Xem lẹ

Trang nhà > Sử­ sách > Danh nhân > Trần Nguyên Hãn (1390-1429)

Trần Nguyên Hãn (1390-1429)

Thứ Hai 5, Tháng Tư 2010

Đền thờ Trần Nguyên Hãn ở xóm Đa Cai, xã Sơn Đông, Huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Ảnh: baotonditich.vn

Trần Nguyên Hãn sinh ngày 1 tháng 2 năm Canh Ngọ (1390), quê ở Lập Thạch, trấn Sơn Tây (nay thuộc xóm Đa Cai, xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc), là tôn thất nhà Trần, cháu 7 đời của Thái sư Trần Quang Khải, cháu nội của Đại tư đồ Trần Nguyên Đán, là bà con bên ngoại với Nguyễn Trãi.

Khi đất nước bị quân Minh xâm lược và thống trị, Trần Nguyên Hãn ôm mộng đánh đuổi quân giặc, giành lại bờ cõi của quốc gia. Sau thời gian dài vừa hành nghề bán dầu vừa rèn luyện bản thân và tìm kiếm minh chủ, năm 1423 Trần Nguyên Hãn đã cùng Nguyễn Trãi về đầu quân Lê Lợi. Lúc đầu, Trần Nguyên Hãn chưa được tin dùng, nhưng về sau nhờ có thực tài, nên được Lê Lợi cất nhắc lên chức Tư đồ, và ông đã cùng với nghĩa quân Lam Sơn lần lượt lập được nhiều chiến công vang dội.

Tài thao lược của ông được thể hiện rõ qua nhiều chiến dịch, mà trước hết là khi cùng Thượng tướng Doãn Nỗ và Chấp lệnh Lê Đa Bồ đem 1.000 quân và voi chiến giải phóng Tân Bình - Thuận Hóa vào tháng 7 năm Ất Tỵ (1425). Trong chiến dịch này, sau khi cùng các tướng dùng kế phục binh dụ địch và thắng trận ở Bố Chính, cánh quân của Trần Nguyên Hãn phối hợp với đạo thủy quân gồm 70 thuyền mới tăng viện tiếp tục đánh địch, giải phóng các châu huyện.

Tháng 9 năm Đinh Mùi (1427), Trần Nguyên Hãn bày kế cho nghĩa quân khoét đất đào hầm ngầm từ ngoài vào trong thành để đưa lực lượng vào, rồi tiến hành nội công ngoại kích, dùng tên lửa, súng lửa, câu liêm, giáo dài, nỏ cứng cùng đánh cả 4 mặt thành Xương Giang. Chỉ trong một đêm đánh nhau, toàn bộ giặc trong thành tử thương, Lý Nhậm và Kim Dận phải tự sát, thành Xương Giang bị hạ trước khi Liễu Thăng kéo quân sang.

Thất bại của viện binh ở Xương Giang và bị nghĩa quân Lam Sơn bao vây chặt bằng các chiến lũy chắn ngay cửa Nam và cửa Bắc thành Đông Quan, cùng với 7 bức thư dụ hàng liên tiếp của Nguyễn Trãi tác động; cuối cùng Vương Thông phải chịu "hòa", chấp nhận tổ chức hội thề tuyên bố rút quân về nước.

Do lập được nhiều đại công, có vai vế lớn trong hàng ngũ tướng lĩnh, nên ở Hội thề Đông Quan diễn ra vào ngày 22 tháng 11 năm Đinh Mùi (1427), danh sách những người tham gia hội thề của quân Lam Sơn ghi thứ nhất là Lê Lợi, thứ hai là Trần Nguyên Hãn.

Kháng chiến thành công, vương triều Lê được thiết lập. Ngày 8 tháng 3 năm Mậu Thân (1428) vua Lê Thái Tổ phong Trần Nguyên Hãn làm Tả tướng quốc, cho theo họ vua, và ban cấp cho ông 114 mẫu ruộng. Nhưng hưởng danh lợi chưa được bao lăm, thì Trần Nguyên Hãn xin nghỉ chính sự để về lại quê nhà. Vua Lê chấp thuận cho Nguyên Hãn được nghỉ hưu, nhưng dặn cứ một năm hai lần vào chầu.

Tại quê nhà, Trần Nguyên Hãn vừa tiêu dao ngày tháng, vừa cho xây dựng lại cơ ngơi khang trang, đóng thuyền bè, tuyển tráng binh, tích trữ khí giới và biến Ao Tó thành nơi luyện tập thủy quân để giải khuây. Nhưng việc làm này đã bị một số quan lại trong triều gièm pha, quy kết là lộng hành và có mưu đồ phản nghịch.

Chuyện đến tai, vua Lê ra lệnh mời Trần Nguyên Hãn về triều để hỏi cho ra nhẽ. Ngày 26 tháng 2 năm Kỷ Dậu (1429), khi rời khỏi bến Đông Hồ để về Kinh, Trần Nguyên Hãn đã cho dìm thuyền, tự trầm mình mà chết.

Sau khi Trần Nguyên Hãn tự vẫn, vua Lê cách bỏ chức tước, tịch thu ruộng đất, giám sát chặt chẽ vợ con và các tướng lĩnh thân tín của ông. Mãi đến năm 1455, triều vua Lê Nhân Tông, triều đình mới xét rõ nỗi oan, trả lại ruộng đất, nhà cửa và truy phong là Phúc thần, cho phép con cháu của ông được ra làm quan.

Trần Nguyên Hãn được nhân dân khắp nơi yêu mến, nhiều làng ở Lập Thạch lập đền thờ, trong đó đặc biệt là đền Tả tướng quốc, vốn được xây dựng ngay trên nền khu nhà ở của Trần Nguyên Hãn.

Đời nhà Mạc, Trần Nguyên Hãn được truy phong là Tả tướng quốc, Trung liệt Đại vương. Đến thời Nguyễn, năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), triều đình ban sắc phong cho Trần Nguyên Hãn là Tuấn hương, Lượng trực Tả tướng quốc Trần phủ quân chi thần.

Bài học dùng người

Công lao của Trần Nguyên Hãn đối với nhà Lê và với non sông đất nước không có gì cần phải bàn cãi; nhưng sự thiếu gắn kết giữa Trần Nguyên Hãn với Lê Lợi sau thắng lợi oai hùng của dân tộc, và nỗi đau mà ông và gia tộc gánh chịu với nhà Lê là một trong những vết đen trong thể chế chính trị của các triều đại phong kiến Việt Nam.

Tại sao vừa mới giành được độc lập, lợi quyền danh vọng chưa hưởng được bao nhiêu, tuổi tác cũng đang còn trẻ khỏe, mà Trần Nguyên Hãn đã vội xin được về hưu? Bản chất của giai thoại cho rằng Trần Nguyên Hãn từng nói riêng với người thân cận là "Nhà vua có tướng như Việt vương Câu Tiễn, cho nên ta không thể yên hưởng vui sướng được" là gì? Không hề có sử liệu đáng tin cậy để đảm bảo lời nói này là có thật; nhưng có những chi tiết rất thật, để có thể hiểu được tâm trạng của Trần Nguyên Hãn.

Thứ nhất, vua Lê đã căn cứ vào việc tham gia khởi nghĩa ở thời điểm sớm hay muộn để phân định chuyện luận công: Những tướng sĩ tham gia từ ngày ở Lũng Nhai, tổng cộng 221 người, được định công trạng và ban thưởng trước vào tháng 2 năm Mậu Thân (1428); còn đại hội các tướng và các quan văn võ để định công ban thưởng đại trà, bất kể là công to đến đâu, thì tổ chức muộn hơn một tháng (Trần Nguyên Hãn nằm trong nhóm sau).

Thứ hai, dù được phong là Tả tướng quốc, chức quan lớn đầu triều, được thừa nhận có công trạng lớn lao; nhưng với 114 mẫu ruộng được cấp, Trần Nguyên Hãn vẫn ở mức rất thấp so với số thân thuộc 221 người được ban thưởng đợt đầu, vì có nhiều người được ban cấp từ 300 đến 500 mẫu, có người từ 500 đến cả 1.000 mẫu.

Những biểu hiện trên cho thấy phải chăng đã xuất hiện tâm lý phân biệt "người nhà-người ngoài", "người cũ-người mới", "đồng hương-đồng hướng", "vùng trong-miền ngoài" trong vương triều mới thành lập? Thậm chí là cả sự nghi kị về lai lịch cá nhân, dòng họ, triều đại khi triều Trần chỉ cách triều Lê một gạch nối ngắn ngủn mấy năm là triều Hồ?

Chỉ có bị vướng những điều như thế, thì một tướng quốc như Trần Nguyên Hãn mới ngán ngẫm sự đời, và không còn chí thú gắn bó việc chính sự với vương triều! Còn vua Lê, thật ra cũng không quá thiết tha giữ Trần Nguyên Hãn ở lại?

Về nguyên nhân cái chết của Trần Nguyên Hãn, đã có nhiều ý kiến cho rằng Trần Nguyên Hãn theo phái ủng hộ Lê Tư Tề là con trưởng của Lê Lợi, trong khi những người khác ủng hộ con thứ là Lê Nguyên Long, nên khi Lê Tư Tề bị ruồng bỏ, Trần Nguyên Hãn không tránh khỏi hậu họa.

Những nguyên nhân khác như Trần Nguyên Hãn cho làm phủ đệ to lớn, đóng thuyền bè, tuyển mộ tráng binh, thao luyện thủy quân... thật ra chỉ là nguyên cớ, không phải nguyên nhân, không thuộc về bản chất sự việc.

Nợ nước đong đầy, trở thành anh hùng của dân tộc; nhưng Trần Nguyên Hãn không thể là một công thần trọn vẹn của triều Lê. Bao nhiêu nghi vấn của lịch sử vẫn còn phủ kín quanh câu chuyện về ông.

Nguyễn Quang Trung Tiến (TVN)