Trang nhà > Văn chương > Thi ca > Thi sĩ Lưu Trọng Lư (1911-1991)

Thi sĩ Lưu Trọng Lư (1911-1991)

Chủ Nhật 21, Tháng Giêng 2007

Nhà thơ lãng mạn sinh năm 1911 (Tân Hợi) trong một gia đình nhà Nho, quê ở làng Cao Lao Hạ, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

JPEG - 7.9 kb

Lưu Trọng Lư thời trẻ học tại Trường Quốc Học Huế, có năng khiếu nổi bật nên sớm tham gia làng báo. Năm 1933, ông chủ trương Ngân Sơn Tùng thư ở Huế, và cộng tác với các báo Sông Hương, Phụ nữ Tân văn (Sài Gòn), Tân thiếu niên, Tao Đàn, Tiến Hoá, Phụ nữ Thời đàm (Hà Nội). Ông là một trong những chủ tướng của phong trào Thơ Mới và phái Nghệ thuật vị nghệ thuật. Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc ở Huế. Kháng chiến thành công, ông về Hà Nội rồi làm nhiều chức vụ trong các hội văn nghệ khác nhau.

Lưu Trọng Lư mất năm 1991 (Tân Mùi) tại Hà Nội, hưởng thọ 80 tuổi.

Những tác phẩm chính để lại: Người sơn nhân, Khói lam chiều, Chiếc cánh xanh, Tiếng thu, Toả sáng đôi bờ, Người con gái sông Gianh, Từ đất này, Mùa thu lớn, Nhật ký đọc Kiều, Nửa đêm sực tỉnh (hồi ký), Tuyển tập thơ.

Sau đây là bài thơ TIẾNG THU của Lưu Trọng Lư (theo nhà văn Duyên Anh thì tứ thơ lấy từ một bài Haiku [1] đã dịch qua tiếng Pháp):

TIẾNG THU

Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh người chinh phu
Trong lòng người cô phụ ?

Em không nghe rừng thu
Lá thu rơi xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô.


[1Một thể thơ cổ Nhật Bản gồm 17 từ