Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Cổ học > Thơ nôm Hồ Xuân Hương

Thơ nôm Hồ Xuân Hương

Thứ Tư 18, Tháng Tư 2007

Xem thêm tiểu sử: Thi sĩ Hồ Xuân Hương (?1772-1822)

1

Thiếu nữ ngủ ngày

Mùa hè hây hẩy gió nồm đông,
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng,
Lược trúc lỏng cài trên mái tóc,
Yếm đào trễ xuống dưới nương long,
Ðôi gò bồng đảo sương còn ngậm,
Một lạch đào nguyên suối chửa thông.
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt,
Ði thì cũng dở ở không xong.

Bản dịch tiếng Pháp:

La Jeune fille assoupie en plein jour

Frémissement de la brise d’été
A peine allongée, la jeune fille s’assoupit
Le peigne de bambou, de ses cheveux, a glissé
Le soutien rouge s’est défait à mi-cours
De rosées se forment sur les deux seins de Fée
La source aux fleurs de Pêcher ne jaillit pas encore
Le gentilhomme hésitant, ne peut en détacher sa vue
Partir lui est pénible, mais inconvenant de rester.

Bản dịch tiếng Anh của John Balaban [1]:

Day Sleeping Girl

Summer breeze is sporadically blowing,
Lying down the young girl slides into sleeping.
Her bamboo comb loosely attached to her hair,
Her pink bra below her waist dropped down fair.
On these two Elysian mounds, the nectar is still remaining,
In that one Fairy rivulet, the current seems to stop flowing.
At such a view, the gentleman hesitated,
Odd to leave, yet inconvenient if he stayed.

2

Mời trầu

Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi
Này của Xuân Hương đã quệt rồi.
Có phải duyên nhau thì thắm lại,
Đừng xanh như lá, bạc như vôi.

3

Vịnh bánh trôi

Thân em thì trắng phận em tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non,
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

Bản dịch tiếng Pháp:

Le gâteau flottant

Mon corps est blanc, ma condition est d’être ronde
Tantôt je surnage, tantôt je suis immergée dans l’eau
Dure ou molle, peu importe la main qui m’a pétrie,
Je conserve toujours un coeur vermeil

4

Duyên kỳ ngộ

Nghìn dặm có duyên sự cũng thành,
Xin đừng lo lắng hết xuân xanh.
Tấc gang tay họa thơ không dứt,
Gần gụi cung dương lá vẫn lành.
Tên sẵn bút đề dường chĩnh chện,
Trống mang dùi cắp đã phanh phanh.
Tuy không thả lá trôi dòng ngự,
Chim tới vườn đào thế mới xinh.

5

Cảnh thu

Thánh thót tầu tiêu mấy hạt mưa,
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ.
Xanh um cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ.
Bầu dốc giang sơn say chấp rượu,
Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ.
Ơ hay, cảnh cũng ưa người nhỉ,
Ai thấy ai mà chẳng ngẩn ngơ.

++++

6

Chùa xưa

Thày tớ thung dung dạo cảnh chùa,
Thơ thì lưng túi, rượu lưng hồ.
Cá khe lắng kệ, mang nghi ngóp,
Chim núi nghe kinh, cổ gật gù.
Then cửa từ bi chen chật cánh,
Nén hương tế độ cắm đầy lô.
Nam mô khẽ hỏi nhà sư tí,
Phúc đức như ông được mấy bồ ?

7

Quán nước bên đường

Đứng tréo trông theo cảnh hắt heo,
Đường đi thiên thẹo, quán cheo leo.
Lợp lều, mái cỏ tranh xơ xác,
Xỏ kẽ, kèo tre đốt khẳng kheo.
Ba chạc cây xanh hình uốn éo,
Một dòng nước biếc, cỏ leo teo.
Thú vui quên cả niềm lo cũ,
Kìa cái diều ai thả lộn lèo.

8

Chơi Tây Hồ nhớ bạn

Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa,
Người đồng châu trước, biết đâu giờ ?
Nhật Tân đê lở còn in lối,
Trấn Bắc rêu phong vẫn ngấn thơ.
Nọ vực Trâu Vàng trăng lạt bóng,
Kìa non Phượng Đất khói tuôn mờ.
Hồ kia thăm thẳm sâu dường mấy,
So dạ hoài nhân chửa dễ vừa.

9

Hỏi cô hàng sách

Cô hàng lấy sách cắp ra đây !
Xem thử truyện nào thú lại say.
Nữ tú có bao xin xếp cả,
Phương hoa phỏng liệu có còn hay ... ?
Tuyển phu mặc ý tìm cho kỹ,
Chinh phụ thế nào bán lấy may.
Kỳ ngộ bích câu xin tiện hỏi,
Giá tiền cả đó tính sao vay ?

10

Sư bị ong châm

Nào nón tu lờ, nào mũ thâm,
Đi đâu chẳng đội để ong châm.
Đầu sư há phải gì bà cốt,
Bá ngọ con ong bé cái lầm.

++++

11

Đề tranh tố nữ

Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình ?
Chị cũng xinh mà em cũng xinh.
Đôi lứa như in tờ giấy trắng,
Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh.
Xiếu mai chi dám tình trăng gió,
Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh.
Còn thú vui kia sao chẳng thấy,
Trách ông thợ vẽ khéo vô tình !

12

Quả mít

Thân em như quả mít trên cây,
Da nó xù xì, múi nó dày.
Quân tử có thương thì đóng cọc [2]
Xin đừng mân mó nhựa ra tay.

13

Cái quạt

(I)

Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa,
Duyên em dính dáng tự ngàn xưa.
Vành ra ba góc da còn thiếu,
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa.
Mát mặt anh hùng khi tắt gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa.
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng,
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa ?

(II)

Mười bảy hay là mười tám đây
Cho ta yêu dấu chẳng rời tay
Mỏng dày chừng ấy, chành ba góc
Rộng hẹp dường nào, cắm một cây.
Càng nóng bao nhiêu càng muốn mát
Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy
Chúa dấu vua yêu một cái này.

Bản dịch tiếng Anh (Balaban):

The Fan

Are you seventeen or eighteen ? [3]
Let me cherish you by all means.
Thin or thick you display a triangle, and
Large or small I hold you with one hand.
The more it is hot the fresher you will submit,
Not enough love at night, daytime will make it.
Your cheeks are rose pink and give you grace,
Lords and kings love you because of your face.

15

Con cua

Em có mai xanh, có yếm vàng,
Ba quân khiêng kiệu, kiệu nghênh ngang.
Xin theo ông Khổng về Ðông Lỗ,
Học thói Bàn Canh nấu chín thang.

++++

16

Chợ trời

Khen thay con Tạo khéo trêu ngươi,
Bày đặt ra nên cảnh chợ Trời.
Buổi sớm gió đưa, trưa nắng đứng,
Ban chiều mây họp, tối trăng chơi.

17

Chơi đền Khán Xuân

Êm ái chiều xuân tới khán đài,
Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai !
Ba hồi triêu mộ chuông gầm sóng,
Một vũng tang thương nước lộn trời.
Bể ái nghìn trùng khôn tát cạn,
Nguồn ân muôn trượng dễ khơi vơi.
Nào nào cực lạc là đâu tá,
Cực lạc là đây chín rõ mười.

18

Đánh đu [4]

Tám cột khen ai khéo khéo trồng,
Người thì lên đánh, kẻ ngồi trông.
Trai đu gối hạc khom khom cật,
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng.
Bốn mảnh quần hồng bay phất phới,
Hai hàng chân ngọc duỗi song song.
Chơi xuân ai biết xuân chăng tá !
Cột nhổ đi rồi, lỗ bỏ không.

19

Ốc nhồi

Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi
Đêm ngày lăn lóc chốn bùn (đám cỏ) hôi
Quân tử có thương thì bóc yếm
Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi.

20

Giếng nước

Ngõ sâu thăm thẳm tới nhà ông,
Giếng tốt thanh thơi, giếng lạ lùng.
Cầu trắng phau phau đôi ván ghép,
Nuớc trong leo lẻo một dòng thông !
Cỏ gà lún phún leo quanh mép,
Cá giếc le te lách giữa dòng.
Giếng ấy thanh tân ai có biết ?
Đố ai dám thả nạ rồng rồng.
 [5]

++++

21

Đề đền Sầm Nghi Đống

Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,
Kìa đền Thái Thú đứng cheo leo.
Ví đây đổi phận làm trai được,
Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu !

22

Cả nể

Cả nể cho nên hóa dở dang.
Nỗi này chàng có biết không chàng ?
Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc,
Phận liễu sao đà nẩy nét ngang !
Cái tội trăm năm chàng chịu gánh,
Mảnh tình một khối thiếp xin mang.
Quản bao miệng thế lời chênh lệch,
Những kẻ không mà có mới ngoan !

23

Thân phận đàn bà

Hỡi chị em ơi có biết không ?
Một bên con khóc một bên chồng,
Bố cu lỏm ngỏm bò trên bụng,
Thằng bé hu hơ khóc dưới hông.
Tất tả những là thu với vén,
Vội vàng nào những bống bồng bông.
Chồng con cái nợ là như thế,
Hỡi chị em ơi có biết không ?

24

Làm lẽ

Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung !
Năm thì mười họa hay chăng chớ
Một tháng đôi lần có cũng không !
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm
Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
Thân này ví biết đường này nhỉ
Thà trước thôi đành ở vậy xong.

25

Khóc Tổng Cóc [6]

Chàng Cóc ơi ! Chàng Cóc ơi !
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi.
Nòng nọc đứt đuôi từ đấy nhé,
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi !

++++

26

Khóc ông phủ Vĩnh Tường [7]

Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi !
Cái nợ ba sinh đã trả rồi.
Chôn chặt văn chương ba thước đất,
Ném tung hồ thỉ bốn phương trời.
Cán cân tạo hóa rơi đâu mất,
Miệng túi càn khôn thắt lại rồi.
Hai bẩy tháng trời là mấy chốc.
Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi !

27

Đá ông chồng bà chồng

Khéo khéo bày trò tạo hoá công,
Ông Chồng đã vậy lại Bà Chồng.
Tầng trên tuyết điểm phơ đầu bạc,
Thớt dưới sương pha đượm má hồng.
Gan nghĩa dãi ra cùng nhật nguyệt,
Khối tình cọ mãi với non sông.
Đá kia còn biết xuân già giặn,
Chả trách người ta lúc trẻ trung.

28

Tự tình 1

Canh khuya văng vẳng tiếng canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vừng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con.

29

Tự tình 2

Tiếng gà văng vẳng gáy trên hom
Oán hận trông ra khắp mọi chòm.
Mõ thảm không khua mà cũng cốc
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om.
Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ
Sau giận vì duyên đến mõm mòm.
Tài tử văn nhân ai đó tá
Thân này đâu đã chịu già tom !

30

Tự tình 3

Chiếc bách buồn vì phận nổi nênh,
Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh.
Lưng khoang tình nghĩa dường lai láng,
Nửa mạn phong ba luống bập bềnh.
Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến,
Giong lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnh.
Ấy ai thăm ván cam lòng vậy,
Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh.

++++

31

Thương

Há dám thương đâu kẻ có chồng,
Thương vì một nỗi hãy còn không.
Thương con cuốc cũ kêu mùa Hạ,
Thương cái bèo non giạt bể Đông.
Thương cha mẹ nhện vương tơ lưới,
Thương vợ chồng Ngâu cách mặt sông.
Ấy thương quân tử thương là thế,
Há dám thương đâu kẻ có chồng.

Thơ Xuân Hương (bản tiếng Anh)

32

Á nam á nữ [8]

Mười hai bà mụ [9] ghét chi nhau ?
Đem cái xuân tình [10] vứt bỏ đâu ?
Rúc rích thây cha con chuột nhắt [11]
Vo ve mặc mẹ cái ong bầu [12]
Đố ai biết được vông hay trốc [13]
Còn kẻ nào hay cuống với đầu [14]
Thôi thế thì thôi, thôi cũng được,
Nghìn năm khỏi bị tiếng nương dâu [15].

33

Tức cảnh Tề Sở

Đằng quốc tôi nay vốn nhỏ nhen,
Hai bên Tề Sở giữa mà len,
Ngảnh mặt lại Tề e Sở giận,
Quay đầu về Sở sợ Tề ghen.

34

Kiếp tu hành

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo,
Vị gì một chút tẻo tèo teo.
Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc,
Trái gió cho nên phải lộn lèo.

35

Tát nước

Đang cơn nắng cực chửa mưa tè,
Rủ chị em ra tát nước khe.
Lẽo đẽo chiếc gầu ba góc chụm,
Lênh đênh một ruộng bốn bờ be.
Xì xòm đáy nước mình nghiêng ngửa,
Nhấp nhỏm bên bờ đít vắt ve.
Mải miết làm ăn quên cả mệt,
Dang bang một lúc đã đầy phè.

++++

36

Hang Cắc Cớ
Trời đất sinh ra đá một chòm
Nứt làm đôi mảnh hỏm hòm hom.
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn,
Luồng gió thông reo vỗ phập phòm
Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm,
Con đường vô ngạn tối om om.
Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc,
Khéo hớ hênh ra lắm kè dòm.

Bản dịch tiếng Anh:

Cắc Cớ grotto

Yin and Yang created this chunk of rock;
A deep and dark crack split it into two blocks.
Moss covered openings expose themselves with impudence
Wind enhanced firs produce sound of rhythmic cadence.
Drops of romantic water fall with splash
Roads to nowhere lead in dark labyrinth.
Praise to the scuptor inventing this distortion
Indecent exposure invites lots of observation

37

Đèo Ba Dội

Một đèo, một đèo, lại một đèo,
Khen ai khéo tạc vẻ cheo leo.
Cửa son đỏ loét tùm hum nóc,
Hòn đá xanh rì lún phún rêu.
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân cũng muốn trèo.

38

Động Hương Tích

Bày đặt vì ai khéo khéo phòm,
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom.
Người quen cảnh Phật chen chân xọc,
Kẻ lạ bầu Tiên mỏi mắt dòm.
Giọt nước hữu tình rơi thánh thót,
Con thuyền vô trạo cúi lom khom.
Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại,
Rõ lão trời già khéo dở dom.

39

Hang Thánh hoá [16]

Khen thay con tạo khéo khôn phàm,
Một đố giương ra biết mấy ngoàm [17]
Luồn đá cỏ leo sờ rậm rạp,
Lách khe nước rỉ mó lam nham.
Một sư đầu trọc ngồi khua mõ,
Hai tiểu lưng tròn đứng giữa am.
Đến mới biết là hang Thánh hoá,
Chồn chân mỏi gối vẫn còn ham !

40

Trấn Quốc

Ngoài cửa hành cung cỏ dãi dầu,
Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau !
Một tòa sen lạt hơi hương ngự,
Năm thức mây phong điểm áo chầu.
Sóng lớp phế hưng coi vẫn rộn.
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau.
Người xưa, cảnh cũ đâu đâu tá ?
Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu.

++++

41

Lũ trò dốt

Dắt díu nhau lên đến cửa chiền,
Cũng đòi học nói, nói không nên.
Ai về nhắn bảo phường lòi tói,
Muốn sống, đem vôi quét trả đền

42

Trăng thu

Một trái trăng thu chín mõm mòm,
Nảy vừng quế đỏ, đỏ lòm lom,
Giữa in chiếc bích khuôn còn méo,
Ngoài mép đôi cung cánh vẫn khòm.
Ghét mặt kẻ trần đua xói móc,
Ngứa gan thằng Cuội đứng lom khom.
Hỡi người bẻ quế rằng ai đó
Đã có Hằng Nga ghé mắt dòm.

43

Giễu quan Hậu

Tình cảnh ấy, nước non này,
Dẫu không Bồng Đảo cũng tiên đây.
Hoành Sơn mực điểm đôi hàng nhạn,
Thúy Lĩnh đen trùm một thức mây.
Lấp ló đầu non vừng nguyệt chếch,
Phất phơ sườn núi lá thu bay.
Hỡi người quân tử đi đâu đó ?
Đến cảnh sao mà đứng lượm tay.

Xướng họa cùng Chiêu Hổ

44

Xướng I

Anh đồ tỉnh, anh đồ say,
Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày ?
Này này chị bảo cho mà biết,
Chốn ấy hang hùm chớ mó tay.

45

Xướng II

Sao nói rằng năm lại có ba ?
Trách người quân tử hẹn sai ra.
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt [18]

Nhờ hái cho xin nắm lá đa [19]

Hoạ II

Rằng gián thì năm, quí có ba,
Bởi người thục nữ tính không ra.
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt,
Cho cả cành đa lẫn củ đa [20].

++++

46

Xướng III

Những bấy lâu nay luống nhắn nhe,
Nhắn nhe toan những sự gùn ghè.
Gùn ghè nhưng vẫn còn chưa dám,
Chưa dám cho nên phải rụt rè.

Hoạ III

Hỡi hỡi cô bay, tớ bảo nghe,
Bảo nghe không được, gậy ông ghè.
Ông ghè chẳng vỡ, ông ghè mãi,
Ghè mãi rồi lâu cũng phải rè.

47

Già kén kẹn hom

Bụng làm dạ chịu trách chi ai,
Già kén kẹn hom ví chẳng sai.
Tiếc đĩa hồng ngâm cho chuột vọc,
Thừa mâm bánh ngọt để trâu vầy.
Miệng khôn trôn dại đừng than phận,
Bụng ỏng lưng eo chớ trách trời !
Đừng đứng núi này trông núi nọ,
Đói lòng nên mới phải ăn khoai.

48

Dệt lụa

Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau
Con cò mấp máy suốt đêm thâu
Hai chân đạp xuống nâng nâng nhấc
Một suốt đâm ngang thích thích mau
Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả
Ngắn dài khuôn khổ cũng như nhau
Cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ
Có thấm vào trong (ba thu) mới dại màu

Bản dịch tiếng Anh (Balaban):

Nightime Weaving

Light turned on, it is found such a white,
The stalk moves slightly and repeatedly all night.
Pushing with the feet, but lightly release,
Shuttle passing through brings joy and ease.
Large or narrow, small or big they all fit,
Long and short, size and form so be it.
To make it best, girl needs to soak it long time.
The cloth color won’t fade if absorbed inside.

49

Sư hổ mang

Chẳng phải ngô, chẳng phải ta,
Đầu thì trọc lốc áo không tà.
Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm,
Vãi nấp sau lưng sáu bảy bà.
Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe,
Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha.
Tu lâu có lẽ lên sư cụ
Ngất nghểu tòa sen nọ đó mà.

50

VỊNH THĂNG LONG HOÀI CỔ

Ngân ngất tầng mây một dải cờ
Kinh thành ngày trước, tỉnh bây giờ
Tượng đồng Trấn Vũ hương còn ngát
Bia đá Khuê Văn chữ chửa mờ
Bảo tháp lơ thơ chòm cỏ mới
Hồ sông lai láng bóng trăng xưa
Nào ai Cố lão ra đây hỏi
Chốn cũ phồn hoa đã phải chưa?

++++

51

THƠ THỊ ĐỂU

Kén chọn làm chi thế ối anh
Lấy ai khuynh quốc lại khuynh thành
Vô duyên nên nỗi người chê đểu
Có đẹp chăng thời gái ở tranh
Ghét mặt cục vàng ra cục đất
Tắt đèn nhà ngói bẵng nhà gianh
Thay lời mượn bút đem thư gửi
Nghĩ lại sao cho để được đành.

52

CHI CHI CHUYỆN ẤY

Chi chi chuyện ấy đã đành lòng
Vó Ký phen này quyết thẳng rong
Non nước chơi hoài non nước đó
Gió giăng nào phải gió giăng không
Mặt càng đối mặt tình ngao ngán
Tay chửa rời tay bước ngại ngùng
Lão Nguyệt lẽ nào trêu quải mãi
Chén đồng xin hẹn khắc đêm đông.

53

CHƠI HOA

Đã chót chơi hoa phải cố trèo
Trèo lên trèo xuống mỏi xương kheo
Cành la cành bổng vin co vít
Bông chín bông xanh để lộn phèo.

54

NGÃ TỐC VÁY LÀM THƠ TỰ VỊNH

Vén đám mây lên tỏ mặt trời
Lác coi từng đám rõ từng nơi
Giang sơn đâu đó nhô đầu dậy
Hoa cỏ quen hơi mỉm miệng cười.

55

XƯỚNG HỌA VỚI QUAN TẾ TỬU HỌ PHẠM

Xuân Hương xướng:
Kìa ai tỉnh, kìa ai say
Kìa ai ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Khoan khoan xin hãy dừng tay lại
Chớ mó hang hùm nữa mất tay.

Họ Phạm (Chiêu Hổ) họa lại :
Nào ai tỉnh, nào ai say
Nào ai ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Ví dầu hang chẳng cho ai mó
Sao có hùm con bỗng trốc tay.


[1John Balaban là một thi sĩ Mỹ nổi tiếng và giáo sư ngành văn học Anh- Mỹ của North Caroline University, từng sống ở Việt Nam, nói và đọc được tiếng Việt. Ông đã dịch thơ của Xuân Hương sang tiếng Anh và tháng 10/2000 cho xuất bản cuốn Spring Essence: The Poem of Ho Xuan Huong.

[2Dân ta thường đóng cọc vào nõ quả mít rồi đem phơi nắng cho chóng chín.

[3Seventeen or nineteen branches of the fan could be understood as seventeen or eighteen.

[4Có thể bài này phỏng theo bài "Vịnh cây đu" vốn có từ hơn 200 năm trước trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập

[5"Nạ" tức mẹ cá quả (cá lóc) khi nuôi đàn con ("rồng rồng") thì rất dữ và cảnh giác. Cái giếng thơi chỉ cô gái "thanh tân" mà "lạ lùng", "đố ai dám thả" câu vì có mẹ canh giữ.

[6Theo giai thoại khác thì Hồ Xuân Hương làm bài này khi phải rời bỏ chàng Tổng Cóc còn đang sống, do sự rẽ duyên của người vợ cả và gia đình chồng. Tức mình bà mới đưa cả họ hàng nhà cóc: (chẫu) chàng, (nhái) bén, nòng nọc, (chẫu) chuộc, vào bài thơ để giễu (nếu giễu khi chồng chết thì quá trái phong tục).

[7Huyện Tam Đái đến năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) mới đổi thành phủ Vĩnh Tường, thời gian này, HXH hoặc đã quá lớn tuổi hoặc là đã mất, khó có thể làm vợ lẽ cho quan phủ. Trong cuốn Quốc sử Di biên viết vào khoảng 1851 (đời Tự Đức) của thám hoa Phan Thúc Trực [Ông này sinh 1808 dưới thời Gia Long, mất năm 1852, mười lần đỗ tú tài nên còn gọi là Thám Mười, mãi đến cuối đời Thiệu Trị mới ra làm quan (1847)] có đoạn chép câu chuyện xảy ra khoảng năm 1819 (Kỷ Mão, gần cuối đời Gia Long): “Xuân Hương là thiếp của quan Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiển. Bà Xuân Hương vốn giỏi văn chương và chánh sự nên người đương thời khen là nữ tài tử. Quan Tham hiệp thường sai Xuân Hương can dự vào những việc bên ngoài, thủ hạ đem lòng thù ghét vu cho tội tham nhũng vì thế bị giam (1718) và sau đó bị án tử hình (1819).” BH

[8Người vô giới tính bẩm sinh (bài này thường bị gọi nhầm là "Quan thị")

[9Dân gian tin rằng có 12 bà mụ nặn thành hình đứa hài nhi.

[10Cái xuân tình: bộ phận sinh dục.

[11Ca dao: "Con gái mười bảy mười ba / Đêm nằm với mẹ chuột tha mất..."

[12Ca dao: "Bà già đánh trống long bong / Vừa đi vừa nhảy như ong đốt..."

[13Tục ngữ "Ngồi: lá vông; chổng mông: lá trốc", chỉ bộ phận sinh dục nữ.

[14Tục ngữ "Đầu trỏ xuống, cuống trỏ lên", chỉ bộ phận sinh dục nam.

[15"Tiếng nương dâu" là tiếng xấu về bãi trồng dâu, nơi trai gái thường làm những chuyện kín. Nguyễn Du: "Ra tuồng trên bộc trong dâu / Thì con người ấy ai cầu làm chi" (Kiều).

[16Tên một hang ở chùa Thầy, tương truyền sư tổ Từ Đạo Hạnh đã hoá ở đây.

[17Thành ngữ "ngoàm nào đố ấy" nói về cấu trúc liên kết trong nhà cổ truyền: đố tre thì ngoạm tre; đố gỗ thì ngoàm gỗ. "Một đố nhiều ngoàm" ở đây nói về cấu tạo hang động tự nhiên.

[18Cổ tích nói Thằng Cuội bay lên Cung Trăng của chị Nguyệt

[19Thành ngữ: "Dối như Cuội". Ca dao: "Thằng Cuội ngồi gốc cây đa..."

[20Ám chỉ bộ phận sinh dục nam.