Trang nhà > Khoa học > Không gian > Trung Quốc: Gian truân trên con đường đưa người lên vũ trụ

Trung Quốc: Gian truân trên con đường đưa người lên vũ trụ

Thứ Bảy 7, Tháng Bảy 2012

Ngày 16/6 vừa rồi Trung Quốc phóng thành công tàu vũ trụ Thần Châu 9 đưa 3 nhà du hành vũ trụ (trong đó có một phụ nữ) lên quỹ đạo, sau đó ghép nối thành công với Trạm vũ trụ Thiên Cung-1 được phóng lên từ ngày 29/9/2011. Cả thế giới biết tên tuổi 3 nhà du hành vũ trụ Cảnh Hải Bằng, Lưu Vượng và Lưu Dương (nữ). Nhưng chẳng ai biết tên tuổi hàng nghìn người đã tham gia các thí nghiệm trong hơn 4 thập niên nghiên cứu đưa người lên vũ trụ với biết bao hy sinh thầm lặng, thậm chí hy sinh cả tính mạng.

Lưu Dương

Không lâu sau ngày phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Trung Quốc có tên Đông Phương Hồng 1, tháng 7/1970 các nhà khoa học Trung Quốc gửi lên Trung ương bản báo cáo dự thảo kế hoạch đưa người lên thám hiểm vũ trụ.

Tháng 4/1971, dự án đưa người lên vũ trụ có biệt hiệu Công trình 714 được khởi động toàn diện.

Khi bắt đầu triển khai công tác đào tạo nhà Du hành vũ trụ tương lai, Trung Quốc không hề có chút vốn liếng tư liệu nào và cũng chẳng biết tìm nguồn cung cấp tư liệu từ đâu; vả lại cho dù có mua được tư liệu thì cũng không dám sử dụng. Vì vậy chỉ có thể dùng biện pháp mò mẫm, thử nghiệm mà làm nhằm tìm ra được các số liệu về khả năng chịu đựng về sinh lý-tâm lý của con người khi bay lên vũ trụ. Nói cách khác, phải dùng con người làm đối tượng (vật) thí nghiệm nhằm lấy được các số liệu nghiên cứu xác định tiêu chuẩn của nhà Du hành vũ trụ.

Rõ ràng, đây là một công việc động chạm tới con người, có thể gây nguy hiểm cho cơ thể người được chọn làm đối tượng thí nghiệm.

Đầu tiên cấp trên quyết định lựa chọn người từ các phi công lái máy bay chiến đấu. Nhưng quyết định này không thực hiện được, vì phi công lái máy bay là loại nhân tài cực kỳ quý hiếm, không thể dùng họ làm đối tượng thí nghiệm. Bởi vậy bước đầu đành sử dụng các chiến sĩ quân đội. Nhóm người này chịu khổ nhiều nhất. Sau thời gian được dùng làm đối tượng thí nghiệm để tập luyện và đo thử, lấy các số liệu sinh học, họ đều chịu các tổn thương về cơ thể, cuối cùng được xuất ngũ và ưu tiên bố trí việc làm.

Công tác thí nghiệm vừa mới triển khai thì gặp rắc rối, từ năm 1972 đành phải tạm đình chỉ một thời gian. Đó là do ngày 13/9/1971 xảy ra vụ nguyên soái Lâm Bưu đào tẩu và máy bay chở ông ta bị rơi trên đất Mông Cổ.

Cơ quan chỉ huy Công trình 714 đặt tại Học viện Chỉ huy Không quân, mà con số 714 đọc lên [qi yi si] lại có thể hiểu nhầm là Khởi Nghĩa Sự [âm đọc là qi yi shi] tức Công tác khởi nghĩa. Sau này mọi người mới biết rắc rối của sự kiện động trời ấy: Phó Chủ tịch Đảng Lâm Bưu, nhân vật được Chủ tịch Mao chọn làm người kế vị, cùng con trai là Lâm Lập Quả, nguyên Trưởng ban Tác chiến Không quân Trung Quốc, lập kế hoạch đảo chính vũ trang có tên “Công trình 571” (con số 571 đọc lên có thể hiểu là Vũ Khởi Nghĩa, viết tắt của từ Vũ trang Khởi nghĩa) với nội dung ám sát Chủ tịch Mao và lập ra Trung ương mới. Chỉ vì cái tên gọi đáng ngờ ấy mà công trình 714 bị nghi là có liên quan tới Công trình 571 chống Chủ tịch Mao, cho nên phải tạm dừng.

Khi được phép tiếp tục triển khai dự án, người ta quyết định lấy những người vốn là học viên lái máy bay để làm đối tượng thí nghiệm. Tất cả khoảng ba chục người được lựa chọn từ 200 học viên trường lái tàu lượn Thiên Tân.

Tiêu chuẩn chọn là lý lịch trong sạch, sức khoẻ tốt, thành tích học tập giỏi. Họ được triệu tập dưới danh nghĩa làm nhiệm vụ đặc biệt, sau khi tập trung tại Bắc Kinh mới biết nhiệm vụ cụ thể là thực hiện trọn một vòng luyện tập làm nhà Du hành vũ trụ.
Việc tiến hành các thí nghiệm trên cơ thể người khiến các đối tượng thí nghiệm phải chịu đựng cực nhiều gian khổ. Số lượng thí nghiệm lên tới cả nghìn lượt người. Quá trình thí nghiệm gây tổn hại rất lớn đối với cơ thể họ, bởi lẽ mỗi phương pháp thí nghiệm, biện pháp thực thi cụ thể nhằm tìm ra đâu là giới hạn cuối cùng (cực hạn) mà con người có thể chịu đựng được ... tất cả đều phải lấy từ các thí nghiệm trên cơ thể họ. Sau quá trình thí nghiệm, rất nhiều người bị thủng phổi, võng mạc mắt bị bong ra, cơ thể bị tổn thương do giá lạnh, mắc các bệnh tim mạch. Tất cả các đối tượng thí nghiệm đều nói họ sẵn sàng hy sinh thân mình cho sự nghiệp chinh phục vũ trụ của tổ quốc.

Tổng thời gian làm thí nghiệm là 8 năm. Một số người không chịu đựng nổi đành trút nỗi bực tức lên lũ động vật đáng thương làm thí nghiệm cùng với họ. Chẳng hạn khi làm thí nghiệm về khả năng chịu đựng mức độ lạnh của người và sinh vật, các chiến sĩ phải cùng với chó, khỉ nhảy xuống ngâm mình dưới hố nước đóng băng lạnh giá.

Thực ra những con vật ấy lập công rất lớn trong các thí nghiệm không thể dùng con người. Thí dụ khi thử quả bom nguyên tử đầu tiên, người ta đưa các chú chó ra nơi chịu tác động phóng xạ hạt nhân để sau đó đo xác định lượng phóng xạ cơ thể chúng bị nhiễm. Các con vật làm thí nghiệm đều được lựa chọn kỹ rồi huấn luyện theo bài bản.

Có lần người ta bố trí các đối tượng thực hiện một thí nghiệm: 2 người ngồi 40 ngày liền trong một khoang hẹp tượng trưng cho khoang tàu vũ trụ, không gian dôi ra trên dưới, trái phải chỉ còn 20 cm. Họ phải ăn loại thực phẩm giàu năng lượng dành riêng cho nhà Du hành vũ trụ, thể tích thức ăn mỗi bữa đều rất nhỏ cho nên bụng lúc nào cũng đói kinh khủng (tuy đủ chất dinh dưỡng), họ chỉ thèm được ăn bánh bao và uống nước mát. Chưa kể không gian đóng kín, im lặng như cõi chết, tách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài, gây cảm giác cô đơn rất đáng sợ.

Nhưng chính là nhờ có thí nghiệm đó mà sau này các nhà Du hành vũ trụ bay trên tàu vũ trụ Thần Châu được ăn uống thoải mái. Mọi người đều biết các nhà Du hành vũ trụ Liên Xô đầu tiên phải ăn thức ăn đựng trong ống kiểu như tuýp thuốc đánh răng, khi ăn thì bóp vào miệng. Các đối tượng thí nghiệm Du hành vũ trụ Trung Quốc sướng hơn, không phải ăn như vậy.

Họ phải thử bay trong tình trạng mất trọng lượng trên một chiếc máy bay tiêm kích J-5 đã cải tạo, thời gian mất trọng lượng là 42 giây. Chiếc máy bay này được dùng cho đến sau năm 1978 nhưng không để làm thí nghiệm với con người nữa mà chỉ thí nghiệm máy móc.

Họ còn làm thí nghiệm sử dụng thiết bị cứu sinh vũ trụ, tức thiết bị để nhà Du hành vũ trụ nhảy ra khỏi tàu vũ trụ khi có sự cố. Đối tượng thí nghiệm ngồi trong chiếc ghế đặt trên đường ray trượt, dốc 80 độ, nối lên một ngọn tháp cao hơn 40 m. Khi ấn công tắc là chiếc ghế cùng đối tượng thí nghiệm được phóng theo đường ray bay vút lên cao với tốc độ như đạn bắn. Trong lần thí nghiệm đầu tiên, chiếc quần của đối tượng thí nghiệm bị xé rách tan, anh này hú vía tưởng chết.

Hà Thụy Khanh, nguyên trung đội trưởng Đội Đối tượng thí nghiệm kể lại: trong đợt thí nghiệm về sức chịu đựng, Hà và một người nữa phải ngồi liên tục 40 ngày trong một khoang hẹp của tàu vũ trụ. Mỗi lần bên ngoài phát hiện thấy các chỉ tiêu tâm sinh lý học của hai người có gì không bình thường, người ở bên ngoài lại đọc qua điện thoại “Lời Chủ tịch Mao” để động viên hai đối tượng thí nghiệm kiên trì chịu đựng gian khổ.

Ngồi được một tháng thì người kia không chịu nổi, định tự tử, đành phải cho anh ta ra. 10 ngày cuối cùng một mình Hà ngồi trong đó. Về sau Hà kể lại: Thật ra nhân tố thực sự làm cho anh có thể kiên trì chịu đựng đến cùng đâu phải là Lời Chủ tịch Mao, mà là một cô gái xinh đẹp cùng trung đội, lúc nào anh cũng nghĩ bao giờ hoàn thành thí nghiệm nhất định mình sẽ bày tỏ tình cảm với cô. Quả nhiên cuối cùng Hà đã thực hiện được ước mơ ấy: sau khi thí nghiệm kết thúc được ít lâu, hai người đã thành vợ chồng.

Trong những lần đầu làm thí nghiệm cảm giác khi ở tình trạng mất trọng lượng trên máy bay, mọi người còn chịu được, chứ khi làm trên xe trượt thì không dễ chịu chút nào, mãi sau mới quen. Khó chịu nhất là cảm giác khi ở tình trạng siêu trọng, lúc ấy mặt bị kéo dài ra.

Năm 1987, Trung Quốc tiến hành trao đổi công nghệ Du hành vũ trụ với Nhật, lúc này họ mới biết mình đã đi trước Nhật hơn chục năm. Cái giá phải trả cho bước tiến ấy là sự hy sinh lớn lao của các chiến sĩ hiến dâng thân mình làm đối tượng thí nghiệm trong dự án đào tạo nhà Du hành vũ trụ nói trên.

Hồ Anh Hải (theo tài liệu TQ)