Xem lẹ

Trang nhà > Nghệ thuật > Tạo hình > Thời kỳ đầu của hội hoạ Kitô giáo

Thời kỳ đầu của hội hoạ Kitô giáo

Thứ Bảy 22, Tháng Mười Một 2008

Không có một nền hội hoạ nào tồn tại bền bỉ - mặc dầu phải trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử - mà vẫn phát triển được một cách liên tục như nền hội hoạ Kitô giáo

Mặc dầu trong hơn hai thế kỷ đầu Công Nguyên, đạo Kitô đã bị cấm đoán, đàn áp bởi các hoàng đế La Mã, và đã không để lại dấu tích nào đáng kể về nền nghệ thuật Kitô giáo trong thời kỳ này, ngoại trừ vài bức bích hoạ tìm thấy trong các hầm mộ (catacombes) ở Roma, hay vài tác phẩm tìm thấy ở Edesse (Syrie) và ở Doura-Europos (Lưỡng Hà), song nếu chỉ kể từ thế kỷ IV trở đi, khi đạo này đã trở thành quốc giáo, chúng ta sẽ thấy rằng : trong lịch sử nghệ thuật, không có một nền hội hoạ nào tồn tại bền bỉ - mặc dầu đã phải trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử - mà vẫn phát triển được một cách liên tục như nền hội hoạ Kitô giáo.

Bích hoạ ghép mảnh ở Ravenne (thế kỷ V): Justinien, hoàng đế Đông La Mã và Tổng giám mục

Chỉ cần so sánh nền hội hoạ này với những nền hội hoạ cổ đại Ai Cập, Hy Lạp, La Mã, và ngay cả với những nền hội hoạ ở phương Đông, như hội hoạ cổ điển Trung Quốc. Hội hoạ cổ đại Ai Cập, trong cả mấy ngàn năm, đã không phát triển được, do những quy ước gần như bất di bất dịch, không chỉ về mặt thẩm mỹ, mà chủ yếu về mặt tôn giáo. Hội hoạ cổ điển Trung Quốc, trong nhiều thế kỷ cũng đã không có mấy thay đổi, do cái tư tưởng minh triết của người Trung Quốc (vô ý, vô cố, vô ngã, không loại trừ, không tranh đua, v.v.).

Ravenne, Byzance, và thời kỳ đầu của hội hoạ Kitô giáo

Năm 323, khi đạo Kitô được hoàng đế La Mã Constantin tôn lên hàng quốc giáo, và Byzance trở thành thủ đô mới của Kitô giáo, thì trong giáo hội có hai quan điểm đối lập nhau trên vấn đề thể hiện, hay không thể hiện hình tượng của Chúa Giêxu và các thánh trong các nơi thờ cúng và ngoài đời thường.

JPEG - 77 kb
Bích hoạ trong hầm mộ ở Roma (thế kỷ IV): Giêxu

Đức giáo hoàng Gregoire Le Grand, người đứng đầu giáo hội Tây La Mã ở cuối thế kỷ IV, chủ trương ủng hộ quan điểm thứ nhất, ngài cho rằng hình tượng nghệ thuật có thể giúp cho các tín đồ hiểu các truyện tích trong Kinh thánh hơn, vì phần đông dân chúng thời ấy không biết chữ.

Người ta bắt đầu chú trọng đến sự sáng sủa, rõ ràng, của ngôn ngữ hội hoạ, dù cho có phải đánh mất đi những nét tinh tế của hội hoạ Hy-La ngày trước. Tuy nhiên, hội hoạ Kitô giáo ở thời kỳ này vẫn giữ được những nét tế nhị của hội hoạ Hy-La cổ điển, và về căn bản, tính chất nguyên khai của nó cũng có một giá trị thẩm mỹ nhất định.

Các nghệ sĩ Kitô giáo người La Mã, ngay từ đầu, đã có một quan niệm và một phong cách diễn đạt khác hẳn với các nghệ sĩ người ngoài đạo trong truyền thống Hy-La cổ điển trước kia, thường thiên về tả chân, đôi khi hơi rườm rà. Bây giờ, người hoạ sĩ Kitô giáo thể hiện các chủ đề tôn giáo một cách cô đọng và tượng trưng hơn. Các tác phẩm ghép mảnh ở Ravenne, cũng như các bức tranh thờ "icônes" vẽ trên gỗ, là những thí dụ tiêu biểu cho phong cách này.

Tuy nhiên, truyền thống hội hoạ cổ điển Hy Lạp vẫn là một chỗ dựa, ít ra về mặt kỹ thuật, cho nền hội hoạ Kitô giáo vừa mới hình thành. Người ta đã được biết trình độ và phong cách của các hoạ sĩ người Hy Lạp và La Mã qua những bức chân dung mà họ đã thực hiện ở Ai Cập, Pompei, v.v.vào những thế kỷ đầu Công Nguyên. Đó là một nền hội hoạ hiện thực, theo nghĩa : vẽ những điều mắt ta nhìn thấy.

Văn Ngọc (Forum)


Xem online : Hội hoạ thời Trung cổ