơn 100 câu thì ngừng), như thế là mệt rồi. Giọng bây giờ nó cũng hỏng rồi. Hay gì. Trước sang sảng, nay có lúc khản hẳn.

Mặc dù có nhiều tác phẩm, ông có thể kể lại những cảm xúc nao lòng Em oi buồn làm chi, anh đưa em về sông Đuống… làm rung động nhiều thế hệ?
- Chuyện này nghiên cứu văn học có phân tích nhiều nhưng tôi vẫn sẽ nói thêm cái cảm giác của một đêm khuya năm 1948 ở khu 12 Phú Bình Thái Nguyên. Mấy anh cán bộ Nam sông Đuống lên báo cáo tình hình Pháp chiến. Tư lệnh Lê Quảng Ba mời tôi sang nghe. Lúc đó tôi thành lập một đội văn công nhỏ. Tôi nghe họ báo cáo ở Thuận Thành, Lang Tài, La Lương, nó bắt bao người, bắt bao nhà. Đêm về nghe rõ ràng giọng chính mình vang lên mấy câu đầu “Em ơi buồn làm chi…” nó trào ra rất nhanh. Không phải nghĩ nữa. Âm điệu chữ nghĩa cứ tuôn ra. Thương quê mình quá.

Nghe nói hồi đó ông cứ phải ngồi đọc cho các cán bộ ở Côn Đảo, Phú Quốc, Campuchia về hội nghị ở Việt Bắc chép bài thơ đó. Sau nó được in ở báo Cứu Quốc. Ông còn giữ tờ báo đó không?
- Chiến tranh loạn lạc, làm gì còn.

Theo ông, cái gì làm cho khung cảnh một làng quê ông sống mãi trong mọi tâm hồn?
- Gắn lòng với dân tộc, thương quê. Cái gì nói lên được quê hương và những người quê hương sẽ trường tồn. Đó là một quy luật.

Nhưng có thời hình như nó bị cấm?
- Lúc đó tôi nghĩ: cứ cấm đi, chỉ 10 năm nó sẽ sống lại… Ai không gì dìm cho nó “chết” được.

Ông sống rất lâu ở Hà Nội, nhưng lại không làm thơ về Hà Nội?
- Tôi ở từ năm 1941-1942 khi diễn vở “Kiều Loan”. Lúc đó mới biết Hà Nội nó ở chỗ nào. Không biết thích gì ở Hà Nội. Vì nó ít kỷ niệm, hoặc kỷ niệm không đáng nhớ lắm. Cũng đi học, đi thi…

Bây giờ những tứ thơ còn đến với thi sĩ nữa không?
- Thơ đầy bụng nhưng không viết được. Chỉ 3 phút là tư tưởng loãng, rối dần. Biết thôi hết rồi.

Thì ghi âm, hoặc gọi con cháu ghi giùm, không thì phí quá.
- Phải nhớ, là rắc rối rồi.

Vậy phải nằm suốt ngày, nhà thơ nghĩ gì?
- Không có một việc gì để làm cả. Nghĩ về dĩ vãng, công việc, vợ con, bạn bè. Chỉ thoáng thôi. Nhớ giờ không sâu nữa.

Kể cả nhiều mối tình đã từng say đắm, thi sĩ đa tình cũng quên hết sao?
- 13 người giai nhân – kể những người có “thành tích” tên tuổi. Linh tinh không dễ. Hầu như họ ở Sài Gòn hoặc tản mạn đi đâu hết.

Ông nằm trên tầng lầu cao nhất của ngôi nhà gần sát nhà thờ lớn. Hàng ngày nghe tiếng chuông có gợi nhiều buồn vui, dĩ vãng?
- Chuông nhà thờ ở thàmh phố không thể nào sánh với chuông chùa vùng quê. Xâm xẩm chiều buông, tiếng chuông chùa quê Việt Nam nó ghê lắm. Từng tiếng một, tắt hẳn dư âm mới tiếp tiếng khác, chìm dần, đưa vào cõi không. Vời vợi rồi chìm hết. Nghe tiếng chuông chùa ở nhà quê mới hay. Chùa Quán Sứ cũng có, nhưng nó ở thành phố, không thực không khí Việt Nam. Muốn hưởng cái hay phải ở nhà quê yên tĩnh. Mà phải nghèo.

Sao vậy ạ?
- Nghèo – cảm thấy hư vô không còn gì cả. Tiếng chuông chùa lên là thôi, tan dần, mới thật là Phật. Chuông nhà thờ buồn chiều một tí, nhưng chuông chùa ở nhà quê đưa người ta hiểu đúng thế nào là hư vô.

Nằm “trên trời” thế này ông có theo thời sự không ạ?
- Đọc báo. Xem TV cả ngày phát chán. Giá lên. Có cảm giác nhân loại này TV Việt Nam nói nhiều nhất thế giới. Thấy nói thừa nhiều quá. Mà các ông đi thăm chỗ này chỗ kia, chả thấy nói ông ấy làm gì, bàn gì không biết.

Cuộc sống sinh hoạt hiện nay của ông thế nào ạ?
- Ăn cháo với thịt băm. Củ cải dầm ăn được. Còn thuốc lào thì không kể được. Anh Nguyễn Đình Toán còn nhớ đấy. Năm 1993 vào Huế, ông Hải Bằng về nhà chặt tre làm điếu đem đến không kịp. Chúng tôi ra đến Quảng Trị nhờ trẻ con đi mua điếu không có. Một lần ra sân bay, Toán uống bia xong đục cái vỏ lon bia làm điếu.

Hút vậy hại sức khoẻ lắm.
- Câu ấy ai cũng nói. Nhưng nó theo cả đời rồi. Mình phải cầm đóm lấy mới ngon, Để người châm hộ không ngon. Thật ra sống đủ rồi, không muốn sống đau ốm, thế nên cho trách giời một tí.

(Người Đô Thị 8-2008)

Lá diêu bông

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẫn thờ đi tìm
Đồng chiều
Cuống rạ
Chị bảo:
-Đứa nào tìm được lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng
Hai ngày Em tìm thấy lá
Chị chau mày
-Đâu phải lá Diêu Bông!
Mùa đông sau Em tìm thấy lá
Chị lắc đầu
trông nắng vãn bên sông
Ngày cưới Chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim
Chị ba con
Em tìm thấy lá
Xòe tay phủ mặt Chị không nhìn
Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời!...
ới Diêu bông!

Hoàng Cầm