Xem lẹ

Trang nhà > Quan niệm > Quyền lực > Tìm hiểu chính trị thế giới thế kỷ 21

Tìm hiểu chính trị thế giới thế kỷ 21

Thứ Tư 12, Tháng Ba 2014

Ngày nay có nhiều thứ chỉ ra rằng chúng ta đang trải qua một giai đoạn chuyển đổi, khi mà có vẻ như một số thứ đang trên đà biến mất và thứ khác đang được sinh ra trong đau đớn. Chuyện đó như thể cái gì đó đang tự nó vỡ vụn, suy tàn và kiệt quệ, trong khi có những thứ khác, vẫn còn chưa tồn tại, đang nổi lên từ đống đổ nát.

Vaclav Havel – Nhà viết kịch, cựu tổng thống Cộng hòa Séc

Khi người ta sử dụng thuật ngữ “quan hệ quốc tế”, người ta thường nói tới các mối tương tác giữa các quốc gia[1] có lãnh thổ và tự chủ mà không có quyền lực nào cao hơn để điều chỉnh hành vi của chúng. Những ghi nhận sớm nhất về các nhà nước như vậy là ở vùng Lưỡng Hà cổ đại, nơi có khoảng hơn hai chục thành bang (city-state) nảy nở trên vùng đồng bằng châu thổ giữa sông Tigris và sông Euphrates. Các nhà khảo cổ học tin rằng văn minh đã khởi nguồn từ Sumeria, rìa phía nam của khu vực này, nơi tiếp giáp với đường bờ biển của cái mà ngày nay chúng ta gọi là Vịnh Ba Tư (Vịnh Pec-xích). Ở đây người ta đã tìm thấy bằng chứng về bánh xe và lưỡi cày đầu tiên, việc sử dụng rộng rãi chữ viết và thuật luyện kim, những đạo luật và hợp đồng kinh doanh đầu tiên, cũng như việc sản xuất bia lần đầu, mà trong đó có đến 19 loại khác nhau (Fields, Barber, and Riggs 1998; Durant 1954).

Vào khoảng năm 2500 trước Công nguyên, một thành bang điển hình ở Sumeria đã có hàng ngàn cư dân, mà phần lớn sống trong những bức tường cao làm bằng gạch và bùn. Cần thiết phải phòng thủ vì địa hình bằng phẳng của vùng phía nam Lưỡng Hà làm cho các thành bang dễ bị tấn công, và xung đột thường xuyên về vấn đề quyền sử dụng nước, các bãi chăn thả gia súc, và các tuyến đường thương mại làm cho chiến tranh trở thành một mối đe dọa thường trực. Các quân đội người Sumeria gồm bộ binh trang bị cung tên và xe kéo 4 bánh. Binh lính đội mũ bằng đồng và áo giáp thô sơ, mang khiên hình chữ nhật lớn và có trang bị giáo, kiếm, và rìu (Keegan 1993). Chiến đấu thường ở cự li gần. Người chiến thắng trong những cuộc chiến tàn khốc này nô dịch bên thua cuộc, cướp bóc đất đai và biến dân cư ở đó thành nô lệ.

Cuộc xung đột giữa các thành bang Lagash và Umma là một ví dụ điển hình cho tính chất khốc liệt của chiến tranh ở Sumeria. Sau hàng thế hệ thù hằn gián đoạn, một đội quân do vua Lugal-Zaggisi của Umma dẫn đầu cuối cùng đã áp đảo Lagash (khoảng năm 2350 trước Công nguyên). Ông ta cướp bóc thành phố, tàn sát người dân, và trong một động thái mang tính xúc phạm, đã trói những bức tượng các thần linh của họ lại. Trong một tác phẩm văn chương vào loại cổ xưa nhất của loài người, nhà thơ Dingiraddamu đã than khóc cho nữ thần bảo trợ của Lagash: “Ôi nữ thần của thành phố tôi, bị tàn phá, khi nào Người mới quay trở lại?”

Chiến tranh tiếp tục tàn phá vùng Lưỡng Hà rất lâu sau cuộc xung đột bi thảm giữa Lagash và Umma. Trong suốt một thiên niên kỉ, nhiều quân đội đã tiến vào vùng này. Khi nhìn nhận qua lăng kính lịch sử, chiến dịch quân sự do Mỹ dẫn đầu trong mùa xuân năm 2003 chống lại lãnh đạo Iraq Saddam Hussein đơn thuần chỉ là cuộc chiến gần đây nhất bùng phát ở vùng đất cổ xưa này. Nhưng nó là một cuộc chiến khác với các cuộc chiến khác. Được xem là cuộc chiến tranh kỹ thuật số đầu tiên trên thế giới, nó sử dụng các hình thức liên lạc qua mạng để tập hợp các dữ liệu từ nhiều nguồn nhằm phối hợp các cuộc không kích chính xác với các cuộc tấn công trên đất liền. Không giống sự hỗn loạn bao phủ các chiến trường cổ đại, các chỉ huy người Mỹ cách chiến trường hàng trăm dặm có thể kiểm soát các diễn biến khi chúng xảy ra. Trong khi quân thám báo truyền tải những báo cáo không đều đặn về phòng thủ của đối phương tới Lugal-Zaggisi, thì máy bay không người lái Predator, máy bay có Hệ thống Kiểm soát và Cảnh báo trên không (AWACS), và các đơn vị đặc nhiệm được đổ bộ vào đằng sau chiến tuyến của kẻ thù bởi máy bay trực thăng mang lại cho Tướng Tommy Franks một chuỗi tin tình báo liên tục. Trong khi các chiến binh Sumeria ném vào trận một loạt tên và lao trước khi tiếp cận kẻ thù, thì các binh sĩ Mỹ sẽ kì vọng một đợt bắn yểm hộ có tính tàn phá của tên lửa hành trình, máy bay chiến đấu tàng hình, và các máy bay ném bom hạng nặng để bắt đầu một chiến dịch. Nói ngắn gọn, tốc độ và sự linh hoạt giờ đây đã thay thế cho số đông; thông tin và hỏa lực thay thế cho những con số đơn thuần.

Xung đột quân sự giữa Lagash và Umma cách chúng ta hơn 4 thiên niên kỉ. Chúng ta có thể học được gì về chính trị thế giới đương đại thông qua việc so sánh chiến tranh ở Lưỡng Hà cổ đại và Iraq hiện đại? Khá đơn giản, nó nhắc nhở chúng ta rằng chính trị[2] giữa các quốc gia là một hỗn hợp của sự tiếp nối và thay đổi. Một mặt, các quốc gia tồn tại dưới cái mà nhà khoa học chính trị Kenneth Waltz (1979) gọi là “bóng ma ám ảnh của bạo lực” từ thời xa xưa. Mặt khác, cách mà các lực lượng vũ trang sử dụng bạo lực đã thay đổi đáng kể. Trong một thời đại của các tiến bộ nhanh chóng về khoa học và kĩ thuật, chúng ta dễ tập trung vào những cách tân mới nhất mà chối bỏ quá khứ, coi như chẳng liên quan. Thay đổi là cái gì đó rất cuốn hút; nó thu hút sự chú ý của chúng ta và khuyến khích trí tưởng tượng của chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng một số đặc điểm của chính trị thế giới tồn tại tương đối lâu dài. Khi nhìn nhận chính trị thế giới có thể ảnh hưởng tới tương lai toàn cầu như thế nào, chúng ta cần phải chú ý nhiều tới sự tiếp nối lâu dài này cũng như nguồn gốc của các thay đổi lớn lao. Nếu như tương lai có vẻ không chắc chắn đối với chúng ta, là một nơi bí ẩn với vô vàn những bất ngờ, thì thường là bởi chúng ta đã không chú ý tới việc bao nhiêu thứ nằm ở phía trước sẽ trở thành cái mà nhà lịch sử kinh tế Robert Heilbroner (1960, 15) gọi là “hệ lụy kết tinh được kì vọng từ quá khứ” và “cái rìa kéo dài của hiện tại”.

Rất khó để nhìn xa hơn những giới hạn của thời kì chúng ta đang sống. Nó đòi hỏi phải thừa nhận ảnh hưởng của những sự kiện ngày hôm qua đến thực tiễn của ngày hôm nay và cách mà các ý tưởng và hành động hiện tại có thể định hình tương lai. Như nhà triết học và toán học Gottfried Wilhelm Leibniz đã từng nói, “Hiện tại quan trọng với tương lai, tương lai có thể được nhìn nhận thông qua quá khứ.” Do đó, để hiểu được những sự kiện đang diễn ra và dự đoán chúng có thể ảnh hưởng tới tương lai ra sao, chúng ta sẽ nhìn nhận chúng trong bối cảnh của một quan điểm dài hạn, qua đó xem xét cách một vài khía cạnh của hệ thống[3] chính trị quốc tế – hay hình mẫu tương tác giữa các chủ thể chính trị thế giới – đã kháng cự lại sự thay đổi ra sao, trong khi các khía cạnh khác lại thay đổi rất nhiều như thế nào.

Sự tiếp nối và thay đổi trong chính trị thế giới

Hãy tưởng tượng bản thân bạn trở về nhà sau chuyến đi nghỉ 2 tuần tới một hòn đảo vùng nhiệt đới ở nơi bạn không thể tiếp cận với tin tức. Chuyến đi đã đem lại cho bạn một kì nghỉ đáng giá, thoát khỏi trường học và cho phép bạn xả hơi với một vài người bạn vào cuối học kì. Nhưng nay bạn đang tò mò xem chuyện gì đã xảy ra trong khi bạn đi vắng. Khi bạn liếc vào một tờ báo mà ai đó đang đọc ở khu nhận hành lý kí gửi tại sân bay, các tiêu đề đập vào mắt bạn. Chúng chỉ ra rằng quân nổi dậy ở Iraq đã lấy đi mạng sống của nhiều binh sĩ Mỹ, bao gồm cả một người vừa tốt nghiệp một trường trung học địa phương. Trong khi trở về nhà từ sân bay, bạn nghe một chương trình radio về việc nhu cầu dầu mỏ nước ngoài của Mỹ tăng lên và sự bất ổn chính trị ở Nigeria và nhiều nước sản xuất dầu mỏ chính yếu khác. Nhìn qua vào các biển báo trạm dịch vụ dọc đường cao tốc bạn nhận ra giá xăng đã tăng đáng kể, làm cho việc đi lại hằng ngày tới nơi làm thêm của bạn đắt đỏ hơn. Ngay sau khi về nhà, bạn kết nối mạng và thấy rằng giá của đồng euro đã tăng tương đối so với giá đô la Mỹ, và bạn bắt đầu lo lắng về chi phí cho khóa du học mà bạn dự định thực hiện ở châu Âu vào kì sau. Cuối cùng, trong khi nghe tin tức trên tivi vào tối muộn ngày hôm đó, bạn nghe được nhiều báo cáo khác: các quan chức địa phương trên cả nước đã bắt đầu phàn nàn rằng ngân sách đảm bảo an ninh nội địa của liên bang đang được gắn quá chặt với việc chống lại các cuộc tấn công có thể xảy ra của Al Qaeda đến mức đã bỏ qua một vài nguy cơ nghiêm trọng khác; do nhu cầu ngày càng tăng ở Trung Quốc và Ấn Độ, các chương trình nhiên liệu sinh học đang phát triển ở châu Âu và Bắc Mỹ, và hạn ngạch xuất khẩu của các nhà sản xuất chính, nên giá ngũ cốc đã tăng trên khắp thế giới, dẫn đến việc Ngân hàng Thế giới dự tính rằng 33 nước đang có nguy cơ nội chiến vì thiếu lương thực; và, liên quan đến sự bất ổn của thị trường tín dụng toàn cầu, nhiều ngân hàng chủ chốt ở Mỹ đã cho biết rằng họ sẽ tạm thời dừng cho vay đối với học sinh nhập học các trường cao đẳng cộng đồng và nhiều trường nhỏ khác.

Mặc dù chúng ta có văn chương hóa nó một chút, bối cảnh vừa được mô tả không phải là giả định hoàn toàn; nó xuất phát từ rất nhiều sự kiện đã thực sự diễn ra vào tháng 5 năm 2008. Khi nghĩ về cái tháng khá đặc thù này, người ta không thể không bị nhắc nhở rằng chúng ta đều bị ảnh hưởng bởi những sự kiện diễn ra ở xa xôi và rằng tất cả chúng ta đều có lợi khi có thể nắm bắt tốt hơn nguyên nhân và kết quả của chúng. Nhưng làm sao chúng ta có thể hiểu rõ nhất những biến động mà 6,7 tỉ người trên thế giới phải đối mặt hằng ngày? Liệu những cú sốc thi thoảng lại bùng phát trên khắp thế giới có mở đường cho một trật tự thế giới hoàn toàn mới của thế kỉ 21 không? Hay liệu rất nhiều những rối loạn khủng khiếp ngày nay thực sự chỉ là nhất thời, chỉ là những đường tăng bất thường trên bản vẽ địa chấn của lịch sử?

Vào lúc khởi đầu của một thế kỉ mới, người ta thường suy xét về tương lai toàn cầu. Thế giới mới sẽ như thế nào? Liệu nhân loại có tốt hơn trong những năm sắp tới không? Hay sẽ phải chịu đựng nhiều hơn? Chúng tôi mời bạn khám phá những câu hỏi này với chúng tôi. Để bắt đầu cuộc tìm kiếm câu trả lời của chúng ta, hãy kiểm nghiệm xem sự khác nhau giữa tiếp nối và thay đổi trong lịch sử thế giới có thể giúp gì cho chúng ta trong việc định hướng các nỗ lực của mình.

Ở một mức độ nào đó, mỗi giai đoạn lịch sử được đánh dấu bởi sự thay đổi. Tuy nhiên hiện nay tốc độ thay đổi có vẻ nhanh hơn và tác động của nó có vẻ sâu rộng hơn bao giờ hết. Đối với nhiều người quan sát, dòng thác sự kiện ở đầu thế kỉ 21 ám chỉ một sự tái cấu trúc mang tính cách mạng của chính trị thế giới. Nhiều xu hướng mang tính hợp nhất cho thấy đó là điều khả thi. Các quốc gia trên thế giới đang tiến lại gần nhau trong truyền thông và thương mại, sản sinh ra một thị trường toàn cầu hóa. Nhưng đồng thời, các xu hướng phân rã lại vẽ nên một bức tranh kém tươi sáng hơn. Sự phổ biến vũ khí, suy giảm môi trường toàn cầu, và sự hồi sinh của xung đột sắc tộc đều báo trước một nỗi lo lắng về tái cấu trúc đi cùng với sự mất trật tự. Để dự đoán lực lượng nào sẽ chiếm ưu thế trong tương lai, chúng ta phải nhận ra rằng không có xu hướng nào đứng riêng lẻ. Tương lai bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, mỗi yếu tố lại gắn kết với những yếu tố khác trong một mạng lưới liên kết phức tạp. Nhìn chung, những xu hướng này có thể tạo ra sự ổn định bằng cách giới hạn các ảnh hưởng của bất cứ lực lượng phá hoại đơn lẻ nào. Chúng cũng có khả năng tăng tốc độ thay đổi, đẩy chính trị thế giới đi theo những hướng nhất định.

Như Vaclav Havel đã gợi ý trong phần mở đầu của chương này, chúng ta dường như đang đi qua một giai đoạn chuyển tiếp trong chính trị thế giới. Các lực lượng đối lập của sự hợp nhất và phân rã hướng tới sự biến đổi, nhưng hệ quả trong dài hạn của nó vẫn còn chưa rõ ràng. Thời khắc chuyển đổi từ một hệ thống này sang một hệ thống khác không rõ ràng ngay lập tức. Tuy nhiên, có những thời điểm nhất định đặc biệt có khả năng diễn ra sự chuyển đổi này. Các điểm xoay chuyển chính trong chính trị thế giới thường xảy ra vào cuối các cuộc chiến tranh lớn, thường phá hủy hay đập tan những dàn xếp quốc tế tồn tại trước đó. Trong thế kỉ 20, Chiến tranh thế giới lần thứ nhất và thứ hai và Chiến tranh Lạnh đã tạo ra những tách biệt căn bản khỏi quá khứ và khởi động những chuyển biến lớn, mang lại cho các quốc gia sự cần thiết phải suy nghĩ lại những tiền đề nằm sau những lợi ích, mục đích và ưu tiên của họ. Cũng tương tự, nhiều người kết luận rằng cuộc tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 tạo ra một sự chuyển đổi về căn bản trong quan hệ quốc tế. Thực tế, vụ 11/9 có vẻ đã thay đổi mọi thứ: Theo lời Tổng thống Mỹ George W. Bush, “Màn đêm buông xuống một thế giới khác.”Bất chấp mọi thứ có vẻ đã khác rất nhiều kể từ vụ tấn công khủng bố ngày 11/9, nhiều thứ vẫn giữa nguyên trong chính trị thế giới. Như William Dobson (2006, 23), thư ký tòa soạn của tạp chí Foreign Affairs, đã nói: “Điều đáng nói là thế giới đã thay đổi rất ít.” “Các lực lượng lớn của thương mại quốc tế và toàn cầu hóa gần như không bị ảnh hưởng bởi cuộc tấn công,” nhà sử học Juan Cole bổ sung (2006, 26). “Sự trỗi dậy của Trung Quốc với tư cách là một người khổng lồ về kinh tế vẫn tiếp diễn, với nhiều hệ lụy về kinh tế, ngoại giao, và quân sự.” Các điểm nóng kéo dài hàng thập kỉ vẫn tồn tại, bao gồm cả xung đột giữa Ấn Độ và Pakistan, Bắc Triều Tiên và Mỹ, Israel và các du kích ở Nam Li-băng cũng như lãnh thổ Palestine. Cole kết luận “Với tất cả thực tiễn đã diễn ra, vụ tấn công 11/9 đã không đụng chạm đến nhiều lực lượng nền tảng và những căng thẳng dai dẳng định hình nên chính trị quốc tế.”

Chúng ta thường kì vọng các sự kiện kịch tính thay đổi cuộc đời của chúng ta mãi mãi và sau đó ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng có những phần nhất định từ trong quá khứ lại tái xuất hiện. Do những thay đổi bất chợt diễn ra trên thế giới song song với những tiếp nối lâu dài, đây là những khoảng thời gian không chắc chắn. Bởi vì một vài khía cạnh trong tương lai có khả năng sẽ lặp lại quá khứ, việc khẳng định rằng một sự chuyển đổi lớn trong chính trị thế giới đang diễn ra đòi hỏi chúng ta phải xác định xem cái gì tạo nên một trật tự thế giới mới.

Làm sao chúng ta có thể xác định khi nào thì một hình mẫu quan hệ đang tồn tại nhường chỗ cho một hệ thống quốc tế hoàn toàn mới? Sử dụng quan điểm của nhiều học giả đã vật lộn với những tiêu chuẩn để xác định sự thay đổi hệ thống (Hoffmann 1961; Burns 1968; Gilpin 1981; Rosenau 1990), chúng tôi sẽ tiếp tục bằng cách mặc định rằng chúng ta có một hệ thống quốc tế mới khi chúng ta có một câu trả trời lời mới cho một trong ba câu hỏi sau: (1) Các đơn vị cơ bản trong hệ thống là gì? (ví dụ, đế chế, quốc gia – dân tộc, hay một dạng chủ thể quốc tế nào đó); (2) Mục tiêu chính sách đối ngoại chủ yếu mà những đơn vị này tìm kiếm đối với các đơn vị khác là gì? (ví dụ, xâm chiếm lãnh thổ, giành được lợi ích vật chất thông qua thương mại); và (3) Những đơn vị này có thể tác động gì tới các đơn vị khác với năng lực quân sự và kinh tế của chúng?

Liệu những tiêu chuẩn này có dẫn chúng ta tới kết luận rằng một hệ thống mới đã nảy sinh? Đầu tiên, mặc dù các quốc gia vẫn là chủ thể chính trên đấu trường thế giới, chúng không còn là các chủ thể duy nhất nữa. Theo Richard Haass (2008, 45), cựu thành viên cấp cao của Ủy ban An ninh Quốc gia Mỹ, “các quốc gia đang bị thách thức từ bên trên, bởi các tổ chức khu vực và toàn cầu; từ bên dưới, bởi dân quân, và từ bên cạnh, bởi nhiều tổ chức phi chính phủ.” Ví dụ, Tổ chức Thương mại Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế hiện nay thỉnh thoảng lại thể hiện quyền lực chính trị của họ trong cuộc tranh giành với các quốc gia cá thể, tương tự là những nhóm từ Hezbollah và Taliban tới Tổ chức Hòa bình xanh và Bác sĩ không biên giới. Hệ thống quốc tế ngày nay, nói cách khác, bao gồm không chỉ các quốc gia lãnh thổ có chủ quyền mà còn bao gồm một mạng lưới tương tác phức tạp giữa các quốc gia, các thể chế quốc tế và các chủ thể phi quốc gia khác.[4]

Thứ hai, mặc dù cuộc cạnh tranh giành các nguồn tài nguyên vẫn tiếp diễn, như có thể được nhìn thấy trong cuộc tranh chấp giữa Trung Quốc và Nhật Bản về các mỏ dầu khí ở biển Hoa Đông, xâm chiếm lãnh thổ không còn là mục tiêu chủ chốt trong chính sách đối ngoại của phần lớn quốc gia. Thay vào đó, trọng tâm của chúng đã chuyển từ các phương pháp thực thi ảnh hưởng quân sự truyền thống sang các biện pháp kinh tế. Trong khi đó, cuộc cạnh tranh về ý thức hệ của Chiến tranh Lạnh giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản không còn là sự chia rẽ căn bản trong chính trị quốc tế nữa, và một trục mới vẫn chưa hình thành rõ ràng.

Thứ ba, sự phổ biến các loại vũ khí chết người đã thay đổi sức phá hủy mà một quốc gia có thể giáng lên quốc gia khác. Không chỉ mình các cường quốc kiểm soát các vũ khí đáng sợ nhất của thế giới nữa. Đáng sợ hơn, một nhóm người cuồng tín nhỏ và hoạt động ngầm không còn cần đến các vũ khí tiên tiến mới có thể tạo ra các sự tàn phá kinh khủng. Sự khéo léo và dao gấp rọc giấy đã giúp bọn khủng bố giết hàng ngàn người trong vụ ngày 11/9.

Những thay đổi về loại đơn vị (hay chủ thể), mục tiêu và năng lực trong những năm gần đây đã thay đổi ghê gớm xếp hạng sức mạnh của các chủ thể quốc gia và phi quốc gia trên trường quốc tế. Tất nhiên, cấu trúc thứ bậc vẫn tồn tại. Thứ bậc kinh tế tách rời kẻ giàu và kẻ nghèo, thứ bậc chính trị tách biệt những người cai trị với những kẻ bị trị, thứ bậc tài nguyên làm một số trở thành nhà cung cấp và số khác phải phụ thuộc, và thứ bậc quân sự đẩy các nước mạnh chống lại các nước yếu. Tất cả vẫn định hình quan hệ giữa các quốc gia, như trong quá khứ. Tương tự, sự thiếu vắng các thể chế để quản lý toàn cầu cùng với tình trạng mất an ninh quốc gia thường xuyên khuyến khích việc sử dụng sức mạnh mà không có sự ủy nhiệm quốc tế. Do đó những thay đổi và tiếp nối cùng tồn tại, với cả hai lực lượng cùng lúc định hình nền chính trị thế giới đương đại.

Thách thức, do vậy, là làm sao quan sát các thực tiễn toàn cầu hiện nay một cách cẩn thận nhằm mô tả và giải thích đặc điểm của chúng. Điều này đòi hỏi chúng ta phải hiểu xem hình ảnh về hiện thực của chúng ta đã định hình kì vọng của chúng ta ra sao. Nó cũng đòi hỏi một loạt công cụ để phân tích các lực lượng giữ nguyên và thay đổi có ảnh hưởng đến thế giới của chúng ta. Do đó, phần còn lại của chương này sẽ xem xét sơ lược vai trò của hình ảnh của thực tế trong việc thấu hiểu chính trị thế giới, và sau đó sẽ mô tả một vài công cụ mà chúng ta sử dụng trong quyển sách này để lý giải các xu hướng và thay đổi trong chính trị thế giới.

Nhận thức ảnh hưởng như thế nào đến hình ảnh về hiện thực

Tất cả chúng ta đều có những hình ảnh trong tâm tưởng về chính trị thế giới – công khai hay ngấm ngầm, vô thức hay có ý thức. Nhưng dù chúng ta có tự nhận thức được ở mức độ nào, thì hình ảnh của chúng ta cũng đơn giản hóa “hiện thực” bằng cách phóng đại một vài đặc điểm của môi trường xung quanh trong khi phớt lờ những đặc điểm khác. Do đó chúng ta sống trong một thế giới được định dạng bởi kì vọng và hình ảnh của chúng ta.

Những bức tranh tinh thần, hay các nhận thức này, không tránh khỏi bóp méo sự thật, bởi vì chúng không thể nắm bắt đầy đủ sự phức tạp và hình dạng của ngay cả các vật thể vật lý, như bản thân địa cầu (xem phần Tranh luận: Liệu chúng ta có nên tin những gì mình nhìn thấy?)

Nhiều hình ảnh của chúng ta về chính trị thế giới được xây dựng dựa trên những ảo tưởng và nhận thức sai lầm. Và kể cả những hình ảnh hiện nay chính xác cũng dễ dàng trở nên lỗi thời nếu chúng ta không thể nhận ra những thay đổi trên thế giới. Thực tế, tương lai của thế giới sẽ bị quyết định không chỉ bởi những thay đổi đối với các thực tế “khách quan” trong chính trị thế giới mà còn theo nghĩa rằng con người tin vào các thực tế đó, tức những nhận thức mà họ dựa vào đó để lý giải, và hành động theo sau những nhận định và sự lý giải đó – cho dù những nhận thức đó chính xác hay không chính xác đến đâu.

Bản chất và nguồn gốc của các hình ảnh

Nỗ lực đơn giản hóa quan điểm của con người về thế giới là không thể tránh khỏi, và thậm chí còn cần thiết. Giống như người vẽ bản đồ dự định đơn giản hóa các khoảng không gian địa vật lý phức tạp để chúng ta có thể hiểu rõ hơn về thế giới, mỗi người chúng ta không tránh khỏi tạo ra một “bản đồ tinh thần” – một cách thường gặp trong việc sắp xếp thông tin – để làm cho một khối thông tin rối loạn trở nên có ý nghĩa, dễ hiểu. Mặc dù các bản đồ tinh thần này không đúng hay sai một cách cố hữu, chúng lại rất quan trọng bởi vì chúng ta có xu hướng phản ứng theo cách mà chúng ta nhìn nhận thế giới hơn là theo bản chất thực sự của thế giới đó. Các lãnh đạo chính trị cũng đi theo xu hướng này (Kirkpatrick 2007). Như nhà tâm lý học chính trị Richard Ned Lebow (1981) đã cảnh báo, “Những người hoạch định chính sách có xu hướng bóp méo sự thực phù hợp với nhu cầu của họ ngay cả trong những tình huống tỏ ra …tương đối rõ ràng.”

Phần lớn chúng ta – bao gồm cả những người hoạch định chính sách – tìm kiếm thông tin củng cố niềm tin vốn có của mình về thế giới, đồng hóa những dữ liệu mới vào những hình ảnh quen thuộc, và sai lầm khi đánh đồng những gì chúng ta tin với những gì chúng ta biết, và chối bỏ những thông tin mâu thuẫn với kì vọng của chúng ta. Chúng ta cũng dựa vào trực giác của mình và đưa ra những phán xét tức thời về nhiều vấn đề quan trọng (Gladwell 2005). Nghiên cứu về tâm lý học nhận thức gợi ý rằng con người là “những người phân loại” cố gắng hiểu thế giới bằng cách đối chiếu những gì họ thấy với những hình ảnh trong trí nhớ về những sự kiện và con người nguyên mẫu – một quá trình mà các nhà tâm lý học gọi là lập luận theo khuôn mẫu[5] (Larson 1994). Giáo sư thì đãng trí, luật sư thì không trung thực, còn bà thì tốt bụng là những ví dụ về các hình ảnh “dự trữ” mà nhiều người trong chúng ta có về các dạng người cụ thể. Mặc dù các giáo sư, luật sư và người bà mà chúng ta gặp có thể chỉ giống rất ít với những hình ảnh nguyên mẫu ấy, khi chúng ta biết ít về ai đó, kì vọng của chúng ta sẽ bị định hình bởi những điểm tương đồng được chúng ta mặc định về những nhân vật này.

TRANH LUẬN: Liệu chúng ta có nên tin vào cái mình nhìn thấy? Tổ chức Quan sát và Dự đoán về Thực tiễn Toàn cầu

Nhiều người mặc định rằng “nhìn thấy là tin tưởng” mà không cần đặt vấn đề liệu quan niệm của họ có đúng không. Nhưng liệu có gì nữa cần nhìn nhận ngoài những gì mắt thấy? Khi nhìn vào thế giới, liệu chúng ta có nhìn nhận nó bằng những cách có thể sai lệch? Các sinh viên ngành tâm lý học về nhận thức nghĩ như vậy. Họ giữ quan điểm rằng nhìn thấy không phải là một hành động hoàn toàn thụ động: Cái chúng ta quan sát được bị ảnh hưởng một phần bởi những giá trị và kì vọng có sẵn của chúng ta. Hai người quan sát cùng nhìn vào một vật có thể dễ dàng nhận thức những thực tiễn khác nhau. Để minh họa điều này, các nhà tâm lý học về nhận thức thích thú trình bày bức vẽ này, vốn dựa vào cách mà người xem nhìn vào nó, nó có thể được nhìn là một cái ly hay là hai gương mặt đối diện nhau. Nguyên tắc này có tầm quan trọng lớn đối với những sinh viên học chính trị thế giới. Phụ thuộc vào quan điểm của một người, người ta có thể có sự khác biệt rất lớn về cách họ nhìn nhận các sự kiện, chủ thể và vấn đề quốc tế. Để hiểu được sự khác biệt xuất phát từ thực tế rằng những người khác nhau có thể dễ dàng nhìn thấy những thực tế khác nhau khi họ cùng nhìn vào một thứ, hãy cân nhắc một thứ căn bản như là nhìn nhận một cách khách quan về vị trí và kích cỡ của các lục địa trên thế giới. Đã tồn tại sự bất đồng từ lâu giữa những người vẽ bản đồ về cách vẽ bản đồ địa cầu “đúng đắn”, đó là, làm sao để có thể vẽ được chính xác về bề mặt Trái đất. Mọi bản đồ về địa cầu đều có sự sai lệch, bởi vì không thể thể hiện địa cầu ba chiều một cách hoàn hảo trên giấy hai mặt. Khó khăn mà những người vẽ bản đồ phải đối mặt có thể được nhìn nhận bằng cách cố gắng trải phẳng một cái vỏ cam. Bạn chỉ có thể trải phẳng nó bằng cách tách từng phần của vỏ vốn dính liền nhau ở dạng hình cầu. Những người vẽ bản đồ nào cố gắng làm phẳng địa cầu trên giấy, mà không “xé lẻ nó” thành những phần riêng rẽ, cũng gặp vấn đề tương tự. Mặc dù có nhiều cách để thể hiện một vật thể ba chiều trên giấy, tất cả những việc này đều dẫn đến một dạng sai lệch nào đấy. Do đó những người vẽ bản đồ phải chọn trong số các cách thể hiện địa cầu không hoàn hảo bằng cách chọn ra những khía cạnh của địa lý thế giới mà họ cho là quan trọng nhất để mô tả một cách chính xác, trong khi có sửa đổi những phần khác.Ý kiến của những người vẽ bản đồ về cái gì là quan trọng nhất trong địa lý thế giới thay đổi phụ thuộc vào quan điểm toàn cầu của bản thân họ, hay phụ thuộc vào quan điểm của những cá nhân hay tổ chức mà bản đồ này được tạo ra (Xem Klinghoffer 2006). Ba bản đồ dưới đây (Bản đồ 1.1, 1.2, 1.3) mô tả sự phân bố bề mặt đất liền của trái đất, nhưng mỗi bản đồ lại mô tả một hình ảnh khác nhau. Mỗi bản đồ là một hình mẫu của hiện thực, một hình ảnh trừu tượng nhấn mạnh một vài đặc điểm của địa cầu trong khi bỏ qua những đặc điểm khác. Một bản đồ nhấn mạnh cái gì sẽ có ý nghĩa quan trọng về chính trị bởi vì nó định hình cách người ta nhìn nhận cái gì là quan trọng. Khi xem xét ba cách nhìn nhận và lý giải địa cầu này, bạn hãy đánh giá cách vẽ nào mà bạn cho là tốt nhất. Đặc điểm nào của thực tiễn toàn cầu đáng nhấn mạnh nhất để tạo ra một hình ảnh chính xác? Câu trả lời của bạn thể hiện giá trị và quan điểm của bạn về thế giới như thế nào?

Bản đồ 1.1 Phép chiếu Mercator

Phép chiếu Mercator, phổ biến ở châu Âu thế kỉ 16, là quan điểm châu Âu cổ điển về thế giới. Nó chỉ hướng chính xác, làm cho bản đồ này rất hữu ích trong định hướng, nhưng lại đặt châu Âu vào trung tâm thế giới và phóng đại tầm quan trọng của lục địa này so với các lục địa khác. Châu Âu có vẻ lớn hơn Nam Mỹ, vốn gấp đôi kích cỡ của châu Âu, và 2/3 bản đồ được sử dụng để mô tả nửa phía bắc của thế giới và chỉ 1/3 là dành cho nửa phía nam. Bởi vì các đường kinh tuyến được trình bày song song thay vì hội tụ, nó cũng phóng đại quá nhiều kích cỡ của Greenland và Bắc Băng Dương.

Bản đồ 1.2 Phép chiếu Peter

Trong phép chiếu Peter, mỗi vùng đất có vẻ là có có tỉ lệ đúng trong tương quan với các phần khác, nhưng nó lại bóp méo hình dạng và vị trí các vùng đất. Trái ngược với phần lớn các cách trình bày địa lý khác, nó thu hút sự chú ý vào các nước châu Phi, châu Á và Mỹ Latinh nơi có hơn 3/4 dân số thế giới sinh sống.

Bản đồ 1.3 Phép chiếu trực giao

Phép chiếu trực giao, tập trung vào trung tâm Đại Tây Dương, chuyển tải được cảm nhận về độ cong của Trái đất thông qua việc sử dụng đường viền hình tròn. Kích cỡ và hình dạng các lục địa ở phía đường rìa của vòng tròn bị sai lệch để tạo cảm giác về mặt cầu.

Sự thiên vị khi quy kết[6] cũng tô màu cho những hình ảnh mà chúng ta có về bản thân và những người khác. Khi giải thích hành động của mình, đặc biệt là khi ai đó nghi ngờ về tính đúng đắn của những cái chúng ta đã làm, phần lớn chúng ta nhấn mạnh vào sự đưa đẩy của hoàn cảnh bên ngoài (“Tôi làm việc đó bởi vì hoàn cảnh cho thấy việc ấy cần thiết; tôi không còn lựa chọn nào khác.”) Tuy nhiên, khi kẻ thù hành động tương tự, nhìn chung chúng ta sẽ quy kết hành động của họ là do sự khiếm khuyết trong tính cách của họ (“Họ làm việc đó vì bản chất thủ đoạn của họ.”) Nói cách khác, chúng ta nhấn mạnh tầm quan trọng của ảnh hưởng tình huống tới cái chúng ta làm trong khi chú trọng vào tầm quan trọng của những ảnh hưởng tính cách tới những gì người khác làm (L. Ross 1977).

Nhiều yếu tố định hình hình ảnh của chúng ta, bao gồm cách chúng ta tiếp xúc với xã hội khi còn nhỏ, các sự kiện đau buồn mà chúng ta có thể đã trải qua khi trưởng thành, và sự tiếp cận với những ý tưởng của những người mà chúng ta ngưỡng mộ chuyên môn của họ (Jervis 1976). Một khi chúng ta đã đạt được một hình ảnh, hình ảnh đó có vẻ là đương nhiên, đúng đắn. Theo đó, chúng ta cố gắng giữ cho nó tương hợp với những niềm tin khác của chúng ta, và qua một quá trình được gọi là sự xung đột về nhận thức[7] (Festinger 1957), chúng ta loại bỏ các thông tin mâu thuẫn với cách mà nó miêu tả thế giới. Nói ngắn gọn, tâm trí của chúng ta lựa chọn, sàng lọc thông tin; kết quả là quan niệm của chúng ta phụ thuộc không chỉ vào cái gì xảy ra trong đời sống hàng ngày mà còn vào cách chúng ta lý giải và tiếp thu những sự kiện đó.

Tất nhiên, sự chấp nhận những điều mập mờ và tiếp thu các cách nghĩ mới ở các cá nhân là khác nhau. Một số người có khả năng tốt hơn những người khác trong việc thay đổi các thói quen nhận thức và tiếp nhận thông tin mới. Tuy nhiên, ở một mức nào đó, tất cả chúng ta đều là tù nhân của những quan niệm của chính mình.

Vai trò của các hình ảnh trong chính trị thế giới

Chúng ta phải cẩn thận để không tự động mặc nhận rằng điều gì áp dụng với cá nhân cũng áp dụng với cả quốc gia, và chúng ta không nên đánh đồng niềm tin của lãnh đạo quốc gia với niềm tin của những người sống dưới quyền họ. Tuy nhiên, lãnh đạo lại có ảnh hưởng lớn, và nhận thức của lãnh đạo về hoàn cảnh lịch sử thường dẫn dắt họ cư xử với người khác theo những cách cụ thể, bất chấp thực tế “khách quan”. Ví dụ, sự thiệt mạng của 26 triệu người Liên Xô trong “Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại” (là cách người Nga dùng để nói về Chiến tranh thế giới lần thứ hai) củng cố một nỗi sợ lâu dài đối với ngoại xâm, khiến cho cả một thế hệ nhà hoạch định chính sách Liên Xô nhìn nhận những động thái quân sự của Mỹ đầy nghi kị và cảnh giác.

Bởi vì các lãnh đạo và người dân thường có xu hướng phớt lờ hay diễn dịch lại các thông tin đi ngược với niềm tin của họ, sự hiểu lầm lẫn nhau càng làm trầm trọng thêm những xung đột có nguồn gốc từ sự khác biệt về lợi ích và giá trị. Mặc dù mức độ hiểu nhầm có thể không giống nhau ở hai bên xung đột và một bên có thể có thể giữ định kiến của họ dai dẳng hơn so với bên kia, sự thiếu tin tưởng và nghi ngờ vẫn gia tăng khi các bên xung đột nhìn nhận bên kia một cách tiêu cực. Hiện tượng được gọi là hình ảnh qua gương[8] này xảy ra ở Matxcơva và Washington trong Chiến tranh Lạnh. Mỗi bên tự thấy hành động của mình là mang tính xây dựng và phản ứng của đối thủ là mang tính thù địch, và cả hai bên đều nhận định sai lầm rằng bên kia sẽ hiểu các sáng kiến chính sách (của mình) như đã được dự định. Ví dụ, khi nhà tâm lý học Urie Bronfenbenner (1961) tới Matxcơva, ông rất ngạc nhiên khi thấy người Nga mô tả người Mỹ bằng những từ ngữ cực kì giống với cách người Mỹ mô tả Liên Xô: Mỗi bên tự thấy mình đạo đức và yêu hòa bình trong khi bên kia được xem là không thành thật và hiếu chiến. Kể từ đó, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng về những hình ảnh đối lập trắng-và-đen rõ ràng mà những đối thủ lưu giữ trong nhiều xung đột quốc tế khác, bao gồm xung đột Ấn Độ – Pakistan và Ả-rập – Israel (Stoessinger 1993, 111-135; R. White 1977). Trong những tình huống đó việc giải quyết xung đột là cực kì khó khăn. Không chỉ các bên đối lập có sự thiên vị đối với các kết quả nhất định so với các kết quả khác, mà họ còn không nhìn nhận các vấn đề bên dưới theo cùng một cách. Các vấn đề càng phức tạp hơn khi hình ảnh qua gương của các bên thù địch có xu hướng tự củng cố. Khi một bên cho là bên kia thù địch, họ cư xử với đối thủ của họ theo một cách làm đối thủ của họ có hành động đáp trả tương ứng khẳng định giả định ban đầu, do vậy tạo nên một vòng tròn luẩn quẩn của sự thù địch ngày càng sâu sắc, khiến làm giảm triển vọng hòa bình (M. Deutsche 1986; Sen 2006). Việc làm sáng tỏ các hiểu nhầm lẫn nhau có thể thúc đẩy đàm phán giữa hai bên, nhưng xóa bỏ những quan điểm lệch lạc về nhau của các bên thù địch sẽ không tự động xóa bỏ mục đích thực sự trái ngược nhau và xung đột về lợi ích đã chia rẽ họ (xem Áp dụng: nhìn nhận thế giới qua con mắt bên ngoài).

ÁP DỤNG: Nhìn nhận thế giới qua con mắt bên ngoài

Một vấn đề liên tục xảy ra trong lĩnh vực quan hệ quốc tế liên quan đến mối quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn. Các lý thuyết về chính trị thế giới phù hợp với thực tiễn quản lý nhà nước tới mức độ nào? Các lý thuyết do cộng đồng học thuật đưa ra giúp ích cho những người hoạt động thực tiễn trong việc định hình và thực hiện chính sách đối ngoại như thế nào?Trong chương này chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn về một vài quan niệm lý thuyết mà các học giả sử dụng để mô tả vai trò của nhận thức trong chính trị thế giới. Nghiên cứu tâm lý về nhận thức của con người cho thấy rằng niềm tin và kì vọng của chúng ta ảnh hưởng đến những gì chúng ta nhìn thấy, và rằng nhiều người không thể tưởng tượng nổi làm sao mà những người khác có thể nhìn nhận thế giới theo những cách khác. Gắn chặt với những mối quan tâm và nhu cầu bản thân, họ đã đánh giá quá cao sự chính xác trong cái nhìn về thế giới của mình và lý giải sai lầm các đặc điểm, dự định và năng lực của người khác. Theo Dennis Ross, cựu phái viên Trung Đông và nhà đàm phán hòa bình trong nhiệm kì của tổng thống George H. W. Bush và Bill Clinton, hiểu một nhận thức của bên kia là điều quan trọng trong việc tiến hành đàm phán quốc tế thành công. Ông lập luận rằng việc biết cái mà các bên khác coi trọng cũng như những điều họ lo sợ, những áp lực sẽ khiến quan điểm mặc cả của họ trở nên cứng rắn hoặc mềm mỏng hơn là rất quan trọng. Trong phần trích dẫn dưới dây, Ross mô tả cách hỏi những câu hỏi mang tính thăm dò cũng như lắng nghe cẩn thận câu trả lời của bên kia đã giúp ông trong quá trình đàm phán kiểm soát vũ khí với Liên Xô và Liên bang Nga như thế nào.Với Liên Xô lúc ban đầu và sau đó là người Nga, tôi có những cuộc trao đổi dài với Sergei Tarasenko và Yuri Mamedov, những người phụ tá chủ chốt của các ngoại trưởng lúc đó là Eduard Shevardnadze và Andrei Kosyrev. Trao đổi với họ làm hé lộ một lượng lớn những gì có thể và không thể thực hiện được đối với kiểm soát vũ khí – không nhất thiết là tôi đã đào bới thông tin từ họ, mà vì tôi hỏi những câu hỏi chuyển tải sự quan tâm đối với việc cố gắng hiểu được những hoàn cảnh rộng hơn mà họ phải tuân thủ.

Ví dụ, đôi khi tôi hỏi những câu hỏi về việc cải tổ thực sự khả thi đến đâu. Thường thì, nó dẫn đến những cuộc tranh luận về sự suy yếu và tình trạng bất ổn ở Liên Xô, những người ủng hộ và phản đối cải tổ ở nhiều cấp độ, lập luận của họ; liệu các hiệp ước kiểm soát vũ khí có phù hợp, và quan điểm của họ về việc chúng tôi và những người khác có thể giúp gì hay gây hại gì cho quá trình cải tổ.

Một thuộc tính thiết yếu đối với bất kì nhà đàm phán nào là phải là người biết lắng nghe. Điều quan trọng là biết khi nào thì nói, nhưng, quan trọng hơn, là khi nào thì lắng nghe. Bạn sẽ không học được gì khi bạn đang nói. Có lẽ bạn sẽ định hình hay đưa ra điều kiện cho các quan điểm, nhưng bạn sẽ không học được gì. Bạn học được khi bạn lắng nghe. Là một người biết lắng nghe chuyển tải một mức độ quan tâm và tôn trọng. Nó thể hiện rằng bạn coi trọng những gì liên quan đến những người bạn đang làm việc cùng. Bạn có khả năng gợi ra nhiều thứ hơn khi bạn chủ động chuyển tải sự tôn trọng và lắng nghe như thế (D. Ross 2007, 191-192).

Lý thuyết và nghiên cứu về quan điểm nhận thức của các lãnh đạo chính trị chỉ ra rằng mỗi chủ thể trên đấu trường quốc tế nhìn nhận thế giới tương đối khác nhau. Các nhà hoạch định chính sách mà phớt lờ những khác biệt đó có thể dễ dàng bỏ qua những dấu hiệu có ý nghĩa từ các đối thủ của họ và không thể nắm bắt được các cơ hội lướt qua để có được các đột phá ngoại giao. Sự cảm thông, nhìn nhận một tình huống từ quan điểm của phía bên kia, do vậy là một kĩ năng đáng quý. Ross kết luận “Một người càng thể hiện được sự thấu hiểu của mình về việc tại sao những người khác lại tin vào cái họ làm, và niềm tin đó đến từ đâu, thì họ càng có cơ hội thành công.”

Như phản ánh của Ross về kinh nghiệm của mình trong các cuộc đàm phán kiểm soát vũ khí cho thấy, ranh giới giữa lý thuyết và kỹ năng ngoại giao có thể hòa trộn vào nhau. Kiến thức về lý thuyết không những phù hợp với việc hoạch định chính sách, mà những nhà hoạch định chính sách còn tận dụng nó, dù có ý thức về việc đó hay không (George 1993, 135).

Mặc dù hình ảnh (hay nhận thức) của chúng ta về chính trị thế giới khá ổn định, thay đổi vẫn có thể xảy ra. Việc vượt qua những thói quen tư duy cũ kĩ đôi khi sẽ xảy ra khi chúng ta trải nghiệm sự không hài lòng cực kì lớn do bám lấy một nhận định sai lầm. Như Benjamin Franklin đã từng nhận định, “Những thứ gây tổn thương sẽ đưa ra chỉ dẫn.” Đặc biệt, các sự kiện kịch tính đôi khi có thể thay đổi hoàn toàn các hình ảnh quốc tế. Ví dụ, chiến tranh Việt Nam đã khiến nhiều người Mỹ thay đổi quan điểm của mình về việc sử dụng sức mạnh trong nền chính trị thế giới đương đại. Khi chúng ta dự đoán về tương lai toàn cầu, chúng ta cần phải suy nghĩ một cách phê phán về nền tảng của quan niệm của chúng ta. Chúng có đúng không? Chúng có dựa trên đầy đủ thông tin không? Liệu chúng có thể được điều chỉnh để giành được sự hiểu biết lớn hơn về những người khác không?

Nghi vấn chính hình ảnh của mình là một trong những thách thức quan trọng nhất mà chúng ta phải đối mặt khi phân tích chính trị thế giới. Một mục đích của cuốn sách này là để giúp bạn nuôi dưỡng một thái độ phê phán với niềm tin của mình về quan hệ quốc tế. Vì mục đích đó, chúng tôi sẽ đề nghị bạn đánh giá các quan điểm trái ngược nhau về các vấn đề toàn cầu, kể cả khi chúng khác xa quan điểm của bạn. Thực tế, chúng tôi sẽ cho bạn tiếp xúc với những trường phái tư duy đang thịnh hành hiện nay mà có thể bạn không thấy thuyết phục, và có thể bạn không thích. Tại sao lại thêm cả chúng vào? Bởi vì nhiều người khác lại dùng những quan điểm này làm nền tảng cho cách nhìn thế giới của họ. Suy nghĩ một cách phê phán trong lĩnh vực quan hệ quốc tế kéo theo việc chống lại những thiên vị và nhận định của bản thân mỗi người, cũng như thừa nhận rằng sự thiên lệch trong tư duy của những người khác có thể dẫn đến việc họ nhìn nhận và lý giải các sự kiện theo những cách mà từ quan điểm của cá nhân bạn là rất kì cục.

Biên dịch: Phạm Trang Nhung | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

[1] Quốc gia (state): một thực thể chính trị có tổ chức với dân số thường trực, một lãnh thổ xác định, và một chính quyền.

[2] Chính trị (politics): việc thực thi ảnh hưởng của các cá nhân và nhóm cạnh tranh nhau để ảnh hưởng đến việc phân bổ các giá trị và sự phân chia các nguồn lực; theo lời nhà khoa học chính trị Harold Lasswell, thì đó là quá trình xác định “ai được cái gì, khi nào, như thế nào và tại sao.”

[3] Hệ thống (system): một chuỗi các bộ phận có liên hệ với nhau vận hành như một tổng thể thống nhất. Trong chính trị thế giới, các bộ phận chủ yếu gồm các quốc gia, các công ty và các tổ chức khác vốn tương tác lẫn nhau trên đấu trường toàn cầu.

[4] Chủ thể phi quốc gia (non-state actors): mọi nhóm hành động xuyên quốc gia mà không phải là quốc gia, như là các tổ chức quốc tế mà thành viên là các quốc gia (IGOs) và các tổ chức phi chính phủ (NGOs) mà thành viên là các cá nhân và các nhóm tư nhân có thành viên đến từ nhiều hơn một quốc gia.

[5] Lập luận theo nguyên mẫu (schematic reasoning): một quá trình mà các thông tin mới được lý giải bằng cách so sánh nó với các khái niệm chung đã lưu sẵn trong trí nhớ về một tình huống, chuỗi sự kiện và nhân vật theo khuôn mẫu cụ thể.

[6] Sự thiên vị khi quy kết (attribution biases): xu hướng nhấn mạnh các yếu tố tình huống khi giải thích hành vi của bản thân ai đó trong khi nhấn mạnh những yếu tố tính cách khi giải thích hành vi tương tự của người khác.

[7] Sự xung đột về nhận thức (cognitive dissonance): xu hướng tâm lý từ chối hay không hợp lý hóa những sự khác biệt giữa niềm tin vốn có của một người với những thông tin mới.

[8] Hình ảnh qua gương (mirror image): xu hướng mà người ta khi tương tác cạnh tranh nhìn nhận đối phương tương tự nhau – tức nhìn nhận kẻ thù theo cùng một cách mà kẻ thù nhìn nhận họ.


Xem online : Download toàn bộ