Trang nhà > Gia đình > Tình cảm > Tìm hiểu bệnh tự kỷ

Tìm hiểu bệnh tự kỷ

Thứ Hai 16, Tháng Bảy 2007

NGUYỄN ĐÌNH CHƯƠNG: Tác giả là Ủy Viên Hội Đồng Phát Huy và Bảo Tồn Cộng Đồng Garden Grove từ năm 2004. Ông tốt nghiệp kỹ sư điện toán tại University of Washington và cao học ngành điện tại trường đại học California State Long Beach, hiện học hàm thụ luật khoa trường Southern California University for Professional Studies và làm giáo viên tiếng Việt tại Trung Tâm Việt Ngữ Hồng Bàng, USA.

JPEG - 30.5 kb
Một buổi sinh hoạt của trẻ em tự kỷ tại Trung tâm Sao Mai - Ảnh: Xuân Phú

Trẻ em mắc bệnh Tự Kỷ là một trong những đối tượng của Đạo Luật I.D.E.A. (Individuals with Disabilities Education Act), được hưởng quyền lợi về học vấn thích hợp và miễn phí FAPE (Free and Appropriate Public Educational). Sự hiểu biết về chứng bệnh Tự Kỷ sẽ giúp phụ huynh lo liệu cho các em được hưởng những quyền lợi giáo dục thích đáng theo những đạo luật liên quan hiện hành. Sau đây là tóm tắt những khám phá về căn bệnh này đã được công bố trên các đặc san chuyên môn.

Theo báo USA Today(1), số ra tháng 10-2004, “Bệnh Tự Kỷ (Autism) từng được xem là một bệnh hiếm, nhưng hiện nay đang lan tràn, cứ 150 thì có 1 trẻ em bị Tự Kỷ. Sự lan tràn của bệnh này … được xem như là một cơn dịch.” Nguyên nhân chính của bệnh Tự Kỷ vẫn trong vòng bí ẩn, tuy nhiên một số dữ kiện chắc chắn đã được khám phá và những nghiên cứu mới đang được thực hiện về bệnh Tự Kỷ.

Sự nhận thức về nỗi hiểm nguy của tật bệnh luôn luôn là bước đầu cho việc chẩn đoán và chữa trị, điều đó càng quan trọng hơn đối với bệnh Tự Kỷ, căn bệnh mà “đến 25% số bệnh nhân có thể ngăn ngừa nếu được phát hiện sớm và được điều trị tập trung về cách cư xử” theo như bản báo cáo của Education Week(2) vào ngày 26-11-2003. Đầu tiên chúng ta sẽ nêu ra những kiến thức căn bản về bệnh Tự Kỷ, rồi phân loại những học thuyết về bệnh này, và cuối cùng sẽ tìm hiểu những phương pháp chữa trị hiện nay và trong tương lai dựa theo kết quả của những cuộc nghiên cứu.

Khoa học đã tìm ra nhiều điều thú vị về bệnh Tự Kỷ. Để định nghĩa về bệnh này, thể theo bài báo USA Today(1) đề cập bên trên, “Bệnh Tự Kỷ là hậu quả của sự rối loạn thần kinh não bộ làm ảnh hưởng chức năng của vùng quan hệ tương giao xã hội và vùng kỹ năng giao tiếp truyền thông (communication).”

Hệ thống não bộ của con người chia ra làm 2 bán cầu não, 4 thùy não, và được liên đới với những giác quan và kỹ năng khác nhau như ngôn ngữ và cơ vận động (thùy trước), thị giác (thùy sau), khả năng đọc sách và vị giác (thùy phải), khả năng thính giác và khứu giác (thùy trái). Các não bộ được cấu trúc từ những phần tử căn bản gọi là “neuron”, và tín hiệu được truyền đạt trong não bộ qua một quá trình phản ứng hoá học thật nhanh giữa các neuron (neurotransmitter). Sự rối loạn của não bộ gây tình trạng tín hiệu không được lan truyền trên vùng quan hệ tương giao và kỹ năng giao tiếp truyền thông, làm cho các em trở thành Tự Kỷ.

Một điều đáng mừng là não bộ có khả năng tự thích nghi với điều kiện khiếm khuyết của mình và kỹ năng giao tiếp truyền thông có thể dạy được cho những trẻ em Tự Kỷ. Theo báo cáo của California Institute of Behavior of Analysis, ngày 30-11-2004, “Sự Phát Hiện Sớm và Điều Trị Tập Trung Cách Cư Xử có thể cải thiện điều kiện sống của hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả trẻ em bị bệnh Tự Kỷ.”(3) Theo USA Today(1), “nếu không được điều trị, hầu hết trẻ em bị bệnh Tự Kỷ sẽ không bao giờ có thể giao tiếp hoặc sống một cuộc đời bình thường.”

Nguyên nhân của bệnh Tự Kỷ

Có hai học thuyết chính:

1. Học thuyết đầu cho rằng bệnh Tự Kỷ gây ra bởi hoá chất trong não bộ bị xáo trộn. Học thuyết này dựa trên và dẫn đến sự tranh cãi về nồng độ Thủy Ngân (Mercury) trong thuốc chủng ngừa đã dùng trong quá khứ có thể là nguyên nhân dẫn đến bệnh Tự Kỷ(4). Xin nói thêm về chất Thủy Ngân, một khi vào trong cơ thể con người sẽ tồn tại và chỉ tích lũy thêm, không sao đào thải ra ngoài được. Chất Thủy Ngân đã được chứng minh làm xáo trộn sự vận hành của não bộ (neuraltransimitter process). Một giả thuyết khác cho rằng sự căng thẳng (stress) lúc trẻ thơ đã gây thay đổi lượng hoá chất CRH làm chậm sự phát triển của não bộ.(5) Một giả thuyết cũng khá thịnh hành cho rằng loại vi khuẩn Helicobacter pylori có trong ruột và dạ dày đã ảnh hưởng đến sự sản sinh ra hóa chất dùng trong não bộ.(6)

2. Học thuyết thứ hai cho rằng bệnh Tự Kỷ là do bởi hình dáng của não bộ. Học thuyết này được ủng hộ bởi những giả thuyết như báo cáo tìm thấy nhiễm sắc thể 6 DNA làm thay đổi gene AHI1 tạo nên nếp gấp trong não bộ và là nguyên nhân của bệnh Jubert Syndrome.(7) Một báo cáo khác của Science News ngày 31-7-2004, tuyên bố rằng những ảnh chụp não bộ của các bé trai mắc bệnh Tự Kỷ từ 7 đến 12 tuổi cho thấy các em có hạch Hạnh (amygdala) lớn hơn của những em trai bình thường. Cũng theo học thuyết này, hiện nay đang có nhiều cố gắng nghiên cứu về di truyền học mong khám phá ra sự đột biến di truyền là nguyên nhân gây ra bệnh Tự Kỷ.

Trong lãnh vực chữa trị, có một số phương pháp hoặc thuốc men đang được dùng cho bệnh Tự Kỷ. Tuy nhiên, chỉ có cách “Phát Hiện Sớm và Điều Trị Tập Trung Cách Cư Xử” (Early Detection and Intensive Behavioral Intervention) là cách duy nhất được biết đến và được chứng minh là hiệu quả cho bệnh Tự Kỷ. Cách này thường dùng phương pháp Phân Tích Ứng Dụng Cư Xử (Applied Behavior Analysis – viết tắt là ABA) để giúp các em. Nói nôm na, phương pháp ABA dạy các em một chức năng bằng cách phân tích lối cư xử đúng cho chức năng đó ra nhiều phần hoặc giai đoạn nhỏ để dạy và sửa sai cho các em. Thí dụ để dạy các em biết tự ăn cơm, việc ngồi, việc cầm muỗng thìa, việc đút vào miệng, … sẽ được dạy cho các em từng bước một.

Những môn thuốc khác dựa trên học thuyết cho rằng hoá chất bị rối loạn đã bàn ở trên là:

  • uống thuốc trụ sinh giúp cho những em có vi khuẩn Helicobacter pylori;
  • uống vitamin A và vitamin B6 với liều mạnh;
  • kiêng cữ Glutin và Cafein nhằm giúp giảm sự hung hăng và tật ngủ bất thường.

Mặc dù nguyên nhân chính chưa được tìm thấy, khoa học đã khám phá ra nhiều dữ kiện về bệnh Tự Kỷ giúp khơi ngòi cho những nghiên cứu và phương pháp chữa trị mới cho căn bệnh mà trước đây xem như là bất lực. Hiểu rõ khái quát về căn bệnh này sẽ giúp cho những phụ huynh bớt sợ hãi khi biết con mình mắc bệnh Tự Kỷ. Bớt đi lo âu, phụ huynh có thể bắt tay giúp đỡ con mình một cách thiết thực, thích hợp, và đạt được kết quả nhiều nhất.

Tham Khảo:

(1) Anonymous. “Children Can Be taught to Socialize.” USA Today. New York: Oct 2004. Vol. 133, Iss. 2713; pg. 15.

(2) Lisa Goldstein. “Federal plan on autism announced” Education Week. Washington: Nov. 26, 2003. Vol 23, Iss. 13; pg. 6.

(3) Letter from CEO, http://www.ciba-inc.com, Nov. 30, 2004.

(4) Maryann Napoli. “Mercury in Vaccines: New Report.” Health Facts. New York: Aug. 2004. Vol.29, Iss. 8; pg. 3, 2 pgs.

(5) CRH PLC, “Autism; Early life stress can inhibit development of brain-cell communication zones.” Science Letter. Atlanta: Nov. 9, 2004, pg. 87.

(6) Dr. Richard Sandler, “Antibiotics yield ‘dramatic’ autism benefits”, BBC News, July 18, 2000.

(7) Joseph Gleeson, MD. “Jubert Syndrome; Gene for Joubert syndrome with excessive brain folds discovered.” Genomics & Genetics Weekly. Atlanta: Nov. 12, 2004, pg. 119.

JOHN NGUYỄN ĐÌNH CHƯƠNG, Việt Báo